Tổng quan luận án

Công trình nghiên cứu khoa học mang tên "Pháp luật kiểm soát tập trung kinh tế ở Việt Nam" do nghiên cứu sinh Hà Ngọc Anh thực hiện, thuộc chuyên ngành Luật Kinh tế (Mã số: 62.07) tại Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh vào năm 2018, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Phạm Trí Hùng và TS. Nguyễn Thị Bích Ngọc.

Tác giả: Hà Ngọc Anh
Tên luận án: Pháp luật kiểm soát tập trung kinh tế ở Việt Nam
Học vị: Tiến sĩ Luật học
Chuyên ngành: Luật Kinh tế (Mã số: 62.07)
Cơ sở đào tạo: Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh (Năm 2018)
Người hướng dẫn khoa học: 1. TS. Phạm Trí Hùng; 2. TS. Nguyễn Thị Bích Ngọc

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Tác giả xác định tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ 7 luận cứ lý luận và thực tiễn chủ yếu:

  1. Yêu cầu hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa: Hiến pháp năm 2013 (Điều 51, Điều 52) khẳng định Nhà nước xây dựng, hoàn thiện thể chế kinh tế, điều tiết nền kinh tế trên cơ sở tôn trọng quy luật thị trường, bảo đảm các chủ thể kinh tế bình đẳng, hợp tác và cạnh tranh theo pháp luật.
  2. Chủ trương, định hướng chính sách của Đảng và Nhà nước: Hoàn thiện pháp luật bảo đảm cạnh tranh bình đẳng, minh bạch được nhấn mạnh trong Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XI và các Nghị quyết liên quan. Pháp luật cạnh tranh được coi là trụ cột của pháp luật kinh tế công và việc sửa đổi Luật Cạnh tranh năm 2004 là nhiệm vụ trọng tâm trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011–2020.
  3. Thực tiễn mua bán, sáp nhập (M&A) xuyên biên giới: Xu thế toàn cầu hóa dẫn đến nhiều tập đoàn đa quốc gia đầu tư vào Việt Nam qua hình thức M&A. Nhiều hành vi phản cạnh tranh diễn ra ngoài lãnh thổ Việt Nam nhưng có tác động đến thị trường trong nước (theo học thuyết tác động - effect doctrine), đòi hỏi mở rộng phạm vi điều chỉnh để kiểm soát nguy cơ hình thành doanh nghiệp thống lĩnh thị trường.
  4. Hội nhập Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC): Kể từ năm 2015, việc hình thành AEC đặt chính sách cạnh tranh làm lĩnh vực ưu tiên nhằm tạo lập thị trường và cơ sở sản xuất thống nhất. Điều này đòi hỏi pháp luật kiểm soát tập trung kinh tế (TTKT) của Việt Nam phải hài hòa với khu vực, đặc biệt trong cách xác định và áp dụng tiêu chí thị phần trên thị trường liên quan.
  5. Yêu cầu bảo đảm an ninh kinh tế quốc gia: Mục tiêu kiểm soát TTKT hiện hành tại Việt Nam chủ yếu nhìn nhận ở góc độ chống tác động tiêu cực đến cạnh tranh, chưa tích hợp tiêu chí bảo vệ an ninh kinh tế trong các chính sách công kiểm soát sáp nhập, mua lại.
  6. Sự gia tăng nhanh chóng về quy mô và hình thức TTKT: Thực tiễn hoạt động M&A tại Việt Nam phát triển mạnh mẽ từ sau khi gia nhập WTO, xuất hiện đa dạng các dạng TTKT theo chiều dọc, tổ hợp (hỗn hợp), sáp nhập tái cấu trúc và thâu tóm gián tiếp.
  7. Bất cập nội tại của Luật Cạnh tranh năm 2004: Sau hơn 12 năm thi hành, luật bộc lộ hạn chế lớn: quy định ngưỡng thông báo TTKT dựa thuần túy vào thị phần kết hợp (Điều 18) là bất khả thi trong thực tế; chỉ tập trung vào TTKT theo chiều ngang; thiếu cơ chế điều chỉnh các giao dịch M&A diễn ra bên ngoài lãnh thổ có tác động tiêu cực tới thị trường Việt Nam.

Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

  • Mục đích nghiên cứu: Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về TTKT, kiểm soát TTKT và pháp luật về kiểm soát TTKT; phân tích, đánh giá thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng kiểm soát TTKT tại Việt Nam; từ đó đề xuất hệ thống phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật kiểm soát TTKT.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu (gồm 4 nhiệm vụ):
    1. Nhiệm vụ 1: Nghiên cứu có hệ thống những vấn đề lý luận về kiểm soát TTKT và pháp luật kiểm soát TTKT (khái niệm, hình thức, bản chất, cơ sở lý luận, mục tiêu chính sách và mối liên hệ với các ngành luật khác).
    2. Nhiệm vụ 2: Phân tích, đánh giá thực trạng hệ thống quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng kiểm soát TTKT tại Việt Nam theo các nội dung: đối tượng, phạm vi, ngưỡng thông báo, tiêu chí đánh giá tác động, cơ quan kiểm soát, thủ tục thông báo và thẩm định hồ sơ.
    3. Nhiệm vụ 3: Nghiên cứu pháp luật và thực tiễn thi hành kiểm soát TTKT của các quốc gia tiêu biểu trên thế giới (Hoa Kỳ, Canada, Liên bang Nga, Nhật Bản, Trung Quốc, Liên minh châu Âu, ASEAN) để rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.
    4. Nhiệm vụ 4: Xây dựng hệ thống giải pháp chung và kiến nghị cụ thể nhằm hoàn thiện quy định pháp luật kiểm soát TTKT, đóng góp luận cứ khoa học phục vụ quá trình sửa đổi Luật Cạnh tranh.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Các quan điểm, học thuyết lý luận về TTKT và kiểm soát TTKT; hệ thống quy định pháp luật Việt Nam về kiểm soát TTKT; quy định và thực tiễn kiểm soát TTKT tại một số quốc gia (Hoa Kỳ, Liên bang Nga, Nhật Bản, Trung Quốc, các nước EU và ASEAN).
  • Phạm vi nội dung: Tập trung vào các quy định trong pháp luật cạnh tranh và pháp luật chuyên ngành liên quan (doanh nghiệp, đầu tư, ngân hàng, viễn thông, chứng khoán). Giới hạn trọng tâm nghiên cứu vào 2 vấn đề cốt lõi:
    • Phạm vi và ngưỡng kiểm soát TTKT.
    • Cơ quan kiểm soát TTKT và quy trình đánh giá tác động kinh tế của TTKT.
    • Luận án không đi sâu vào: Thủ tục điều tra, xử lý vi phạm pháp luật về TTKT, cơ chế miễn trừ và các biện pháp chế tài xử phạt (do các chế tài áp dụng chung cho mọi hành vi hạn chế cạnh tranh).
  • Phạm vi thời gian: Tập trung nghiên cứu thực tiễn các vụ việc tại Việt Nam từ năm 2012 trở đi (mốc thời gian Bộ Công Thương công bố Báo cáo Tập trung kinh tế lần thứ hai và xuất hiện nhiều hình thức TTKT mới).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu trước mà tác giả điểm lại

Tác giả phân loại và tổng thuật toàn diện các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước theo các nhóm thời gian và chủ đề:

1. Nhóm nghiên cứu trước khi ban hành Luật Cạnh tranh năm 2004

  • Đề tài "Các giải pháp kiểm soát độc quyền và chống cạnh tranh không lành mạnh trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế ở Việt Nam" (Viện Nghiên cứu Thị trường giá cả, 1996).
  • Sách chuyên khảo "Về cạnh tranh, chống cạnh tranh bất hợp pháp và kiểm soát độc quyền" của Đặng Vũ Huân (Viện Nghiên cứu Khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp, 1996).
  • Công trình thuộc Dự án VIE/94/003 "Tăng cường năng lực pháp luật tại Việt Nam" (Bộ Tư pháp, 1998).
  • Đề tài "Các vấn đề pháp lý và thể chế về chính sách cạnh tranh và kiểm soát độc quyền tại Việt Nam" (Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương, 2001).
  • Đề tài "Cạnh tranh và xây dựng pháp luật cạnh tranh ở Việt Nam hiện nay" (Viện Nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật, 2001).

2. Nhóm các luận văn, luận án sau năm 2004

  • Luận văn thạc sĩ của Phạm Thị Ngoan (2010): "Kiểm soát tập trung kinh tế theo quy định của pháp luật Việt Nam" (Khoa Luật - ĐHQGHN).
  • Luận văn thạc sĩ của Huỳnh Văn Hiếu (2010): "Tập trung kinh tế dưới hình thức mua lại doanh nghiệp theo pháp luật cạnh tranh Việt Nam" (Đại học Luật TP.HCM).
  • Luận văn thạc sĩ của Vũ Thị Ngọc Hà (2013): "Pháp luật về kiểm soát tập trung kinh tế ở Việt Nam hiện nay" (Học viện Khoa học Xã hội).
  • Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Quốc Điền (2014): "Kiểm soát tập trung kinh tế theo Luật Cạnh tranh năm 2004" (Học viện Khoa học Xã hội).
  • Luận án tiến sĩ của Trần Thăng Long (2011): "The Application of Competition Law to Anti-Competitive Behaviours of State Monopolies - A Comparative Perspective" (Đại học La Trobe, Australia).

3. Nhóm sách chuyên khảo, tài liệu và đề tài nghiên cứu khoa học

  • Đề tài "Thể chế cạnh tranh tại Việt Nam trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường tại Việt Nam" của Lê Viết Thái (Viện Nghiên cứu Thương mại, 2005).
  • Sách "Pháp luật về kiểm soát độc quyền và chống cạnh tranh không lành mạnh ở Việt Nam" của Đặng Vũ Huân (2004).
  • Sách "Luật Cạnh tranh của Pháp và Liên minh châu Âu" của Nguyễn Hữu Huyên (2004).
  • Sách "Pháp luật cạnh tranh tại Việt Nam" của Lê Danh Vĩnh, Hoàng Xuân Bắc, Nguyễn Ngọc Sơn (2006).
  • Sách chuyên khảo "Kiểm soát tập trung kinh tế - Kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn tại Việt Nam" do TS. Đinh Thị Mỹ Loan chủ biên (Cục Quản lý cạnh tranh, 2007).
  • Chuỗi báo cáo chuyên đề và báo cáo thường niên của Cục Quản lý Cạnh tranh (Bộ Công Thương) các năm 2012, 2014 và giai đoạn 2012–2016.
  • Đề tài cấp Bộ của TS. Phạm Trí Hùng (2012): "Pháp luật điều chỉnh sáp nhập, mua lại ở Việt Nam".
  • Đề tài cấp Trường của TS. Phạm Trí Hùng (2012): "Pháp luật cạnh tranh Liên bang Nga và những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam".
  • Đề tài NCKH sinh viên của Trần Ngọc Chính và nhóm cộng sự (2015): "Pháp luật Hoa Kỳ về kiểm soát tập trung kinh tế theo chiều dọc và hỗn hợp - Kinh nghiệm cho Việt Nam".
  • Sách tham khảo "Về trường phái kinh tế học pháp luật" (Viện Khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp).
  • Đề tài cấp Trường do TS. Phạm Trí Hùng làm chủ nhiệm: "Ứng dụng trường phái kinh tế học pháp luật trong nghiên cứu, giảng dạy pháp luật cạnh tranh".

4. Nhóm bài báo tạp chí chuyên ngành

  • Bùi Xuân Hải (2003), "Về mục tiêu và phạm vi điều chỉnh của Luật Cạnh tranh", Tạp chí Khoa học pháp lý (Số 4).
  • Nguyễn Ngọc Sơn (2005), "Xác định thị trường liên quan theo Luật Cạnh tranh 2004", Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp (Số 11).
  • Nguyễn Ngọc Sơn (2006), "Kiểm soát tập trung kinh tế theo pháp luật cạnh tranh và vấn đề của Việt Nam", Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp (Số 79).
  • Nguyễn Như Phát (2007), "Các khía cạnh pháp lý của tập trung kinh tế và vai trò của cơ quan quản lý cạnh tranh", Tạp chí Khoa học pháp lý (Số 4).
  • Phạm Trí Hùng và Hà Ngọc Anh (2012), "Khẳng định trách nhiệm bảo vệ cạnh tranh của Nhà nước khi sửa đổi Hiến pháp 1992", Tạp chí Khoa học pháp lý (Số 3).

5. Nhóm tài liệu quốc tế

  • Các ấn phẩm và thuật ngữ của OECD (1993, 1999); các nghiên cứu của Gordon Bootie (2015), Scherer và David Ross (1990); quan điểm của David Pender (2006) về cơ quan quản lý cạnh tranh và điều tiết ngành; các trường phái kinh tế Freiburg, Chicago, Kantzenbach và nguyên tắc Rule of Reason.

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Qua tổng thuật tài liệu, tác giả khẳng định chưa có công trình nào ở cấp độ luận án tiến sĩ nghiên cứu chuyên sâu, toàn diện và có hệ thống về pháp luật kiểm soát TTKT tại Việt Nam. Các nghiên cứu trước đây chủ yếu tiếp cận đơn lẻ từng hình thức M&A hoặc mặc định xếp TTKT vào nhóm hành vi hạn chế cạnh tranh (HCCT). Luận án giải quyết 4 nhóm khoảng trống học thuật:

  1. Xác lập nhận thức mới: TTKT là sự tích tụ quyền lực thị trường tự nhiên, hợp pháp của doanh nghiệp, vừa có mặt tiêu cực vừa có mặt tích cực; bản chất của pháp luật kiểm soát TTKT là phòng ngừa nguy cơ lạm dụng sức mạnh thị trường chứ không phải cấm đoán hành vi.
  2. Vận dụng cách tiếp cận kinh tế - luật (economic approach / effects-based approach) để đánh giá tác động kinh tế thực chất của giao dịch TTKT thay cho phương thức đánh giá hình thức thuần túy (form-based analysis / per se rule).
  3. Đề xuất xây dựng cơ chế kiểm soát và ngưỡng thông báo TTKT đa tiêu chí, không phụ thuộc hoàn toàn vào tiêu chí thị phần kết hợp.
  4. Tái cơ cấu mô hình Cơ quan Cạnh tranh theo hướng độc lập, giữ vai trò trung tâm trong kiểm soát TTKT và thiết lập cơ chế kiểm soát TTKT xuyên biên giới nhằm bảo vệ thị trường nội địa cùng an ninh kinh tế quốc gia.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết

Luận án dựa trên 3 trụ cột lý thuyết kinh tế - pháp lý:

  1. Lý thuyết kinh tế học pháp luật (Law and Economics): Ứng dụng phân tích kinh tế để đánh giá tác động cạnh tranh của các vụ việc TTKT theo chiều ngang, chiều dọc và hỗn hợp, gồm việc phân tích tác động đơn phương (unilateral effects) và tác động phối hợp (coordinated effects).
  2. Lý thuyết về cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường: Vận dụng lý thuyết về chính sách cạnh tranh; mô hình Cấu trúc - Hành vi - Hiệu quả (Structure - Conduct - Performance: S-C-P) để phân tích mức độ tập trung thị trường và tác động hiệu quả kinh tế; lý thuyết về hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh/vị trí độc quyền để chỉ ra mối quan hệ giữa tích tụ sức mạnh thị trường và rủi ro cạnh tranh.
  3. Lý thuyết về quyền tự do kinh doanh và vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường: Làm rõ giới hạn can thiệp hợp lý của Nhà nước nhằm bảo vệ môi trường cạnh tranh lành mạnh nhưng không làm triệt tiêu quyền tự do tổ chức lại doanh nghiệp.

Câu hỏi nghiên cứu và Giả thuyết nghiên cứu

  • Câu hỏi nghiên cứu chung: Pháp luật kiểm soát TTKT ở Việt Nam hiện nay có những hạn chế, bất cập gì? Cần được hoàn thiện như thế nào để nâng cao hiệu quả kiểm soát bằng pháp luật, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế hiện nay?
  • Hệ thống 5 câu hỏi cụ thể:
    1. Nhận diện lý luận về TTKT và kiểm soát TTKT như thế nào (quan niệm, bản chất, mục tiêu chính sách cạnh tranh)?
    2. Pháp luật kiểm soát TTKT dựa trên cơ sở lý luận và thực tiễn nào (tại sao phải kiểm soát bằng pháp luật, khái niệm, nội dung)?
    3. Cần hoàn thiện pháp luật kiểm soát TTKT như thế nào (thực trạng, bất cập, cách tiếp cận mới, giải pháp cụ thể trong Luật Cạnh tranh sửa đổi)?
    4. Thực tiễn quy định và áp dụng pháp luật kiểm soát TTKT của các quốc gia trên thế giới (Hoa Kỳ, Canada, Pháp, Nga, Nhật, Trung Quốc, EU...) đem lại bài học kinh nghiệm gì?
    5. Các định hướng lớn và giải pháp cụ thể nào nhằm hoàn thiện pháp luật kiểm soát TTKT ở Việt Nam?
  • Giả thuyết nghiên cứu chung: Pháp luật kiểm soát TTKT của Việt Nam hiện hành còn nhiều hạn chế, bất cập, chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn và xu thế hội nhập, cần được bổ sung, hoàn thiện toàn diện.
  • Hệ thống 6 giả thuyết cụ thể:
    1. Bản chất TTKT là sự tích tụ quyền lực thị trường tự nhiên, cần được đánh giá cả mặt tích cực lẫn tiêu cực bằng hệ thống tiêu chí khách quan.
    2. Việc quy định TTKT là một hành vi HCCT tại Khoản 3 Điều 3 Luật Cạnh tranh năm 2004 dẫn đến phương thức kiểm soát cơ học theo nguyên tắc cho phép - cấm đoán máy móc.
    3. Cơ sở kiểm soát phải dựa trên mục tiêu chính sách cạnh tranh, nhu cầu doanh nghiệp và vai trò bảo vệ cạnh tranh của Nhà nước.
    4. Thực trạng pháp luật Việt Nam bộc lộ 5 bất cập lớn về: đối tượng kiểm soát (chỉ bao quát chiều ngang), phạm vi kiểm soát (thiếu hiệu lực ngoài lãnh thổ), ngưỡng kiểm soát (dựa thuần túy vào thị phần), tiêu chí đánh giá tác động (thiếu tư duy kinh tế, thiếu tiêu chí an ninh kinh tế) và thủ tục thông báo/xử lý hồ sơ.
    5. Kinh nghiệm kiểm soát TTKT của các quốc gia tiên phong (Hoa Kỳ, Nhật Bản, Liên bang Nga, Trung Quốc, EU) là căn cứ thực tiễn để Việt Nam tiếp thu về mô hình cơ quan cạnh tranh độc lập và kỹ thuật đánh giá kinh tế.
    6. Hoàn thiện pháp luật kiểm soát TTKT phải bắt đầu từ việc định vị rõ mục tiêu chính sách cạnh tranh trong Dự thảo Luật Cạnh tranh sửa đổi.

Phương pháp nghiên cứu và tiếp cận

  • Phương pháp luận: Dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác-Lênin; quan điểm của Đảng và Nhà nước về thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN.
  • Các phương pháp nghiên cứu cụ thể:
    • Phương pháp phân tích: Phân tích lý thuyết, luật thực định và các tình huống thực tế áp dụng tại Việt Nam và nước ngoài (áp dụng chủ yếu tại Chương 1, Chương 2, Chương 3, Chương 4).
    • Phương pháp tổng hợp: Hệ thống hóa các luận điểm lý luận, tổng kết các hạn chế thực tiễn để xây dựng luận cứ cho các kiến nghị hoàn thiện (sử dụng ở các tiểu kết, kết luận chương và Chương 3, Chương 4).
    • Phương pháp so sánh luật: Đối chiếu quy định của Việt Nam với các chuẩn mực và mô hình pháp lý quốc tế (Hoa Kỳ, EU, Nga, Nhật Bản, Trung Quốc, ASEAN) xuyên suốt các chương.
    • Phương pháp kinh tế học pháp luật: Phân tích chi phí - lợi ích (cost-benefit analysis) và chi phí giao dịch để đánh giá tính khả thi và hiệu quả của các giải pháp lập pháp.
  • Nguồn tư liệu, dữ liệu: Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam và quốc tế; các Báo cáo thường niên và Báo cáo TTKT chuyên đề của Cục Quản lý Cạnh tranh (giai đoạn 2010–2016); hồ sơ các vụ việc sáp nhập, mua lại cụ thể trên thị trường.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan về những vấn đề nghiên cứu của luận án

Chương 1 thiết lập khung nghiên cứu học thuật của đề tài. Tác giả tổng quan toàn bộ các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế liên quan đến kiểm soát TTKT; chỉ rõ sự thiếu hụt của các nghiên cứu chuyên sâu cấp tiến sĩ tại Việt Nam. Chương này xác lập các câu hỏi nghiên cứu, giả thuyết nghiên cứu, hệ thống lý thuyết nền tảng (kinh tế học pháp luật, lý thuyết cấu trúc S-C-P, lý thuyết can thiệp nhà nước) cùng các phương pháp luận và phương pháp thu thập dữ liệu phục vụ nghiên cứu.

Chương 2: Cơ sở lý luận về tập trung kinh tế và pháp luật kiểm soát tập trung kinh tế

Chương 2 phân tích các vấn đề lý luận nền tảng:

  • Khái niệm và bản chất: Tiếp cận TTKT từ hai góc độ kinh tế học (đo lường mức độ tập trung ngành/thị trường và tái cấu trúc tối ưu hóa chi phí vi mô) và khoa học pháp lý. Bản chất của TTKT là sự tăng trưởng ngoại sinh nhằm tích tụ tư bản và quyền lực thị trường.
  • Phân loại TTKT: Bao gồm TTKT theo chiều ngang (horizontal), TTKT theo chiều dọc (vertical) và TTKT dạng tổ hợp/hỗn hợp (conglomerate).
  • Tính hai mặt của TTKT: Luận án chỉ ra TTKT mang lại hiệu quả kinh tế (tiết kiệm chi phí, quy mô, đổi mới công nghệ) nhưng cũng tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm cạnh tranh thông qua việc tạo lập vị trí thống lĩnh hoặc độc quyền thị trường.
  • Bản chất pháp luật kiểm soát TTKT: Là công cụ pháp lý điều tiết của Nhà nước nhằm cân bằng giữa việc tôn trọng quyền tự do kinh doanh và ngăn ngừa sự hình thành cấu trúc thị trường độc quyền gây phương hại đến phúc lợi người tiêu dùng và an ninh kinh tế.

Chương 3: Quy định pháp luật về hình thức tập trung kinh tế, phạm vi và ngưỡng kiểm soát tập trung kinh tế ở Việt Nam

Chương 3 đi sâu đánh giá thực trạng quy định của Luật Cạnh tranh năm 2004 và đề xuất giải pháp cho 3 nội dung trọng tâm:

  1. Hình thức TTKT: Luật Cạnh tranh năm 2004 mới chỉ liệt kê một số hành vi hình thức (sáp nhập, hợp nhất, mua lại, liên doanh) mà chưa bao quát được các hành vi thâu tóm gián tiếp, liên kết nhân sự quản lý giữa các doanh nghiệp độc lập.
  2. Phạm vi kiểm soát: Pháp luật hiện hành thiếu căn cứ pháp lý để xử lý các giao dịch M&A ngoài lãnh thổ có tác động cạnh tranh tại thị trường nội địa (nguyên tắc tác động).
  3. Ngưỡng kiểm soát TTKT: Điều 18 Luật Cạnh tranh năm 2004 quy định ngưỡng thông báo dựa duy nhất vào thị phần kết hợp (từ 30% đến 50%) và cấm thực hiện khi vượt quá 50%. Tác giả chứng minh quy định này không khả thi, bởi doanh nghiệp rất khó tự xác định chính xác thị phần trên thị trường liên quan, đồng thời tiêu chí thị phần không phản ánh được tính chất của TTKT theo chiều dọc và hỗn hợp.
  4. Kinh nghiệm quốc tế và đề xuất: Tác giả nghiên cứu mô hình của Hoa Kỳ, EU, Nga, Trung Quốc và đề xuất thay thế ngưỡng thị phần đơn nhất bằng hệ thống ngưỡng hỗn hợp dựa trên doanh thu, tổng tài sản, giá trị giao dịch và mở rộng thẩm quyền tài phán ngoài lãnh thổ.

Chương 4: Cơ quan thực hiện kiểm soát tập trung kinh tế và thủ tục kiểm soát tập trung kinh tế

Chương 4 phân tích cơ chế thực thi và quy trình thẩm định hồ sơ:

  • Cơ quan kiểm soát TTKT: Chỉ rõ bất cập của mô hình cơ quan cạnh tranh phân tán (Cục Quản lý Cạnh tranh và Hội đồng Cạnh tranh thuộc Bộ Công Thương), dẫn đến sự thiếu hụt tính độc lập trong xử lý các vụ việc M&A lớn hoặc các vụ việc liên quan đến doanh nghiệp nhà nước.
  • Thủ tục thông báo và tham vấn: Phân tích thực tiễn các vụ việc tham vấn và tiếp nhận hồ sơ tại Cục Quản lý Cạnh tranh; quy trình xử lý hồ sơ còn thiếu tính linh hoạt và chưa có cơ chế phê chuẩn mặc nhiên.
  • Đánh giá tác động kinh tế trong thẩm định: Luận giải chi tiết các bước thẩm định kinh tế đối với hồ sơ thông báo TTKT; phân tích tác động đơn phương và tác động phối hợp; đề xuất xây dựng quy trình hai giai đoạn (thẩm định sơ bộ và thẩm định chuyên sâu) dựa trên kỹ thuật kinh tế - luật học.

Bảng tổng hợp các vụ việc và số liệu thực tiễn được phân tích trong luận án

Giai đoạn / Vụ việc thực tế Chủ thể tham gia / Lĩnh vực Dữ kiện & Đặc điểm thực tiễn ghi nhận trong luận án
Giai đoạn 2006 – 2010 Thị trường M&A Việt Nam Xu hướng tăng số lượng vụ việc: năm 2006 (38 vụ), 2007 (108 vụ), 2008 (146 vụ), 2009 (295 vụ), 2010 (345 vụ). Giá trị đạt đỉnh gần 1,7 tỷ USD năm 2007.
Giai đoạn 2009 – 2014 Toàn bộ thị trường Tổng quy mô giao dịch đạt khoảng 18 tỷ USD; khoảng 80% số thương vụ có giá trị dưới 20 triệu USD.
Vụ việc Mirae Fiber - Mirae (2009) Công ty CP Mirae Fiber sáp nhập vào Công ty CP Mirae Điển hình của hình thức TTKT theo chiều dọc; Cục QLCT xem xét hồ sơ và chấp thuận cho phép sáp nhập.
Vụ việc ICA - Thuận Phát Dược phẩm nam giới và Chế biến gia vị / nước mắm Điển hình cho trào lưu TTKT dạng tổ hợp (hỗn hợp) nhằm đa dạng hóa ngành nghề sản xuất kinh doanh.
Vụ việc Eximbank - Sacombank Ngân hàng thương mại cổ phần Điển hình cho phương thức thâu tóm gián tiếp thông qua việc nắm giữ cổ phần qua các công ty con, công ty liên kết và nhận ủy quyền biểu quyết.
Vụ việc ngoài lãnh thổ:
• Abbott - CFR
• Boehringer Ingelheim - Sanofi
• Central Group - Big C
Dược phẩm, Thuốc thú y, Hệ thống bán lẻ siêu thị Các giao dịch M&A diễn ra ngoài lãnh thổ Việt Nam nhưng tạo ra chuyển giao quyền kiểm soát và tác động trực tiếp tới thị trường tiêu dùng nội địa Việt Nam.
Vụ việc tham vấn quốc tế:
• PepsiCo - Suntory
• Liên minh Maersk - CMA CGM - MSC
Đồ uống giải khát, Vận tải biển quốc tế Các giao dịch lớn ở nước ngoài có hoạt động kinh doanh tại Việt Nam được tham vấn tại Cục Quản lý Cạnh tranh.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án tự xác định 4 đóng góp mới về mặt khoa học lý luận và thực tiễn lập pháp:

  1. Tổng quan toàn diện hệ thống nghiên cứu: Đánh giá có hệ thống toàn bộ các công trình, quan điểm, trường phái lý luận về TTKT và kiểm soát TTKT ở trong nước và quốc tế.
  2. Đổi mới nhận thức lý luận về bản chất TTKT: Khẳng định TTKT không phải là hành vi vi phạm hay hành vi hạn chế cạnh tranh mặc nhiên, mà là quá trình vận động kinh tế tự nhiên; xác định cơ chế kiểm soát phải dựa trên đánh giá tính hai mặt (hiệu quả kinh tế tích cực đối chiếu với nguy cơ phản cạnh tranh tiêu cực).
  3. Chỉ ra các bất cập toàn diện của khung pháp lý Luật Cạnh tranh năm 2004: Phân tích sâu sắc sự lạc hậu của các quy định hiện hành về khái niệm, đối tượng, phạm vi tài phán, tiêu chí xác định ngưỡng thông báo theo thị phần kết hợp và cấu trúc cơ quan cạnh tranh trực thuộc Bộ Công Thương.
  4. Đề xuất hệ thống giải pháp mang tính ứng dụng kinh tế - luật:
    • Xây dựng cơ chế kiểm soát TTKT không phụ thuộc đơn nhất vào tiêu chí thị phần.
    • Bổ sung hệ thống tiêu chí định lượng (doanh thu, tổng tài sản, giá trị giao dịch) kết hợp tiêu chí định tính để xác định ngưỡng kiểm soát.
    • Thiết lập nguyên tắc kiểm soát hành vi ngoài lãnh thổ có tác động đến thị trường nội địa (effects doctrine).
    • Tích hợp tiêu chí bảo đảm an ninh kinh tế quốc gia vào quá trình thẩm định các thương vụ M&A quy mô lớn.
    • Kiến nghị cải cách mô hình Cơ quan Cạnh tranh thống nhất, độc lập và chuyên nghiệp.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Theo xác định của tác giả tại phần phạm vi nghiên cứu, luận án có những giới hạn học thuật cụ thể:

  • Giới hạn nội dung: Luận án không đi sâu nghiên cứu thủ tục điều tra, quy trình xử lý vi phạm pháp luật cạnh tranh về TTKT, cơ chế miễn trừ đối với các hành vi TTKT bị cấm và các biện pháp chế tài xử phạt hành chính hoặc dân sự (do các biện pháp chế tài này mang tính chất thủ tục chung cho mọi hành vi hạn chế cạnh tranh).
  • Giới hạn thời gian và dữ liệu: Dữ liệu thực tiễn tập trung phân tích từ năm 2012 đến thời điểm hoàn thành luận án (năm 2018), gắn liền với quá trình thi hành Luật Cạnh tranh năm 2004 và các tài liệu chuẩn bị sửa đổi Luật Cạnh tranh.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo: Tiếp tục theo dõi, đánh giá việc thực thi các quy định về kiểm soát TTKT sau khi Luật Cạnh tranh sửa đổi được ban hành và đi vào đời sống thực tế; nghiên cứu sâu hơn về quy chế phối hợp giữa Cơ quan Cạnh tranh với các cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành trong các lĩnh vực có điều tiết (ngân hàng, viễn thông, năng lượng, chứng khoán).

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo cho các nhóm đối tượng:

  • Cơ quan lập pháp và hoạch định chính sách: Cung cấp cơ sở khoa học lý luận và thực tiễn trực tiếp cho quá trình xây dựng, sửa đổi và hoàn thiện các quy định về kiểm soát TTKT trong Luật Cạnh tranh của Việt Nam.
  • Cơ quan thực thi pháp luật cạnh tranh: Cung cấp tài liệu tham khảo về quy trình thẩm định kinh tế, phân tích tác động cạnh tranh đơn phương và phối hợp, cũng như bài học kinh nghiệm quốc tế trong xử lý các hồ sơ M&A phức tạp.
  • Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên luật: Cung cấp hệ thống tài liệu lý luận chuyên sâu, khung phân tích trường phái kinh tế học pháp luật ứng dụng trong pháp luật cạnh tranh và phương pháp so sánh luật học.
  • Cộng đồng doanh nghiệp và luật sư tư vấn: Giúp các nhà đầu tư, luật sư nhận diện rủi ro pháp lý, hiểu rõ cách thức xác định thị trường liên quan, ngưỡng thông báo và các tiêu chuẩn thẩm định khi thực hiện các giao dịch M&A trong nước và xuyên biên giới.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án chỉ ra bất cập lớn nhất của Luật Cạnh tranh năm 2004 trong việc xác định ngưỡng kiểm soát TTKT là gì?

Luật Cạnh tranh năm 2004 chỉ căn cứ vào tiêu chí duy nhất là thị phần kết hợp trên thị trường liên quan (Điều 18 quy định cấm TTKT khi thị phần kết hợp từ 50% trở lên, trừ trường hợp miễn trừ; và bắt buộc thông báo khi thị phần từ 30% đến 50%). Thực tiễn cho thấy doanh nghiệp gặp rất nhiều khó khăn, thậm chí bất khả thi trong việc tự xác định thị phần của mình trên thị trường liên quan, dẫn đến không biết mình có thuộc diện phải thông báo hay không. Ngoài ra, tiêu chí này chỉ áp dụng được với TTKT theo chiều ngang mà bỏ lọt TTKT theo chiều dọc và hỗn hợp.

2. Quan điểm mới của tác giả về bản chất của tập trung kinh tế là gì?

Tác giả cho rằng không nên xem TTKT thuần túy là một hành vi hạn chế cạnh tranh như cách thiết kế tại Điều 3 Khoản 3 Luật Cạnh tranh năm 2004. Về bản chất kinh tế, TTKT là sự tích tụ quyền lực thị trường và tăng trưởng ngoại sinh tự nhiên của doanh nghiệp, mang lại nhiều hiệu quả kinh tế tích cực. Pháp luật kiểm soát TTKT không nhằm mục đích cấm đoán hành vi mà là để phòng ngừa và loại trừ nguy cơ hình thành vị trí thống lĩnh/độc quyền lạm dụng sức mạnh thị trường làm suy giảm cạnh tranh.

3. Tại sao luận án đề xuất áp dụng nguyên tắc "tác động ảnh hưởng của hành vi" (effect doctrine)?

Bởi vì trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập AEC, nhiều giao dịch mua bán, sáp nhập giữa các tập đoàn đa quốc gia diễn ra bên ngoài lãnh thổ Việt Nam nhưng các chủ thể này có hoạt động kinh doanh hoặc chi phối thị phần tại Việt Nam (ví dụ các vụ Abbott mua CFR, Boehringer Ingelheim mua Sanofi, Central Group mua Big C Việt Nam). Nguyên tắc tác động cho phép Cơ quan Cạnh tranh Việt Nam xác lập thẩm quyền tài phán để kiểm soát các hành vi M&A xuyên biên giới có khả năng gây hạn chế cạnh tranh tại thị trường nội địa.

4. Những trường phái và lý thuyết kinh tế học nào được vận dụng làm nền tảng trong luận án?

Luận án sử dụng lý thuyết kinh tế học pháp luật (Law and Economics), lý thuyết cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường với mô hình Cấu trúc - Hành vi - Hiệu quả (S-C-P), lý thuyết về hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh/độc quyền thị trường, lý thuyết quyền tự do kinh doanh và vai trò can thiệp bảo vệ cạnh tranh của Nhà nước, cùng việc tham chiếu các trường phái Freiburg, Chicago và quy tắc lý do (Rule of Reason).

5. Mô hình cơ quan kiểm soát cạnh tranh tại thời điểm nghiên cứu có những hạn chế gì theo phân tích của tác giả?

Tại thời điểm nghiên cứu, hệ thống cơ quan cạnh tranh Việt Nam gồm hai cơ quan là Cục Quản lý Cạnh tranh và Hội đồng Cạnh tranh đều trực thuộc Bộ Công Thương, với mô hình 4 cấp xử lý. Cơ cấu này làm hạn chế tính độc lập trong thực thi công vụ, thiếu nguồn lực chuyên trách và thiếu cơ chế phối hợp thông tin hiệu quả với các cơ quan quản lý chuyên ngành khác (Ngân hàng Nhà nước, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, Bộ Kế hoạch và Đầu tư...).


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Hà Ngọc Anh là công trình nghiên cứu chuyên sâu và có hệ thống về pháp luật kiểm soát tập trung kinh tế tại Việt Nam theo chuyên ngành Luật Kinh tế. Bằng việc kết hợp phương pháp luận pháp lý với cách tiếp cận của trường phái kinh tế học pháp luật, tác giả đã làm rõ bản chất kinh tế - pháp lý hai mặt của hoạt động TTKT, chỉ ra những bất cập của cơ chế kiểm soát dựa thuần túy vào thị phần theo Luật Cạnh tranh năm 2004. Công trình đã luận giải và đề xuất hệ thống giải pháp toàn diện về mở rộng phạm vi kiểm soát ngoài lãnh thổ, thiết lập ngưỡng thông báo đa tiêu chí, hoàn thiện quy trình thẩm định tác động kinh tế và nâng cao tính độc lập của Cơ quan Cạnh tranh tại Việt Nam.