Luận án Tiến sĩ Luật Học: Khám Phá Công Lý và Sự Thể Hiện Trong Hiến Pháp Việt Nam

Luận án tiến sĩ luật học nghiên cứu công lý và sự thể hiện công lý trong hiến pháp việt nam, phân tích chuyên sâu, xây dựng mô hình lý thuyết, đề xuất giải pháp khoa học cho vấn

Trường đại học

Học viện Khoa học Xã hội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ luật học

2020

193
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Luận án tiến sĩ luật học Công lý và thể hiện công lý trong Hiến pháp Việt Nam

Luận án tiến sĩ luật học của Nguyễn Xuân Tùng tập trung nghiên cứu về công lý và sự thể hiện của công lý trong Hiến pháp Việt Nam. Luận án đặt ra mục tiêu làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về công lý, phân tích các khó khăn, tồn tại trong việc phát huy giá trị công lý trong tổ chức và quản lý xã hội. Công lý được xem là giá trị nền tảng, cốt lõi trong việc xây dựng một xã hội ổn định và hợp tác. Luận án cũng đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực thi và bảo vệ công lý trong Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam.

1.1. Khái niệm và cơ sở lý luận về công lý

Luận án định nghĩa công lý là giá trị phản ánh sự công bằng, lẽ phải trong xã hội. Công lý được hình thành từ các yếu tố kinh tế - xã hội, tư tưởng và lý luận pháp lý. Luận án nhấn mạnh vai trò của Hiến pháp trong việc thể hiện và bảo vệ công lý, đồng thời phân tích các thành tố thiết yếu và đặc điểm cơ bản của công lý. Công lý không chỉ là nguyên tắc pháp lý mà còn là giá trị đạo đức, xã hội, góp phần duy trì trật tự và ổn định xã hội.

1.2. Thể hiện công lý trong Hiến pháp Việt Nam

Luận án phân tích sự thể hiện của công lý trong Hiến pháp Việt Nam, đặc biệt là Hiến pháp năm 2013. Công lý được thể hiện qua các chế định về quyền con người, quyền công dân, và nguyên tắc pháp quyền. Luận án chỉ ra rằng, mặc dù Hiến pháp đã ghi nhận công lý là giá trị cơ bản, nhưng việc thực thi và bảo vệ công lý trong thực tiễn còn nhiều hạn chế. Các cơ quan tư pháp, đặc biệt là Tòa án, đóng vai trò trung tâm trong việc bảo vệ công lý, nhưng hiệu quả hoạt động cần được cải thiện.

II. Thực trạng thể hiện công lý trong Hiến pháp và thực tiễn bảo vệ công lý ở Việt Nam

Luận án đánh giá thực trạng thể hiện công lý trong Hiến pháp Việt Nam và thực tiễn bảo vệ công lý ở Việt Nam hiện nay. Công lý được thể hiện qua các chế định về quyền con người, quyền công dân, và nguyên tắc pháp quyền. Tuy nhiên, việc thực thi và bảo vệ công lý trong thực tiễn còn nhiều hạn chế, đặc biệt là trong hoạt động của các cơ quan tư pháp. Luận án chỉ ra các nguyên nhân dẫn đến tình trạng này, bao gồm sự thiếu đồng bộ trong hệ thống pháp luật, nhận thức chưa đầy đủ về công lý, và sự yếu kém trong hoạt động của các cơ quan nhà nước.

2.1. Thực trạng thể hiện công lý trong Hiến pháp Việt Nam

Luận án phân tích các chế định của Hiến pháp Việt Nam liên quan đến công lý, đặc biệt là Hiến pháp năm 2013. Công lý được thể hiện qua các quy định về quyền con người, quyền công dân, và nguyên tắc pháp quyền. Tuy nhiên, việc thực thi các quy định này trong thực tiễn còn nhiều hạn chế, đặc biệt là trong hoạt động của các cơ quan tư pháp. Luận án chỉ ra rằng, mặc dù Hiến pháp đã ghi nhận công lý là giá trị cơ bản, nhưng việc thực thi và bảo vệ công lý trong thực tiễn còn nhiều hạn chế.

2.2. Thực trạng bảo vệ công lý ở Việt Nam

Luận án đánh giá thực trạng bảo vệ công lý ở Việt Nam hiện nay, đặc biệt là trong hoạt động của các cơ quan tư pháp. Công lý được bảo vệ thông qua các hoạt động xét xử, nhưng hiệu quả hoạt động còn nhiều hạn chế. Luận án chỉ ra các nguyên nhân dẫn đến tình trạng này, bao gồm sự thiếu đồng bộ trong hệ thống pháp luật, nhận thức chưa đầy đủ về công lý, và sự yếu kém trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Luận án cũng đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả bảo vệ công lý trong thực tiễn.

III. Quan điểm và giải pháp thúc đẩy và bảo vệ công lý ở Việt Nam

Luận án đề xuất các quan điểm và giải pháp nhằm thúc đẩy và bảo vệ công lý ở Việt Nam. Các giải pháp bao gồm việc hoàn thiện hệ thống pháp luật, nâng cao nhận thức về công lý, và cải thiện hiệu quả hoạt động của các cơ quan nhà nước. Luận án nhấn mạnh tầm quan trọng của việc coi công lý là giá trị căn bản trong tổ chức và quản lý xã hội, đồng thời đề xuất các biện pháp cụ thể để thực hiện các giải pháp này. Các giải pháp được đề xuất bao gồm cả giải pháp cấp bách và giải pháp lâu dài, nhằm đảm bảo sự đồng bộ và hiệu quả trong việc thúc đẩy và bảo vệ công lý.

3.1. Quan điểm thúc đẩy và bảo vệ công lý

Luận án nêu rõ các quan điểm cơ bản trong việc thúc đẩy và bảo vệ công lý ở Việt Nam. Công lý cần được coi là giá trị căn bản trong tổ chức và quản lý xã hội, đồng thời cần được thể hiện một cách rõ ràng và nhất quán trong hệ thống pháp luật. Luận án nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nâng cao nhận thức về công lý trong xã hội, đồng thời đề xuất các biện pháp cụ thể để thực hiện các quan điểm này.

3.2. Giải pháp thúc đẩy và bảo vệ công lý

Luận án đề xuất các giải pháp nhằm thúc đẩy và bảo vệ công lý ở Việt Nam. Các giải pháp bao gồm việc hoàn thiện hệ thống pháp luật, nâng cao nhận thức về công lý, và cải thiện hiệu quả hoạt động của các cơ quan nhà nước. Luận án nhấn mạnh tầm quan trọng của việc coi công lý là giá trị căn bản trong tổ chức và quản lý xã hội, đồng thời đề xuất các biện pháp cụ thể để thực hiện các giải pháp này. Các giải pháp được đề xuất bao gồm cả giải pháp cấp bách và giải pháp lâu dài, nhằm đảm bảo sự đồng bộ và hiệu quả trong việc thúc đẩy và bảo vệ công lý.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ luật học công lý và sự thể hiện công lý trong hiến pháp việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

đặt vấn đề CL trong tổng thể học thuyết về giai cấp thống trị và đấu tranh giai cấp. Những luận điểm nổi bật của ông về CL được phân tích, đánh giá và trình bày khá sâu sắc tại cuốn Marx and Justice-The Radical Critique of Liberalism (Marx và CL - Phê bình chủ nghĩa tự do) của Allen E.Buchanan, Nxb Metheuen (1984), bao gồm: Một là, lý luận hình thái kinh tế - xã hội khẳng định cũng như những quan hệ xã hội khác, CL là một hiện tượng xã hội mang tính giai cấp và tính lịch sử sâu sắc. CL chỉ xuất hiện, hình thành khi các yếu tố kinh tế-xã hội của xã hội loài người đã phát triển và đạt đến một trình độ nhất định. CL phụ thuộc chặt chẽ và do mỗi hình thái kinh tế - xã hội mà nó tồn tại chi phối, quyết định.

Ngược lại, các giá trị của CL cùng với các quan hệ sản xuất khác có tác động trở lại, ảnh hưởng mạnh mẽ, sâu rộng đến các phương thức tổ chức xã hội, từ đó thúc đẩy hoặc cản trở, kìm hãm sự phát triển của xã hội trong từng giai đoạn lịch sử nhất định. Trong mỗi chế độ, nội hàm về CL sẽ có các nội dung, tính chất và phương thức vận hành khác nhau. Không tồn tại một thứ CL chung chung, trừu tượng, duy tâm, siêu hình. Sẽ là sai lầm nếu cho rằng CL có bản chất “vô vụ lợi”.

12 Trong bài viết Cơ sở kinh tế-xã hội cho sự hình thành và phát triển của CL, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật (2015), với những luận cứ cụ thể, tác giả Nguyễn Xuân Tùng cũng đã tập trung phân tích và làm rõ tính khoa học của học thuyết này trong lý giải nguồn gốc và sự hình thành của CL. Hai là, từ luận điểm nêu trên, ông nhấn mạnh về một sự dự đoán chắc chắn của tội phạm có nguồn gốc từ hình thái kinh tế của xã hội tư sản, do đó, tội phạm không chỉ thuần túy là nô lệ của CL mà cần phải chú ý xóa bỏ nguồn gốc xã hội hay nguyên nhân giai cấp của tội phạm. Ông từ chối cách tiếp cận của cả học thuyết cải tạo và công lợi, cho dù hình phạt là cơ chế cải thiện hay răn đe thì cá nhân không thể bị trừng phạt bởi xã hội mới là nguồn gốc tội phạm. Ba là, nguyên tắc phân phối theo nhu cầu.

Ông đã liên hệ công bằng với trình độ phát triển của sản xuất xã hội và cho rằng trong giai đoạn đầu việc phân phối được thực hiện theo nguyên tắc đóng góp “làm theo năng lực, hưởng theo lao động”. CL ở đây là nguyên tắc phân phối cho mỗi người dựa trên đóng góp lao động của họ, từ đó hình thành nguyên tắc phân phối phúc lợi dựa trên nỗ lực, cố gắng của người lao động. Khi chuyển sang giai đoạn của xã hội cộng sản, sản phẩm tiêu dùng dồi dào đến mức không cần dùng phân phối lợi ích vật chất để kích thích lao động nữa thì thực hiện nguyên tắc mới là “làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu” [196, Tr. - Tư tưởng Hồ Chí Minh về CL Tại Việt Nam, tư tưởng Hồ Chí Minh về CL có ảnh hưởng hết sức sâu rộng đến quá trình hình thành và phát triển lý luận về CL.

Tại bài viết Tư tưởng Hồ Chí Minh về CL của Nguyễn Xuân Tùng, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số tháng 11 (260) năm 2014, tác giả đã khái quát những nội dung, giá trị cơ bản của CL trong tư tưởng Hồ Chí Minh, bao gồm: (1) Là hiện thân, giá trị của xã hội văn minh, đối lập với trạng thái xã hội dã man, bán khai; (2) Là lẽ phải, lẽ công bằng mà TA phải bảo vệ và mang lại cho mọi người dân; (3) Là quyền cơ bản, chân chính của mỗi quốc gia, dân tộc; (4) Là vũ khí tư tưởng, chính trị, pháp lý sắc bén góp phần làm sáng rạng tính chính nghĩa, chính đáng, hợp pháp, cũng 13 như bản chất của nhà nước thân dân, vì dân; (5) Là căn cứ pháp lý, là điểm tựa đạo lý quốc tế vững chắc để lên án các cuộc chiến tranh xâm lược phi nghĩa, khẳng định tính chính nghĩa của cuộc kháng chiến gian khổ của nhân dân Việt Nam, qua đó, bảo vệ hòa bình, tự do, công bằng và các quyền cơ bản của con người; (6) Là giá trị phổ quát, là lương tri, phẩm giá tốt đẹp mà nhân loại tiến bộ hướng tới. Luận án tiến sỹ luật học Tư tưởng khoan dung và ý nghĩa hiện thời của nó của Nguyễn Thị Phương Mai, Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn (2010) cũng nhấn mạnh ở khía cạnh này, có thể khẳng định tư tưởng khoan dung của Hồ Chí Minh được hình thành và dựa trên nền tảng của CL. Bài viết Quan niệm về CL ở Việt Nam từ năm 1945 đến cuộc CCTP năm 1950, Nguyễn Xuân Tùng, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật (2014) cũng có những nhận định về ảnh hưởng của tư tưởng Hồ Chí Minh về CL cũng như quá trình phát triển nhận thức về CL, đặc biệt là sự du nhập, tiếp biến của các học thuyết Mác - Lênin trong nhận thức về CL và xây dựng nền tư pháp nhân dân. Về khái niệm CL, tại bài viết Một số vấn đề lý luận cơ bản về CL, Tạp chí Công thương (2019), tác giả Trần Trí Dũng định nghĩa CL là lẽ đúng đắn mà mọi người đều thừa nhận, dùng làm cơ sở để phán xét, để xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm đối với các chủ thể tham gia trong những mối quan hệ nhất định.

Đây là một khái niệm tương đối phù hợp với bối cảnh CL trong tố tụng. Ở Việt Nam, các học thuyết và lý luận cơ bản về CL cũng được tiếp tục chú trọng chắt lọc, du nhập, nghiên cứu và truyền bá nhiều hơn, đặc biệt khi Việt Nam phát triển và hoàn thiện học thuyết NNPQ XHCN và thực hiện công cuộc CCTP từ năm 2002 đến nay. Các công trình nghiên cứu là sách tiêu biểu là Pháp quyền nhân nghĩa Hồ Chí Minh của Vũ Đình Hòe, Nxb Văn hóa Thông tin (2001); Quyền con người, GS. Võ Khánh Vinh (chủ biên), Nxb Khoa học xã hội (2011); Vũ Trọng Khánh - Bộ trưởng Tư pháp đầu tiên, Nhiều tác giả, Nxb Tri thức (2015); CL và tiếp cận CL - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Nguyễn Đăng Dung và Vũ Công Giao đồng chủ biên, Nxb Hồng Đức (2018).

Công trình nghiên cứu là tạp chí tiêu biểu là Về khái niệm “CL” trong Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992, Nguyễn Xuân Tùng, Tạp chí Tổ chức nhà nước (2013). 14 Nhìn chung, các nghiên cứu nêu trên đều tiếp tục tập trung phân tích và làm rõ nguồn gốc, quan niệm, bản chất, nội dung, chức năng, vị trí, vai trò của CL, từ đó góp phần phát triển và hoàn thiện các học thuyết về CL cũng như khả năng ứng dụng trong tổ chức và quản lý xã hội nói chung và tại Việt Nam nói riêng. Nhóm các nghiên cứu về vai trò của công lý trong tổ chức và quản lý xã hội CL có một vai trò hết sức to lớn, ý nghĩa trong tổ chức, quản lý và vận hành xã hội một cách trật tự, ổn định và văn minh. Các công trình nghiên cứu chuyên ngành về ứng dụng này của CL khá đa dạng và phong phú.

Trước hết, phải kể đến một số nghiên cứu khẳng định tính đa dạng, năng động trong quan niệm CL. Cuốn sách Nhân loại học về pháp luật- Một lý thuyết so sánh (Anthropology of Law-A Comparative Theory) của Leopold Pospísil, Nxb Đại học Yale (1971) coi quan niệm CL như một phần của nền văn hóa mỗi dân tộc và sự đa dạng về văn hóa, tính cách sẽ mang lại những quan niệm về CL khác nhau. Tại cuốn sách Vượt trên CL (Beyond Justice) của Agnes Heller, Nxb Basil Blackwell Inc. (1987), phân tích bốn phương pháp tiếp cận cơ bản đưa đến bốn định nghĩa khác nhau về CL, từ đó đưa ra những ứng dụng khác nhau của CL.

Các công trình nghiên cứu điển hình như Khế ước xã hội (The Social Contract) của Jean-Jacques Rousseau, Nxb Thế giới (2014); CL (Justice) của Josef Pieper, Nxb Pantheon Books (1955); CL (Justice) do Alan Ryan chủ biên, Nxb Oxford University Press (1993); CL (Justice) của Harry Brighouse, Nxb Polity Press (2004); CL (Justice) do Eugene Kamenka và Alice Erh-Soon Tay chủ biên, Nxb Edward Arnold (1979);… đều tập trung lý giải vai trò không thể thiếu của CL nói chung và vai trò luân lý của CL nói riêng trong quá trình đưa xã hội tiến hóa từ trạng thái dã man, bán khai sang trạng thái kỷ cương, văn minh. Các công trình nghiên cứu bao gồm Chính trị luận (The Politics) của Aristotle, Nxb Thế giới (2013); Chính thể đại diện (Representative Government) của John Stuart Mill, Nxb Tri thức (2008); Bàn về chính quyền (On Government) của Marcus Tullius Cicero, Nxb Hồng Đức (2017); “CL” (Justice) do Alan Ryan 15 chủ biên, Nxb Oxford University Press (1993);… đều tập trung làm rõ tính chất chính trị của CL với tư cách là một nhân tố chính nghĩa của mỗi bộ máy chính quyền. Ngược lại, bất công hay cảm giác bất công cũng chính là một nhân tố quan trọng dẫn đến các cuộc cách mạng lật đổ chính quyền. Các công trình nghiên cứu cũng khẳng định mối quan hệ biện chứng, chặt chẽ giữa CL và pháp luật.

Các quan điểm phổ biến coi CL là căn cứ để ban hành các chính sách pháp luật. Pháp luật công bằng phải thể hiện được CL trong lĩnh vực mà nó điều chỉnh. Các công trình tiêu biểu về mối tương quan giữa CL và pháp luật bao gồm: Lý thuyết về CL (The theory of justice) của Rudolf Stammler, Nxb Macmilan (1925); Lý luận chung về pháp luật và nhà nước (General Theory of Law and State) của Hans Kelsen, Nxb Harvard University Press (1946); CL dựa trên nền tảng luật pháp (Justice according to law) của Nathan Roscoe Pound, Nxb Yale University Press (1951); Sự hình thành của khoa học luật (Foundations of Jurisprudence) của Jerome Hall, Nxb The Bobbs-Merrill Company (1973); Luật tự nhiên và CL (Natural Law and Justice), Lloyd L. Weinbeb, Nxb Havard University Press (1987); Triết học về luật thực định (The Philosophy of Positive Law) của James Bernard Murphy, Nxb Yale University Press (2005); Triết học luật pháp (The Philosophy of Law) của Raymond Wacks Nxb Trẻ (2011); Luật pháp và Triết học: Dẫn nhập với những bài đọc (Law and Philosophy: An introduction with readings) của Thomas W.Simon, Nxb Mc.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ luật học: Công lý và thể hiện công lý trong Hiến pháp Việt Nam là một nghiên cứu chuyên sâu về khái niệm công lý và cách thức nó được thể hiện trong Hiến pháp Việt Nam. Tài liệu này phân tích các nguyên tắc pháp lý nền tảng, đánh giá sự phù hợp của Hiến pháp với các chuẩn mực quốc tế, và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực thi công lý. Đọc giả sẽ hiểu rõ hơn về vai trò của Hiến pháp trong việc đảm bảo công bằng xã hội và quyền con người, đồng thời nhận được những gợi ý thiết thực để cải thiện hệ thống pháp luật hiện hành.

Nếu bạn quan tâm đến các nghiên cứu pháp lý khác, hãy khám phá Luận án tiến sĩ luật học cơ chế pháp lý về bảo hộ công dân ở Việt Nam để hiểu sâu hơn về các cơ chế bảo vệ quyền lợi công dân. Bên cạnh đó, Luận án tiến sĩ luật học bảo đảm quyền con người trong pháp luật phong kiến Việt Nam cung cấp góc nhìn lịch sử về sự phát triển của quyền con người. Ngoài ra, Luận án tiến sĩ luật học pháp luật về thương mại điện tử ở Việt Nam sẽ mở rộng kiến thức của bạn về lĩnh vực pháp lý hiện đại. Mỗi tài liệu là một cơ hội để bạn khám phá sâu hơn các chủ đề liên quan.