Tổng quan luận án
Đề tài luận án tiến sĩ "Thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường trong các khu công nghiệp từ thực tiễn tỉnh Thanh Hóa" do nghiên cứu sinh Phạm Thị Hoài Thu thực hiện thuộc chuyên ngành Luật Hiến pháp và Luật Hành chính. Công trình nghiên cứu trực diện vấn đề thực thi pháp luật bảo vệ môi trường (BVMT) trong bối cảnh đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế tại Việt Nam.
Tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ mâu thuẫn thực tiễn giữa yêu cầu tăng trưởng kinh tế và đòi hỏi BVMT để bảo đảm phát triển bền vững. Tác giả chỉ rõ, mặc dù Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, văn bản pháp luật quan trọng như Nghị quyết số 41-NQ/TW ngày 15/11/2004 và Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 03/06/2013 của Bộ Chính trị, cùng Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng, thực tế vi phạm pháp luật BVMT tại các khu công nghiệp (KCN) vẫn diễn biến phức tạp. Tính đến hết năm 2018, cả nước có 326 KCN; trong đó nhiều doanh nghiệp sử dụng các thủ đoạn tinh vi, lén lút xả thải chưa qua xử lý ra môi trường hoặc cố tình vi phạm nghiêm trọng (tiêu biểu như các vụ việc tại Công ty Vedan Việt Nam, Công ty Miwon, Công ty Hào Dương, Công ty Giấy Việt Trì, và Formosa Hà Tĩnh với 53 lỗi vi phạm quy định pháp luật về môi trường).
Khoảng trống nghiên cứu được luận án chỉ ra bao gồm những bất cập, thiếu sót trong hệ thống quy định của Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành: quy định còn mang tính chung chung, thiếu tính hệ thống; kẽ hở trong quy định về lập báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM) khiến cơ sở sản xuất lách luật; thiếu cơ chế kiểm soát bắt buộc đấu nối nước thải vào hệ thống xử lý tập trung; thiếu quy định về phí BVMT đối với khí thải; chưa có cơ chế xác định thiệt hại môi trường không khí và môi trường nước; chế tài xử phạt chưa đủ sức răn đe; hệ thống quy chuẩn kỹ thuật môi trường đã lạc hậu so với khu vực và quốc tế. Tại tỉnh Thanh Hóa, công tác tổ chức thực hiện pháp luật BVMT tại các KCN còn bộc lộ nhiều hạn chế, kết quả chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn.
Mục đích nghiên cứu của luận án là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật BVMT trong các KCN trên cả nước và tại tỉnh Thanh Hóa, từ đó đề xuất hệ thống quan điểm và giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật BVMT trong các KCN.
Để đạt được mục đích trên, luận án xác định bốn nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án; thu thập, nhận xét, đánh giá các công trình khoa học đã công bố nhằm xác định những nội dung kế thừa và các vấn đề cần tiếp tục giải quyết.
- Phân tích, khái quát làm sáng tỏ các vấn đề lý luận về thực hiện pháp luật BVMT trong các KCN, bao gồm khái niệm, đặc điểm, vai trò, nội dung, hình thức và các yếu tố, điều kiện bảo đảm thực hiện pháp luật.
- Phân tích, đánh giá thực trạng thực hiện các quy định pháp luật BVMT trong các KCN ở tỉnh Thanh Hóa; chỉ ra ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân của thực trạng.
- Đề xuất các quan điểm và giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật BVMT trong các KCN ở Việt Nam hiện nay từ thực tiễn tỉnh Thanh Hóa.
Câu hỏi nghiên cứu của luận án được chia thành ba nhóm:
- Về lý luận: Khái niệm, đặc điểm, vai trò của thực hiện pháp luật BVMT cần bổ sung những nội dung gì để bao quát toàn bộ chủ thể và nội dung? Nội dung thực hiện bao gồm quy định pháp luật môi trường nói chung hay chỉ các quy định trực tiếp trong KCN? Các điều kiện bảo đảm thực hiện chung và riêng gắn với KCN là gì?
- Về thực trạng: Việc thực hiện pháp luật BVMT trong các KCN ở tỉnh Thanh Hóa có những ưu điểm, hạn chế gì và nguyên nhân tương ứng?
- Về giải pháp: Cần quán triệt những quan điểm có tính nguyên tắc, phương pháp luận nào và cần những giải pháp đồng bộ nào để bảo đảm hiệu quả thực hiện pháp luật BVMT trong các KCN?
Giả thuyết khoa học của luận án khẳng định: Trước bối cảnh các quy định pháp luật BVMT thường xuyên thay đổi và sự phát triển đa dạng của các KCN, việc thực hiện pháp luật đang gặp nhiều rào cản do nhận thức lý luận chưa toàn diện; quy định pháp luật còn bất cập, phân tán; cơ chế kiểm soát của cơ quan nhà nước còn buông lỏng; ý thức trách nhiệm của nhà đầu tư chưa cao; thiếu phương hướng mang tính chiến lược dài hạn và các giải pháp thực thi đồng bộ, đặc thù cho từng mô hình KCN.
Đối tượng nghiên cứu của luận án là những vấn đề lý luận về thực hiện pháp luật BVMT trong các KCN; hệ thống quy định pháp luật BVMT trong các KCN; và thực tiễn thực hiện pháp luật BVMT trong các KCN ở tỉnh Thanh Hóa.
Phạm vi nghiên cứu được xác định:
- Về nội dung: Tập trung vào các vấn đề lý luận, pháp lý và thực tiễn thi hành pháp luật BVMT trong KCN.
- Về không gian: Địa bàn tỉnh Thanh Hóa (trọng tâm là các KCN và Khu kinh tế Nghi Sơn).
- Về thời gian: Khảo sát, thu thập dữ liệu trong khoảng thời gian 5 năm trở lại đây (từ năm 2015 đến thời điểm hoàn thành nghiên cứu).
- Về chủ thể: Các cơ quan quản lý nhà nước (Chính phủ, Bộ Tài nguyên và Môi trường, UBND các cấp tỉnh Thanh Hóa, Sở Tài nguyên và Môi trường, Phòng Tài nguyên và Môi trường, Ban Quản lý Khu kinh tế Nghi Sơn và các KCN tỉnh Thanh Hóa) và các doanh nghiệp hoạt động sản xuất, kinh doanh trong các KCN trên địa bàn tỉnh.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã thực hiện điểm luận toàn diện các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế liên quan đến đề tài, phân chia thành các nhóm nội dung chính:
Nhóm các công trình nghiên cứu lý luận trong nước:
- Nguyễn Thị Hoài Phương (2007) với luận văn "Thực hiện pháp luật môi trường ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay" tiếp cận vấn đề ở phạm vi rộng mang tính khái quát toàn quốc.
- Nguyễn Thị Hường / Nguyễn Thị Thu Hường (2008) với luận văn "Thực hiện pháp luật môi trường ở tỉnh Nam Định" nghiên cứu các hình thức và điều kiện bảo đảm thực hiện pháp luật môi trường tại địa phương.
- Phạm Thị Thanh Xuân (2008) với luận văn "Thực hiện pháp luật về BVMT ở các khu công nghiệp tại tỉnh Hải Dương" và Đỗ Thị Hương (2015) với luận văn "Thực hiện pháp luật về BVMT trong các khu công nghiệp ở tỉnh Nam Định hiện nay" đã phân tích đặc điểm, nội dung, hình thức thực hiện pháp luật BVMT tại KCN cấp tỉnh.
- Hoàng Hữu Bình (2006) trong công trình "Những tác động của yếu tố văn hóa - xã hội trong quản lý nhà nước đối với tài nguyên và môi trường trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa" làm rõ ảnh hưởng của các yếu tố phi vật thể đối với quản lý môi trường.
Nhóm các công trình nghiên cứu thực trạng và giải pháp chuyên ngành:
- Nguyễn Trần Điện (2016) trên Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp phân tích các bất cập về chế tài xử phạt, thiếu công cụ kinh tế và trách nhiệm dân sự trong BVMT.
- Phan Thanh Huyền (2015) nghiên cứu thực thi pháp luật môi trường trong khai thác khoáng sản tại Thái Nguyên.
- Lê Sơn Hải (2006) trong luận án tiến sĩ phân tích các khía cạnh pháp lý của ĐTM trong các dự án đầu tư.
- Đinh Tiến Quân (2013) và Phan Tiến Dũng (2012) nghiên cứu lý luận và thực tiễn hoạt động phòng ngừa tội phạm môi trường và công tác điều tra cơ bản của lực lượng Cảnh sát phòng, chống tội phạm về môi trường.
- Nguyễn Duy Hà (2008) đánh giá thực trạng quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với môi trường tại Bình Thuận.
- Các nghiên cứu lưu vực sông và quy hoạch môi trường: Đào Xuân Học (2002-2003) nghiên cứu lưu vực sông Đồng Nai; Tô Trung Nghĩa (2006) mô phỏng cân bằng nước và tải lượng ô nhiễm lưu vực sông Hồng; Lê Huy Bá (2013) nghiên cứu sức chịu tải hệ sinh thái lưu vực sông Vàm Cỏ; Nguyễn Văn Cư (2004-2005) ứng dụng viễn thám và GIS tại sông Ba và sông Côn; Đại học Thủy Lợi (2004) về quản lý tổng hợp tài nguyên nước sông Ba; Cù Huy Đấu (2005) về quy hoạch môi trường bệnh viện Bạch Mai; Nguyễn Quang Hùng (2016) nghiên cứu hoàn thiện pháp luật BVMT nước lưu vực sông Nhuệ - sông Đáy.
- Các bài báo chuyên ngành của Nghiêm Vũ Khải, Nguyễn Quang Hùng, Nguyễn Ngọc Sơn (2010, 2011) về vai trò giám sát của Quốc hội; Phạm Thị Tính (2014) về quyền hưởng môi trường trong lành; Lê Văn Hải (2005) về ĐTM; Nguyễn Thị Bình (2017) và Doãn Hồng Nhung - Nguyễn Thị Bình (2015) về trách nhiệm BVMT và thẩm quyền của Ban Quản lý KCN.
Nhóm các công trình nghiên cứu quốc tế:
- Mohammed Nuruddeen Isah (2012, Đại học Cardiff): Nghiên cứu vai trò và hạn chế của ĐTM (EIA) trong ngành dầu khí tại Nigeria thông qua bảng hỏi và phương pháp thống kê.
- Nhóm tác giả trên Journal of Environment and Public Health (2011): ĐTM trong quy hoạch KCN tại tỉnh Isfahan, Iran bằng phương pháp GIS và ma trận.
- Báo cáo của World Bank Hàn Quốc: Nghiên cứu quản lý môi trường tại doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME) và KCN ở Trung Quốc thuộc chương trình EMPP (2004).
- Peng Kan và Linyu Xu (2012, Science Direct): Thiết lập chỉ số đánh giá năng lực quản lý môi trường nước tại KCN Fushan, thành phố Zhuhai, Trung Quốc.
- Frank Schiller và Paul Krause (2012, Đại học Surrey): Nghiên cứu giải quyết xung đột kinh tế và môi trường tại vùng công nghiệp Humber, Vương quốc Anh.
- Báo cáo của UNESCO (2013): ĐTM phát triển công nghiệp quanh di sản thế giới Lumbini.
- Branko Radičević và cộng sự: Thiết kế giảm thiểu 14 dB tiếng ồn tại nhà máy sản xuất gỗ dán.
- Janice Noronha (1999, Đại học Dalhousie): Áp dụng nguyên tắc sinh thái công nghiệp và hoạt động tái chế tại KCN Burnside, Canada.
- Các tài liệu kỹ thuật và chính sách: Hammer Mark J. (1996) về công nghệ xử lý nước thải; Jennings J. về môi trường vùng Riverland và Murraylands; Meredith A. Giordano và Aaron T. về chia sẻ nguồn nước xuyên biên giới; OECD (2003) về dữ liệu và chỉ số môi trường; WHO/UNEP (1997) về kiểm soát ô nhiễm nước lưu vực Lerma-Chapala (Mexico); Tài liệu pháp luật môi trường EU và áp dụng tại Vương quốc Anh (2015); Nghiên cứu về sự phát triển pháp luật BVMT tại CHDCND Triều Tiên (2003).
Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết: Hầu hết các công trình trong nước trước đây chỉ nghiên cứu thực hiện pháp luật BVMT tại các KCN có quy mô vừa và nhỏ ở các địa phương phía Bắc (Hải Dương, Nam Định) trong giai đoạn trước năm 2015. Chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện việc thực hiện pháp luật BVMT tại các KCN trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa – nơi có sự hiện diện của Khu kinh tế tổng hợp Nghi Sơn và các KCN đa ngành với tính chất ô nhiễm phức tạp, đặt dưới sự điều chỉnh của Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 và các văn bản pháp luật hiện hành.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án xây dựng cơ sở lý thuyết dựa trên các quan điểm nền tảng của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về Nhà nước và pháp luật.
Khung phân tích lý luận của luận án vận dụng các khái niệm và nguyên tắc pháp lý căn bản:
- Khái niệm Khu công nghiệp: Tổng hợp từ định nghĩa của UNIDO (1967), Sắc lệnh số 98/1993 của Indonesia, Luật KKT đặc biệt năm 1995 của Philippines, Đạo luật Cục KCN năm 1979 của Thái Lan; và pháp luật Việt Nam (Nghị định số 36/CP năm 1997, Nghị định số 29/2008/NĐ-CP, Luật Đầu tư năm 2005). Luận án xác định KCN là khu vực lãnh thổ có ranh giới địa lý xác định, có hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật đồng bộ, chuyên sản xuất hàng công nghiệp và dịch vụ công nghiệp, nằm trong quy hoạch được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
- Khái niệm Môi trường: Dựa trên cách tiếp cận của Toe Whiteney, Albert Einstein, Chương trình Môi trường Liên hợp quốc (UNEP) và Từ điển tiếng Việt; phân chia môi trường thành 3 loại: môi trường tự nhiên, môi trường nhân tạo và môi trường xã hội.
- Bảy nguyên tắc cơ bản của pháp luật BVMT: (1) Trách nhiệm của mọi cá nhân, tổ chức; (2) Sử dụng hợp lý tài nguyên, gắn BVMT quốc gia với quốc tế; (3) Hài hòa phát triển kinh tế và an sinh xã hội; (4) Ưu tiên phòng ngừa ô nhiễm, sự cố; (5) Phù hợp đặc điểm kinh tế - xã hội; (6) Người hưởng lợi phải đóng góp tài chính; (7) Người gây ô nhiễm phải bồi thường thiệt hại và khắc phục hậu quả.
- Bốn hình thức thực hiện pháp luật: Tuân thủ pháp luật, chấp hành pháp luật, sử dụng pháp luật và áp dụng pháp luật trong lĩnh vực BVMT KCN.
- Lịch sử lập pháp: Rà soát từ Sắc lệnh 142/SL (1949), Nghị quyết 36/CP (1961), Chỉ thị 07/TTg (1964), Nghị quyết 183/CP (1966), Pháp lệnh Bảo vệ rừng (1972), Hiến pháp 1980 (Điều 36), Hiến pháp 1992 (Điều 17, 29), Luật BVMT các năm 1993, 2005, 2014 và Hiến pháp 2013 (Điều 63).
Phương pháp nghiên cứu được triển khai cụ thể theo từng chương:
- Chương 1: Sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp tài liệu khoa học để khái quát tình hình nghiên cứu.
- Chương 2: Sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa để xây dựng khung lý luận về thực hiện pháp luật BVMT trong KCN.
- Chương 3: Sử dụng phương pháp thống kê, so sánh, phân tích, logic, tiếp cận đa ngành và liên ngành để làm rõ thực trạng thực hiện pháp luật BVMT tại các KCN tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2015 đến thời điểm nghiên cứu.
- Chương 4: Sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, logic và tiếp cận liên ngành nhằm xây dựng hệ thống quan điểm, giải pháp.
Nguồn tư liệu và dữ liệu:
- Văn bản quy phạm pháp luật, nghị quyết, chỉ thị của Đảng và Nhà nước.
- Báo cáo định kỳ và đột xuất của Bộ Tài nguyên và Môi trường, UBND tỉnh Thanh Hóa, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Thanh Hóa, Ban Quản lý Khu kinh tế Nghi Sơn và các KCN tỉnh Thanh Hóa.
- Dữ liệu quan trắc môi trường thực nghiệm năm 2019 về chất lượng nước thải, nước mặt suối Sòng, hồ Đồng Chùa, nước biển ven bờ, chất lượng không khí tại các phân khu và khí thải ống khói công nghiệp.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án và những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu
Chương này tập hợp và phân loại các công trình khoa học trong nước và quốc tế liên quan đến đề tài theo ba nhóm: lý luận, thực trạng và giải pháp thực hiện pháp luật BVMT trong KCN. Luận án chỉ ra những kết quả nghiên cứu đã đạt được về mặt khái niệm, quy chuẩn và công cụ quản lý; đồng thời xác định rõ những khoảng trống cần giải quyết:
- Đa phần các công trình trước đây chỉ tiếp cận ở phạm vi hẹp tại một số địa phương riêng lẻ, chưa khái quát được bản chất thực hiện pháp luật BVMT trong KCN mang tính đại diện toàn quốc.
- Chưa phản ánh kịp thời các điểm mới và bất cập của Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 trong việc điều chỉnh quan hệ BVMT tại các KCN quy mô lớn, KKT hỗn hợp.
- Chưa phân định rành mạch giữa 4 hình thức thực hiện pháp luật của các chủ thể quản lý nhà nước và doanh nghiệp sản xuất.
Từ đó, chương 1 thiết lập các câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết khoa học làm định hướng cho toàn bộ luận án.
Chương 2: Những vấn đề lý luận của thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường trong các khu công nghiệp
Chương 2 làm rõ các khái niệm công cụ và xây dựng khung lý luận của đề tài:
- Phân tích bản chất, đặc điểm của KCN: Là khu vực tập trung sản xuất công nghiệp, có ranh giới xác định, không có dân cư sinh sống, hoạt động dưới sự điều hành của Ban Quản lý KCN và được hưởng các quy chế ưu đãi đầu tư đặc thù.
- Làm rõ khái niệm môi trường, cấu trúc môi trường (tự nhiên, nhân tạo, xã hội) và khái niệm pháp luật BVMT.
- Xác định nội dung thực hiện pháp luật BVMT trong KCN gồm: lập và phê duyệt báo cáo ĐTM, xác nhận kế hoạch BVMT; đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật BVMT (đặc biệt là hệ thống xử lý nước thải tập trung); quản lý chất thải rắn và chất thải nguy hại; quan trắc môi trường định kỳ; nộp phí BVMT; thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm hành chính, dân sự, hình sự.
- Phân tích 4 hình thức thực hiện pháp luật BVMT: Tuân thủ pháp luật (không thực hiện điều pháp luật cấm); Chấp hành pháp luật (thực hiện nghĩa vụ tích cực do luật định); Sử dụng pháp luật (thực hiện các quyền pháp lý); Áp dụng pháp luật (hoạt động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc xử lý vi phạm, cấp phép, phê duyệt).
- Khái quát các điều kiện bảo đảm thực hiện pháp luật: Sự hoàn thiện của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật; năng lực, tổ chức bộ máy và kinh phí của cơ quan quản lý nhà nước; ý thức chấp hành pháp luật của doanh nghiệp; sự tham gia giám sát của cộng đồng dân cư.
Chương 3: Thực trạng thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường trong các khu công nghiệp ở tỉnh Thanh Hóa
Chương 3 trình bày đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội tỉnh Thanh Hóa, quy hoạch hệ thống các KCN và KKT Nghi Sơn; phân tích thực tiễn thực thi pháp luật môi trường tại địa bàn từ năm 2015. Luận án phân tích chi tiết dữ liệu thực nghiệm năm 2019 dựa trên hệ thống bảng biểu và đồ thị quan trắc:
| Danh mục bảng / biểu đồ trong luận án |
Nội dung thông số và đối tượng khảo sát thực tế |
| Bảng 1 |
Thông số và nồng độ một số chất gây ô nhiễm trong nước mặt Suối Sòng |
| Bảng 2 |
Kết quả phân tích chất lượng nước mặt tại hồ Đồng Chùa thuộc KKT Nghi Sơn |
| Bảng 3 (trang 95) |
Kết quả quan trắc môi trường nước biển gần bờ |
| Bảng 4 & Bảng 5 (trang 98, 99) |
Nồng độ các chất ô nhiễm trong môi trường không khí tại Khu B và Khu A |
| Bảng 6 (trang 106) |
Khối lượng chất thải rắn phát sinh trong KKT Nghi Sơn |
| Hình 1 – Hình 6 (trang 90-92) |
Hàm lượng $\text{BOD}_5$, $\text{COD}$, $\text{TSS}$, dầu mỡ khoáng, $\text{Fe}$, $\text{NH}_4^+ \text{-N}$ trong nước thải đầu ra năm 2019 so sánh với cột A, QCVN 40:2011/BTNMT ($K_q = 0{,}9; K_f = 1{,}1$) |
| Hình 7 & Biểu đồ 2, 3 (trang 98-102) |
Diễn biến chất lượng môi trường không khí tại KCN Lễ Môn và Khu B năm 2019 |
| Biểu đồ 1 (trang 89) |
Kết quả quan trắc nước thải sau xử lý năm 2019 tại Nhà máy xử lý chất thải Trường Lâm |
| Đồ thị 1, 2, 3 (trang 100, 101) |
Biến thiên nồng độ bụi, $\text{CO}$, $\text{NO}_x$ phát sinh tại ống khói các dự án trong năm 2019 |
Phân tích thực trạng cho thấy:
- Ưu điểm: Chính quyền tỉnh Thanh Hóa và Ban Quản lý KKT Nghi Sơn và các KCN đã chủ động ban hành các văn bản điều hành, triển khai thẩm định ĐTM, thúc đẩy đầu tư hạ tầng xử lý nước thải và rác thải tại Nhà máy xử lý chất thải Trường Lâm; kiểm soát bước đầu các chỉ số ô nhiễm tại KCN Lễ Môn và KKT Nghi Sơn.
- Hạn chế và vi phạm: Nhiều doanh nghiệp xả thải vượt quy chuẩn quy định tại QCVN 40:2011/BTNMT; nồng độ khí thải ($\text{CO}, \text{NO}_x$, bụi) tại các ống khói công nghiệp còn biến động bất thường; công tác quan trắc môi trường chưa đồng bộ; tình trạng lách luật không lập lại ĐTM khi thay đổi quy mô công suất; xử lý chất thải rắn công nghiệp còn chậm trễ.
- Nguyên nhân: Quy định pháp luật còn kẽ hở; năng lực cán bộ và trang thiết bị của cơ quan quản lý cấp huyện, Ban Quản lý KCN còn hạn chế; sự phối hợp giữa Sở Tài nguyên và Môi trường với các lực lượng chức năng chưa chặt chẽ; ý thức chấp hành và trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp chưa cao vì mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận.
Chương 4: Quan điểm và giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường trong các khu công nghiệp từ thực tiễn tỉnh Thanh Hóa
Chương 4 xây dựng hệ thống quan điểm và đề xuất các nhóm giải pháp xuất phát từ thực tiễn:
- Quan điểm chỉ đạo: Thực hiện pháp luật BVMT phải nằm trong trạng thái "động" để thích ứng với sự biến đổi của hệ thống văn bản pháp luật và mô hình KCN; kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế với BVMT; xác định BVMT là trách nhiệm của toàn bộ hệ thống chính trị, cơ quan nhà nước, doanh nghiệp và cộng đồng xã hội.
- Giải pháp hoàn thiện pháp luật: Bổ sung quy định bắt buộc doanh nghiệp thứ cấp phải đấu nối nước thải vào trạm xử lý tập trung; xây dựng quy chuẩn kỹ thuật môi trường phù hợp với thực tiễn; sửa đổi quy định thẩm định ĐTM theo hướng nâng cao vai trò giám sát của cộng đồng; ban hành cơ chế thu phí BVMT đối với khí thải công nghiệp; tăng mức xử phạt vi phạm hành chính để bảo đảm tính răn đe.
- Giải pháp tổ chức thi hành: Tăng cường phân cấp, ủy quyền rõ ràng cho Ban Quản lý KCN trong công tác thẩm định ĐTM và kiểm tra môi trường; đầu tư trang thiết bị quan trắc tự động liên tục; kiện toàn bộ máy thanh tra môi trường; nâng cao hiệu lực phối hợp giữa Cảnh sát phòng, chống tội phạm về môi trường, Sở Tài nguyên và Môi trường và UBND cấp huyện; đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật và thực hiện cơ chế xã hội hóa công tác BVMT trong KCN.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án xác lập ba đóng góp khoa học chính:
- Về mặt lý luận: Làm sáng tỏ và hệ thống hóa cơ sở lý luận về thực hiện pháp luật BVMT trong các KCN; xác định rõ nội dung, 4 hình thức thực hiện pháp luật và các điều kiện bảo đảm; phân định rõ trách nhiệm giữa chủ thể quản lý nhà nước và chủ thể sản xuất kinh doanh trong KCN.
- Về mặt thực tiễn: Cung cấp bức tranh toàn diện, có số liệu thực nghiệm định lượng về thực trạng thực hiện pháp luật BVMT tại các KCN tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2015–2019; bóc tách các ưu điểm, hạn chế và chỉ rõ nguyên nhân khách quan, chủ quan của những tồn tại trong quản lý nước thải, khí thải và chất thải rắn.
- Về mặt giải pháp: Đề xuất hệ thống quan điểm có tính phương pháp luận và các nhóm giải pháp hoàn thiện thể chế pháp lý, nâng cao năng lực tổ chức thực thi pháp luật BVMT áp dụng chung cho các KCN cả nước và áp dụng riêng cho địa bàn tỉnh Thanh Hóa.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của luận án:
- Phạm vi khảo sát thực nghiệm tập trung chủ yếu tại địa bàn tỉnh Thanh Hóa (trọng tâm là KKT Nghi Sơn và KCN Lễ Môn); chưa mở rộng so sánh định lượng trực tiếp với các KCN tại các vùng kinh tế trọng điểm phía Nam hoặc miền Trung.
- Dữ liệu thực nghiệm phân tích sâu trong năm 2019, chưa bao quát được toàn bộ chuỗi biến động môi trường ở các giai đoạn tiếp theo.
Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng phạm vi đánh giá thực hiện pháp luật BVMT tại các mô hình KCN chuyên sâu, KCN sinh thái và KCN công nghệ cao trên phạm vi liên vùng.
- Nghiên cứu cơ chế tài phán môi trường và trách nhiệm bồi thường thiệt hại sinh thái do ô nhiễm KCN gây ra theo các quy định của Luật Bảo vệ môi trường sửa đổi.
Giá trị tham khảo
Công trình có giá trị tham khảo thiết thực cho các nhóm đối tượng:
- Cơ quan lập pháp và cơ quan quản lý nhà nước: Cung cấp căn cứ thực tiễn để sửa đổi, hoàn thiện các quy định về ĐTM, quy chuẩn kỹ thuật môi trường, cơ chế phân cấp quản lý cho Ban Quản lý KCN và quy định về phí BVMT đối với khí thải.
- Chính quyền địa phương và Ban Quản lý KCN tỉnh Thanh Hóa: Cung cấp hệ thống dữ liệu quan trắc và giải pháp quản trị để kiểm soát xả thải, tổ chức kiểm tra, thanh tra và vận hành trạm xử lý chất thải tập trung.
- Cơ sở đào tạo và nghiên cứu: Làm tài liệu tham khảo trong giảng dạy, học tập các chuyên ngành Luật Hiến pháp và Luật Hành chính, Luật Môi trường, Quản lý tài nguyên môi trường.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án định nghĩa thế nào về khu công nghiệp và thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường trong khu công nghiệp?
Luận án định nghĩa KCN là khu vực lãnh thổ có ranh giới địa lý xác định, có kết cấu hạ tầng kỹ thuật đồng bộ, chuyên sản xuất hàng công nghiệp và dịch vụ công nghiệp, nằm trong quy hoạch được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Thực hiện pháp luật BVMT trong KCN là quá trình các cơ quan nhà nước, Ban Quản lý KCN, các doanh nghiệp và cá nhân thực hiện các quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm BVMT thông qua 4 hình thức: tuân thủ, chấp hành, sử dụng và áp dụng pháp luật.
2. Những vụ việc vi phạm pháp luật môi trường tiêu biểu nào trên cả nước được tác giả dẫn chứng trong phần tính cấp thiết?
Tác giả dẫn chứng các vụ việc xả thải và vi phạm quy định pháp luật môi trường tại Công ty Vedan Việt Nam, Công ty Miwon, Công ty Hào Dương, Công ty Giấy Việt Trì và đặc biệt là sự cố môi trường Formosa Hà Tĩnh với 53 lỗi vi phạm quy định pháp luật trong KCN.
3. Địa bàn khảo sát thực trạng môi trường tại tỉnh Thanh Hóa trong luận án tập trung vào những khu vực nào?
Dữ liệu quan trắc thực nghiệm của luận án tập trung tại Khu kinh tế Nghi Sơn (gồm hồ Đồng Chùa, Suối Sòng, vùng nước biển ven bờ, các phân khu A, B, Nhà máy xử lý chất thải Trường Lâm) và KCN Lễ Môn.
4. Bốn hình thức thực hiện pháp luật BVMT trong KCN được phân tích trong luận án gồm những gì?
Bốn hình thức gồm: (1) Tuân thủ pháp luật (doanh nghiệp kiềm chế không thực hiện các hành vi bị cấm như xả thải trộm, vượt quy chuẩn); (2) Chấp hành pháp luật (thực hiện các nghĩa vụ bắt buộc như lập ĐTM, lắp đặt hệ thống quan trắc tự động, nộp phí BVMT); (3) Sử dụng pháp luật (thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo, quyền tiếp cận thông tin môi trường); (4) Áp dụng pháp luật (cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành quyết định hành chính, cấp phép, thanh tra và xử lý vi phạm).
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Phạm Thị Hoài Thu đã nghiên cứu toàn diện, có hệ thống cơ sở lý luận và thực tiễn thi hành pháp luật BVMT trong các KCN từ thực tiễn tỉnh Thanh Hóa. Bằng phương pháp tiếp cận đa ngành, công trình đã phân tích sâu sắc các dữ liệu quan trắc thực tế, chỉ rõ các tồn tại pháp lý của Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 và bất cập trong tổ chức thực thi tại địa phương. Hệ thống quan điểm và giải pháp do luận án đề xuất là tài liệu tham khảo có giá trị khoa học cho việc hoàn thiện thể chế và nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về BVMT tại các KCN ở Việt Nam.