Luận án tiến sĩ Tâm lý học: Quản lý cảm xúc học viên sĩ quan - Vũ Văn Long

Luận án tiến sĩ nghiên cứu kỹ năng quản lý cảm xúc của học viên đào tạo sĩ quan cấp phân đội tại các trường sĩ quan quân đội nhân dân Việt Nam. Phân tích thực

Trường đại học

Học viện Chính trị Bộ Quốc phòng

Chuyên ngành

Tâm lý học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2019

242
0
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về kỹ năng quản lý cảm xúc của học viên sĩ quan cấp phân đội

Kỹ năng quản lý cảm xúc là khả năng vận dụng kiến thức và kinh nghiệm để nhận diện, kiểm soát, điều chỉnh cảm xúc cá nhân trong các tình huống thực tiễn. Đối với học viên đào tạo sĩ quan cấp phân đội tại các trường sĩ quan trong Quân đội nhân dân Việt Nam, kỹ năng này đóng vai trò đặc biệt quan trọng. Sĩ quan cấp phân đội là lực lượng chỉ huy trực tiếp chiến sĩ, thường xuyên đối mặt với áp lực huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu và quản lý đơn vị. Quá trình đào tạo tại trường sĩ quan không chỉ trang bị kiến thức quân sự mà còn phải phát triển toàn diện năng lực tâm lý cho học viên. Nghiên cứu về quản lý cảm xúc trong môi trường quân sự được nhiều quốc gia quan tâm, từ mô hình của Mayer J.D đến nghiên cứu của Michelle Sam về quản lý cảm xúc cho quân đội Mỹ. Tại Việt Nam, các công trình khoa học đã chỉ ra mối liên hệ chặt chẽ giữa kỹ năng quản lý cảm xúc với hiệu quả học tập, rèn luyện và khả năng hoàn thành nhiệm vụ của học viên sĩ quan.

1.1. Khái niệm kỹ năng quản lý cảm xúc trong quân đội

Kỹ năng quản lý cảm xúc là sự vận dụng kiến thức, kinh nghiệm đã có để nhận diện, kiểm soát, điều khiển và sử dụng cảm xúc nhằm giúp con người làm chủ cảm xúc trong hoạt động thực tiễn. Trong môi trường quân sự, kỹ năng này bao gồm ba thành phần chính: kỹ năng nhận biết cảm xúc, kỹ năng điều chỉnh cảm xúc và kỹ năng biểu hiện cảm xúc. Các kỹ năng thành phần có vị trí, vai trò khác nhau, tác động bổ trợ lẫn nhau. Để quản lý cảm xúc hiệu quả, sĩ quan cần vận dụng đồng bộ các kỹ năng nhằm kiềm chế và làm chủ cảm xúc của bản thân cũng như hiểu được cảm xúc của đồng đội.

1.2. Đối tượng học viên đào tạo sĩ quan cấp phân đội

Học viên đào tạo sĩ quan cấp phân đội là những người đang được đào tạo tại các trường sĩ quan trong Quân đội nhân dân Việt Nam để trở thành sĩ quan chỉ huy cấp phân đội. Đây là lực lượng cán bộ trực tiếp quản lý, chỉ huy chiến sĩ ở cấp cơ sở. Trong quá trình học tập và rèn luyện, học viên phải đối mặt với nhiều loại cảm xúc khác nhau: áp lực thi cử, căng thẳng huấn luyện quân sự, xung đột trong quan hệ đồng đội. Khả năng quản lý cảm xúc tốt giúp học viên duy trì trạng thái tâm lý ổn định, nâng cao hiệu quả học tập và hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

II. Phân tích thực trạng kỹ năng quản lý cảm xúc của học viên sĩ quan

Thực trạng kỹ năng quản lý cảm xúc của học viên đào tạo sĩ quan cấp phân đội cho thấy nhiều vấn đề cần quan tâm. Nghiên cứu thực tiễn tại các trường sĩ quan chỉ ra rằng mức độ kỹ năng quản lý cảm xúc của học viên ở mức trung bình khá, chưa đồng đều giữa các nhóm đối tượng. Có sự khác biệt đáng kể giữa các tiêu chí đánh giá: kỹ năng nhận biết cảm xúc thường đạt mức cao hơn so với kỹ năng điều chỉnh và biểu hiện cảm xúc phù hợp. Nhiều học viên gặp khó khăn trong việc kiểm soát cảm xúc tiêu cực khi đối mặt với áp lực thi cử, xung đột đồng đội hoặc tình huống bất ngờ trong huấn luyện. Mối tương quan giữa kỹ năng quản lý cảm xúc và kết quả học tập, rèn luyện được ghi nhận rõ ràng. Học viên có kỹ năng quản lý cảm xúc tốt thường đạt kết quả học tập cao hơn, hòa nhập tốt hơn với môi trường tập thể và hoàn thành nhiệm vụ hiệu quả hơn. Các yếu tố ảnh hưởng bao gồm đặc điểm tâm lý cá nhân, môi trường đào tạo, phương pháp giảng dạy của cán bộ giảng viên và điều kiện sinh hoạt tại trường.

2.1. Các mức độ kỹ năng quản lý cảm xúc hiện nay

Kết quả nghiên cứu thực tiễn cho thấy kỹ năng quản lý cảm xúc của học viên sĩ quan cấp phân đội phân bố ở ba mức: thấp, trung bình và cao. Nhóm học viên có mức kỹ năng trung bình chiếm tỷ lệ lớn nhất. Kỹ năng nhận biết cảm xúc đạt kết quả tốt hơn so với kỹ năng điều chỉnh và biểu hiện cảm xúc. Sự khác biệt về mức kỹ năng quản lý cảm xúc thể hiện rõ giữa các khóa học, giữa học viên nam và nữ, giữa học viên có thời gian công tác trong quân ngũ khác nhau trước khi nhập học.

2.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến kỹ năng quản lý cảm xúc

Nhiều yếu tố tác động đến kỹ năng quản lý cảm xúc của học viên sĩ quan. Yếu tố nội tại bao gồm đặc điểm tính cách, khí chất, kinh nghiệm sống và trình độ nhận thức của từng cá nhân. Yếu tố ngoại tại gồm môi trường đào tạo, phương pháp giảng dạy của cán bộ giảng viên, chế độ sinh hoạt tập thể, điều kiện vật chất và mối quan hệ đồng đội. Đặc biệt, năng lực sư phạm tâm lý của đội ngũ cán bộ giảng viên đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển kỹ năng này cho học viên.

III. Giải pháp phát triển kỹ năng quản lý cảm xúc cho học viên sĩ quan

Phát triển kỹ năng quản lý cảm xúc cho học viên đào tạo sĩ quan cấp phân đội đòi hỏi hệ thống giải pháp đồng bộ, toàn diện. Các biện pháp tâm lý - sư phạm được xây dựng trên cơ sở kết quả nghiên cứu thực tiễn và nền tảng lý luận khoa học. Giải pháp đầu tiên tập trung vào nâng cao nhận thức cho học viên về tầm quan trọng của quản lý cảm xúc trong đời sống quân ngũ. Tiếp theo là tổ chức các hoạt động rèn luyện kỹ năng thông qua tình huống mô phỏng, thảo luận nhóm và thực hành giao tiếp. Nâng cao năng lực sư phạm tâm lý cho đội ngũ cán bộ giảng viên là giải pháp then chốt. Xây dựng môi trường đào tạo lành mạnh, tạo điều kiện cho học viên được trải nghiệm và phát triển kỹ năng trong thực tế. Kết quả thực nghiệm cho thấy các biện pháp áp dụng đã cải thiện đáng kể mức độ kỹ năng quản lý cảm xúc của học viên, thể hiện qua sự tiến bộ rõ rệt ở cả ba kỹ năng thành phần: nhận biết, điều chỉnh và biểu hiện cảm xúc phù hợp.

3.1. Biện pháp nâng cao nhận thức và kiến thức cho học viên

Giáo dục nhận thức về kỹ năng quản lý cảm xúc được thực hiện thông qua các bài giảng chuyên đề, tọa đàm khoa học và tài liệu hướng dẫn tự học. Học viên được trang bị kiến thức cơ bản về bản chất cảm xúc, vai trò của quản lý cảm xúc trong hoạt động quân sự và các phương pháp nhận diện, điều chỉnh cảm xúc. Nội dung giáo dục gắn liền với thực tiễn đời sống quân ngũ, sử dụng các tình huống cụ thể từ quá trình huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu và sinh hoạt tập thể để minh họa và rèn luyện.

3.2. Biện pháp tổ chức hoạt động thực hành rèn luyện kỹ năng

Hoạt động thực hành được tổ chức đa dạng nhằm phát triển kỹ năng quản lý cảm xúc. Phương pháp tình huống mô phỏng giúp học viên trải nghiệm và xử lý cảm xúc trong các tình huống quân sự giả định. Hoạt động nhóm tạo cơ hội cho học viên thực hành giao tiếp, hợp tác và giải quyết xung đột. Bài tập thư giãn, thiền định được áp dụng để nâng cao khả năng tự điều chỉnh cảm xúc. Đánh giá định kỳ giúp theo dõi sự tiến bộ và điều chỉnh phương pháp rèn luyện phù hợp.

IV. Kết luận và ứng dụng trong đào tạo sĩ quan quân đội

Luận án đã hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về kỹ năng quản lý cảm xúc của học viên đào tạo sĩ quan cấp phân đội. Kết quả nghiên cứu khẳng định tầm quan trọng của kỹ năng quản lý cảm xúc đối với hiệu quả đào tạo và rèn luyện của học viên tại các trường sĩ quan. Thực trạng kỹ năng quản lý cảm xúc còn nhiều hạn chế, đòi hỏi sự quan tâm đầu tư đúng mức từ các nhà quản lý giáo dục quân sự. Hệ thống giải pháp tâm lý - sư phạm đề xuất đã được thực nghiệm và chứng minh hiệu quả. Kết quả nghiên cứu có giá trị khoa học và thực tiễn, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo sĩ quan cấp phân đội trong Quân đội nhân dân Việt Nam. Ứng dụng rộng rãi các biện pháp phát triển kỹ năng quản lý cảm xúc sẽ giúp đào tạo đội ngũ sĩ quan có bản lĩnh chính trị vững vàng, năng lực tâm lý tốt, sẵn sàng hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao trong tình hình mới.

4.1. Giá trị khoa học và thực tiễn của nghiên cứu

Nghiên cứu mang lại đóng góp quan trọng cả về mặt lý luận và thực tiễn. Về lý luận, luận án đã làm rõ khái niệm, cấu trúc kỹ năng quản lý cảm xúc và các yếu tố ảnh hưởng trong môi trường đào tạo sĩ quan. Về thực tiễn, hệ thống tiêu chí đánh giá và biện pháp phát triển kỹ năng có tính ứng dụng cao, có thể áp dụng tại các trường sĩ quan trong toàn quân. Kết quả nghiên cứu cũng là cơ sở khoa học để xây dựng chương trình đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực tâm lý cho đội ngũ sĩ quan cấp phân đội.

4.2. Hướng phát triển và ứng dụng trong đào tạo quân sự

Trong tương lai, nghiên cứu cần được mở rộng trên quy mô lớn hơn, áp dụng tại nhiều trường sĩ quan và các đơn vị quân đội khác nhau. Việc tích hợp nội dung phát triển kỹ năng quản lý cảm xúc vào chương trình đào tạo chính thức cần được quan tâm. Đào tạo bồi dưỡng năng lực tâm lý cho đội ngũ cán bộ giảng viên là nhiệm vụ cấp thiết. Ứng dụng công nghệ thông tin và mô hình đào tạo hiện đại sẽ nâng cao hiệu quả rèn luyện kỹ năng quản lý cảm xúc cho học viên sĩ quan cấp phân đội.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

21/04/2026
Luận án tiến sĩ kỹ năng quản lý cảm xúc của học viên đào tạo sĩ quan cấp phân đội ở các trường sĩ quan trong quân đội nhân dân việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI Vấn đề quản lý cảm xúc và kỹ năng quản lý cảm xúc được các nhà khoa học trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu, cho đến nay đã có một số công trình nghiên cứu. Khi tổng quan về các vấn đề liên quan đến luận án, chúng tôi tiến hành hệ thống và luận giải theo hai nội dung chính: Các công trình nghiên cứu về cảm xúc, quản lý cảm xúc và kỹ năng quản lý cảm xúc ở nước ngoài; các công trình nghiên cứu về cảm xúc, quản lý cảm xúc và kỹ năng quản lý cảm xúc ở Việt Nam. Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài có liên quan đến đề tài luận án 1. Các công trình nghiên cứu về cảm xúc Cảm xúc và quản lý cảm xúc là lĩnh vực được quan tâm nghiên cứu trong tâm lý học và đã thu được nhiều thành tựu.

Có thể khái quát thành một số hướng chính: * Các công trình nghiên cứu về cảm xúc với tư cách là hiện tượng tâm lý cá nhân Theo hướng này quy tụ rất nhiều nhà nghiên cứu. Có thể điểm qua các công trình của Cruchetxki V. Gerrig và Philip Zimbardo G. Trong các công trình này, các tác giả đã tập trung nghiên cứu các vấn đề về định nghĩa cảm xúc, biểu hiện, độ ổn định, sự xuất hiện và nguồn gốc của cảm xúc, phân loại cảm xúc và sự ảnh hưởng của các yếu tố tâm - sinh lý cá nhân đến cảm xúc và ảnh hưởng của cảm xúc đến các hoạt động của cá nhân.

Ví dụ, trong công trình “Những cảm xúc của người”, Carrol E. Izard (1992) [8] đã trình bày một cách hệ thống những vấn đề cơ bản về cảm xúc của cá nhân: cảm xúc là 16 gì? Các loại cảm xúc, biểu hiện cảm xúc qua nét mặt, điệu bộ, mối quan hệ và ảnh hưởng của cảm xúc đến nhận thức, ý thức và hành vi của cá nhân. (1986) [82], trong cuốn “Tâm lý học thể thao” đã đề cập tới định nghĩa và đặc điểm cơ bản của cảm xúc, quan hệ giữa cảm xúc với nhu cầu, vai trò của cảm xúc trong đời sống của con người, cơ sở sinh lý của cảm xúc, những nét và biểu hiện bên ngoài của cảm xúc qua nét mặt. Trong tác phẩm “Tâm lý học (nguyên lý và sử dụng)”, Stephen Worchel - Wayne Shebilsue (2007) [88], đã đề cập tới hàng loạt vấn đề về cảm xúc, từ việc đi tìm một định nghĩa phổ biến về cảm xúc, đến việc giới thiệu hàng loạt thuyết tâm lý học về cảm xúc, như thuyết Jemce - Langer về cảm xúc và cho rằng sự xuất hiện cảm xúc là kết quả của những tác động bên ngoài, của các thay đổi nội tại trong phạm vi vận động chú ý và không chú ý.

Kế thừa và phát triển quan niệm cảm xúc của Darwin, Freud S. (2002) cho rằng cảm xúc có nguồn gốc từ các năng lượng tính dục, bản năng. Tổng hợp những cảm giác gắn liền với những thay đổi đó chính là trạng thái cảm xúc. Theo James, cảm xúc gắn với phạm vi rộng lớn các thay đổi ngoại biên còn Langer lại cho rằng cảm xúc với trạng thái phân bổ thần kinh và độ thông của các mạch máu; Thuyết Canon-Bar; các thuyết về nhận thức, thuyết xoma về cảm xúc, thuyết phản hồi của Tomkins (1962), sau đó được Izard và Ekman (1977), Friesen (1971) đào sâu và hiện vẫn là một lĩnh vực nghiên cứu năng động… * Các công trình nghiên cứu về cảm xúc với tư cách là một động lực thúc đẩy cá nhân trong hoạt động và trong cuộc sống Cảm xúc với tư cách là một động lực tâm lý được đề cập trong hầu hết công trình nghiên cứu tâm lý học cá nhân, tâm lý học phát triển.

Từ các thực nghiệm của Skinner B. Izard (1992), Maurice Reuchlin (1995), Keith Oatley & Fennifer Jenkins M. Gerrig và Philip G. Zimbardo (2003),… 17 Trong các công trình trên, cảm xúc được nhìn nhận là một động lực thúc đẩy cá nhân hành động.

Vì vậy, vấn đề là làm thể nào để duy trì, thỏa mãn hay củng cố những cảm xúc của cá nhân. quy kết cảm xúc vào trong lĩnh vực động cơ vô thức, gắn với các yếu tố cơ thể và cần được thỏa mãn (2002) [dẫn theo 84], thì B. Skinner [146] và các nhà tâm lý học hành vi lại chú trọng tới khía cạnh tác động xã hội tới các hành vi cảm xúc. Theo đó, các hành vi cảm xúc của cá nhân được quyết định bởi các củng cố tích cực, tiêu cực hay sự trừng phạt (1953).

Trong công trình “Tâm lý học và đời sống”, Richard J. Gerrig và Philip Zimbardo G. [79] hướng đến các chức năng của cảm xúc đối với nhận thức và hành vi của cá nhân, trong đó nhấn mạnh đến chức năng động cơ hành động, chức năng điều chỉnh sự tương tác xã hội. Cảm xúc được ví như chất keo kết dính xã hội hoặc là tác nhân để cá nhân xa lánh, từ bỏ xã hội.

Đặc biệt, cảm xúc vừa là động lực vừa là người dẫn đường cho các hoạt động nhận thức của cá nhân (2013). Tóm lại: theo hướng nghiên cứu về cảm xúc với tư cách là hiện tượng tâm lý thúc đẩy cá nhân trong hoạt động, các nhà khoa học đã nghiên cứu các vấn đề về định nghĩa cảm xúc, biểu hiện, độ ổn định, sự xuất hiện và nguồn gốc của cảm xúc, phân loại cảm xúc và sự ảnh hưởng của các yếu tố tâm - sinh lý cá nhân đến cảm xúc và ảnh hưởng của cảm xúc đến các hoạt động của cá nhân. Cho rằng cảm xúc có nguồn gốc từ các năng lượng tính dục, bản năng. Tổng hợp những cảm giác gắn liền với những thay đổi đó chính là trạng thái cảm xúc.

Cảm xúc gắn với phạm vi rộng lớn các thay đổi ngoại biên và cảm xúc gắn với trạng thái phân bổ thần kinh và độ thông của các mạch máu. Theo hướng nghiên cứu cảm xúc với tư cách là động lực thì cảm xúc được nhìn nhận là một động lực thúc đẩy cá nhân hành động. Vì vậy, vấn đề là làm thể nào để duy trì, thỏa mãn hay củng cố những cảm xúc của cá nhân và cần có những kích thích tác động để cải thiện cảm xúc tiêu cực, tăng cảm xúc tích cực nhằm thúc đẩy hoạt động của con người. Các công trình nghiên cứu về quản lý cảm xúc Trong các nghiên cứu trí tuệ cảm xúc, mà trong đó hàm chứa các yếu tố nhận biết và kiểm soát, điều khiển cảm xúc của mình và của người khác, còn có các công trình nghiên cứu quản lý cảm xúc.

Chẳng hạn, Fischer, Manstead, Evers, Timmers & Valk (2004) [dẫn theo 33] nghiên cứu quản lý cảm xúc trong các hoàn cảnh khác nhau. Erber, Wegner và Therriault (1996) [130] đưa ra thực nghiệm về việc tăng cường hay ức chế cảm xúc để có kinh nghiệm và thể hiện cảm xúc mà họ tin rằng sẽ tạo điều kiện thực hiện trong một tình huống cụ thể. Diamond & Aspinwall (2003) kết luận rằng, cảm xúc tốt hay cảm xúc xấu không phải là bất biến và động lực điều chỉnh cảm xúc chỉ có thể được hiểu trong bối cảnh cụ thể mà trong đó cảm xúc xảy ra. Hochschild (1983) chỉ ra rằng các khuôn mẫu cảm xúc (được xây dựng trên quy tắc hiển thị cảm xúc ra ngoài và có thể là kinh nghiệm cảm xúc trong một hoàn cảnh đã cho) đã tạo động lực cho quản lý cảm xúc.

Các nghiên cứu của Rime và các cộng sự (1991), chỉ ra sự chia sẻ xã hội không chỉ đóng một vai trò quan trọng trong việc cung cấp những thông tin mà có thể phục vụ chức năng quan trọng về tâm lý và xã hội. Chia sẻ xã hội, có thể làm giảm khoảng cách vật lý và các đặc điểm cá nhân và đóng góp vào sự phát triển của quan hệ gần gũi. Thoits (1984), Collins và Miller (1994) tìm thấy rằng những người chia sẻ cảm xúc của họ và cảm xúc với những người khác có nhiều hơn những người thích giữ chúng ở lại. Các nghiên cứu của Zech & Rime (1996) đã phát hiện sự chia sẻ cảm xúc được đánh giá là có ý nghĩa hơn và thú vị hơn là nói chuyện một cách khách quan và mô tả.

Dưới góc độ nghiên cứu sự nghiền ngẫm hay ngăn cản cảm xúc, Nolen- Hoeksema, McBride và Larsen (1997) [dẫn theo 33]; Nolen-Hoeksema và Morrow (1993) kết luận cho thấy nghiền ngẫm về sự tức giận, tội lỗi và những suy nghĩ lo lắng liên quan đến việc tạo ra những cảm xúc mạnh hơn [80]. Kopel & Arkowitz (1974) [135] nghiên cứu sự kìm hãm các biểu hiện đau, Wegner (1994) nghiên cứu sự ngăn chặn suy nghĩ về cảm xúc đau đã cho thấy giảm cảm giác do bản thân tự thông báo. McCanne và Anderson (1987) [143] 19 cho thấy sự ngăn chặn biểu lộ cảm xúc trong khi những hoàn cảnh cảm xúc dễ chịu hoặc khó chịu làm suy giảm khả năng của những người tham gia để cảm nhận những cảm xúc tương ứng. Giảm khả năng nhận thức cho sự ngăn chặn hành vi biểu cảm đến từ một sự nghiên cứu bởi Ginbe, Krull và Pelham (1988) đã cho thấy sự kiềm chế cái nhìn làm suy yếu sự thực hiện hành vi nhận thức.

Richards và Gross (1999) cho thấy, ngăn chặn biểu hiện cảm xúc làm suy yếu bộ nhớ cho thông tin gặp phải trong thời kỳ ngăn chặn. Tuy nhiên, có rất ít bằng chứng cho thấy sự ngăn chặn biểu hiện cảm xúc tự nhiên dẫn đến suy giảm kinh nghiệm cảm xúc và kích thích sinh lý ngoài các thao tác của biểu hiện sự đau đớn. Carstensen, Gottman và Levenson (1995), Levenson, Carstensen và Gottman (1994) và các đồng nghiệp đã chỉ ra rằng, sự hài lòng của hôn nhân tăng khi giảm biểu hiện cảm xúc tiêu cực. Thành công việc sửa đổi nét mặt của cảm xúc, có thể quan trọng trong mối quan hệ của con người xã hội và hôn nhân, nhưng nó không giúp nhiều để làm giảm cảm xúc tiêu cực của một người [dẫn theo 33].

Lazarus và Alfert (1964) cho thấy, đánh giá lại, một cách hiệu quả để giảm bớt cảm xúc tiêu cực cũng như kích thích sinh lý đi kèm. Các nghiên cứu của Kramer và các đồng nghiệp cho thấy, đánh giá lại không tiêu thụ các nguồn lực nhận thức nó, không làm ảnh hưởng bộ nhớ. Trong truyền thông tâm lý (Bucci, 1995) sự tích tụ của những cảm xúc không thể hiện được có liên quan đến các rối loạn tâm thần và thể chất [dẫn theo 61].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ