Luận án Tiến sĩ Kinh tế: Việc làm cho nông dân khi thu hồi đất ở Hà Nội - Phạm Thị Thủy

Nghiên cứu luận án Tiến sĩ phân tích tác động của việc thu hồi đất đến đời sống và việc làm của nông dân Hà Nội. Phân tích chính sách, thách thức và giải pháp

Chuyên ngành

Kinh tế chính trị

Tác giả

Phạm Thị Thủy

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2014

189
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan luận án tiến sĩ về việc làm nông dân thu hồi đất Hà Nội

Luận án tiến sĩ kinh tế của Phạm Thị Thủy (2014) thuộc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh nghiên cứu vấn đề việc làm cho nông dân khi thu hồi đất ở Hà Nội. Chuyên ngành Kinh tế chính trị, mã số 62 31 01 01, dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Văn Hậu. Nghiên cứu tập trung phân tích thực trạng mất việc làm của nông dân khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Hà Nội với tốc độ đô thị hóa nhanh, diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi ngày càng lớn. Điều này tạo áp lực lớn lên vấn đề việc làm và đời sống của hàng nghìn nông dân. Luận án chỉ ra rằng việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất diễn ra mạnh mẽ tại các quận huyện ngoại thành. Nông dân mất đi tư liệu sản xuất chính nhưng thiếu kỹ năng chuyển đổi nghề nghiệp. Thực trạng này đặt ra yêu cầu cấp thiết về chính sách hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tạo việc làm bền vững cho nhóm lao động đặc biệt này.

1.1. Bối cảnh nghiên cứu luận án tiến sĩ kinh tế

Nghiên cứu được thực hiện trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Hà Nội là trung tâm kinh tế - chính trị với tốc độ đô thị hóa cao nhất cả nước. Diện tích đất nông nghiệp liên tục bị thu hồi để xây dựng khu công nghiệp, khu đô thị, hạ tầng giao thông. Số liệu cho thấy lực lượng lao động nông thôn bị ảnh hưởng ngày càng tăng. Thu nhập bình quân đầu người và tỷ lệ hộ nghèo có sự chênh lệch lớn giữa khu vực nội thành và ngoại thành. Đây là tiền đề quan trọng để luận án đi sâu phân tích.

1.2. Mục tiêu và phương pháp nghiên cứu

Luận án đặt mục tiêu đánh giá thực trạng việc làm cho nông dân khi thu hồi đất ở Hà Nội. Từ đó đề xuất quan điểm và giải pháp giải quyết việc làm hiệu quả. Phương pháp nghiên cứu kết hợp định tính và định lượng. Sử dụng phân tích mô hình SWOT để đánh giá điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức. Nghiên cứu tổng hợp tài liệu từ Bộ luật Lao động, Luật Đất đai và các văn bản pháp luật liên quan. Khảo sát thực tế tại các huyện ngoại thành Hà Nội có diện tích đất thu hồi lớn.

II. Phân tích vấn đề việc làm nông dân khi thu hồi đất Hà Nội

Vấn đề việc làm cho nông dân khi thu hồi đất ở Hà Nội thể hiện trên nhiều phương diện. Thứ nhất, nông dân mất tư liệu sản xuất chính là đất nông nghiệp nhưng không có khả năng chuyển đổi nghề ngay lập tức. Thứ hai, mức độ hiểu biết và thành thạo các hoạt động phi nông nghiệp của nông dân còn thấp. Bảng điều tra cho thấy đa số nông dân chỉ quen với sản xuất nông nghiệp truyền thống. Thứ ba, chính sách bồi thường, hỗ trợ chưa đủ để nông dân ổn định cuộc sống lâu dài. Quỹ đất ngày càng thu hẹp trong khi dân số và lực lượng lao động tăng. Nhiều nông dân rơi vào tình trạng thất nghiệp hoặc làm việc không ổn định. Thu nhập giảm sút đáng kể so với trước khi bị thu hồi đất. Đặc biệt, lao động nữ và người lớn tuổi gặp khó khăn hơn trong việc tìm kiếm việc làm mới. Khoảng cách giữa chính sách và thực tiễn triển khai vẫn còn tồn tại nhiều bất cập cần giải quyết.

2.1. Thực trạng mất việc làm của nông dân ngoại thành

Thực trạng tại Hà Nội cho thấy nông dân ngoại thành bị ảnh hưởng nặng nề khi thu hồi đất. Các huyện như Từ Liêm, Thanh Trì, Long Biên có tốc độ đô thị hóa nhanh. Hàng nghìn nông dân mất đất mỗi năm nhưng chỉ một phần nhỏ được giải quyết việc làm ổn định. Đa số nông dân chuyển sang làm công nhân xây dựng, bán hàng rong hoặc thất nghiệp. Thu nhập bình quân đầu người giảm rõ rệt sau khi mất đất. Tỷ lệ hộ nghèo tại khu vực thu hồi đất có xu hướng tăng. Phụ nữ nông thôn đặc biệt khó khăn trong chuyển đổi nghề nghiệp.

2.2. Nguyên nhân và thách thức trong giải quyết việc làm

Nguyên nhân chính bao gồm trình độ học vấn và tay nghề của nông dân thấp. Phần lớn nông dân chưa qua đào tạo nghề chính quy. Chính sách hỗ trợ đào tạo chuyển đổi nghề triển khai chậm và chưa hiệu quả. Doanh nghiệp tại các khu công nghiệp ưu tiên tuyển dụng lao động trẻ, có tay nghề. Nông dân lớn tuổi bị loại khỏi thị trường lao động chính thức. Hệ thống dịch vụ việc làm chưa phát triển đầy đủ tại khu vực nông thôn. Tâm lý gắn bó với ruộng đất cũng là rào cản trong chuyển đổi nghề. Nguồn vốn hỗ trợ sản xuất mới còn hạn chế.

III. Giải pháp giải quyết việc làm cho nông dân thu hồi đất Hà Nội

Luận án đề xuất hệ thống giải pháp toàn diện nhằm giải quyết việc làm cho nông dân khi thu hồi đất ở Hà Nội. Về phía Nhà nước, cần hoàn thiện chính sách bồi thường, hỗ trợ đảm bảo đời sống nông dân. Đầu tư mạnh mẽ vào hệ thống đào tạo nghề phù hợp với nhu cầu thị trường lao động. Phát triển các khu công nghiệp, làng nghề truyền thống để tạo việc làm tại chỗ. Hỗ trợ nông dân tiếp cận nguồn vốn vay ưu đãi để khởi nghiệp, phát triển sản xuất kinh doanh. Về phía doanh nghiệp, cần phối hợp với cơ quan chức năng tuyển dụng và đào tạo nông dân mất đất. Xây dựng quỹ dự phòng trợ cấp mất việc làm theo quy định pháp luật. Ưu tiên lao động nữ và người tàn tật trong tuyển dụng. Về phía nông dân, cần chủ động học nghề, nâng cao kỹ năng thích ứng thị trường. Tham gia tích cực các chương trình đào tạo nghề do Nhà nước tổ chức. Phát huy truyền thống làng nghề và lợi thế vùng miền để tạo sinh kế bền vững.

3.1. Chính sách đào tạo chuyển đổi nghề cho nông dân

Giải pháp đào tạo chuyển đổi nghề là then chốt trong giải quyết việc làm. Cần xây dựng chương trình đào tạo ngắn hạn, thực hành cao, phù hợp trình độ nông dân. Nội dung đào tạo tập trung vào kỹ năng công nghiệp, dịch vụ, thương mại. Phối hợp giữa cơ quan đào tạo và doanh nghiệp để đảm bảo đầu ra việc làm. Hỗ trợ chi phí học tập, sinh hoạt cho nông dân tham gia đào tạo. Phát triển hệ thống Trung tâm dịch vụ việc làm tại khu vực ngoại thành. Tư vấn hướng nghiệp giúp nông dân lựa chọn nghề phù hợp năng lực.

3.2. Hỗ trợ vốn và phát triển kinh tế hộ gia đình

Chính sách hỗ trợ tài chính đóng vai trò quan trọng trong ổn định đời sống nông dân. Quỹ quốc gia giải quyết việc làm cần tăng cường cho vay ưu đãi. Mức vay phù hợp với quy mô sản xuất kinh doanh nhỏ lẻ. Miễn giảm thuế cho nông dân khởi nghiệp trong thời gian đầu. Phát triển mô hình tổ hợp tác, hợp tác xã để nông dân liên kết sản xuất. Khuyến khích phát triển kinh tế hộ gia đình dựa trên lợi thế địa phương. Hỗ trợ nông dân tiếp cận thị trường tiêu thụ sản phẩm. Đào tạo kỹ năng quản lý tài chính cơ bản cho nông dân.

IV. Kết luận và ứng dụng nghiên cứu luận án tiến sĩ kinh tế

Luận án tiến sĩ kinh tế về việc làm cho nông dân khi thu hồi đất ở Hà Nội đã hoàn thành các mục tiêu nghiên cứu đề ra. Kết luận cho thấy vấn đề việc làm của nông dân mất đất là thách thức lớn trong quá trình đô thị hóa. Thực trạng nông dân thất nghiệp, thiếu việc làm ổn định diễn ra phổ biến tại các huyện ngoại thành. Hệ thống giải pháp đề xuất bao gồm hoàn thiện chính sách, đào tạo nghề, hỗ trợ vốn và phát triển kinh tế địa phương.Ứng dụng của nghiên cứu có giá trị cho công tác quản lý đất đai và giải quyết việc làm tại Hà Nội. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học cho việc xây dựng chính sách an sinh xã hội. Mô hình SWOT giúp đánh giá toàn diện điểm mạnh, điểm yếu trong thực hiện chính sách. Kinh nghiệm từ các địa phương khác được vận dụng phù hợp với đặc thù Hà Nội. Nghiên cứu cũng chỉ ra hướng phát triển tiếp theo cho các công trình liên quan. Cần tiếp tục theo dõi, đánh giá hiệu quả chính sách sau triển khai. Đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong đào tạo nghề và giải quyết việc làm nông thôn.

4.1. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

Luận án có ý nghĩa lý luận quan trọng trong lĩnh vực kinh tế chính trị. Làm sáng tỏ mối quan hệ giữa thu hồi đất và vấn đề việc làm nông thôn. Đóng góp vào hệ thống lý luận về giải quyết việc làm trong điều kiện chuyển đổi kinh tế. Về thực tiễn, nghiên cứu cung cấp số liệu và phân tích cụ thể về Hà Nội. Kết quả áp dụng được cho công tác quy hoạch, quản lý đất đai đô thị. Góp phần giảm nghèo bền vững và đảm bảo an sinh xã hội cho nông dân. Là tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu tương tự tại địa phương khác.

4.2. Định hướng phát triển và kiến nghị

Kiến nghị Chính phủ ban hành cơ chế đặc thù cho nông dân bị thu hồi đất. Hà Nội cần xây dựng đề án tổng thể về giải quyết việc làm nông thôn. Tăng cường đầu tư hạ tầng khu công nghiệp gắn với đào tạo nghề tại chỗ. Đẩy mạnh xã hội hóa trong đào tạo nghề và tư vấn việc làm. Nghiên cứu mô hình hỗ trợ nông dân chuyển đổi sang kinh tế dịch vụ. Đánh giá định kỳ hiệu quả chính sách để điều chỉnh kịp thời. Xây dựng cơ sở dữ liệu về lao động nông thôn mất đất phục vụ quản lý. Tăng cường vai trò của tổ chức đoàn thể trong hỗ trợ nông dân.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

21/04/2026
Luận án tiến sĩ kinh tế việc làm cho nông dân khi thu hồi đất ở hà nội

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ VIỆC LÀM CHO NÔNG DÂN KHI THU HỒI ĐẤT Ở HÀ NỘI 1. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ VIỆC LÀM CHO NÔNG DÂN KHI THU HỒI ĐẤT 1. Khái quát một số nghiên cứu ở nước ngoài về việc làm 1. Các nhà kinh điển Mác - Lênin - Khi nghiên cứu về quá trình sản xuất Tư bản chủ nghĩa, Các Mác phát hiện ra các điều kiện để sức lao động trở thành hàng hoá; các thuộc tính đặc biệt của hàng hoá sức lao động làm căn cứ luận giải nguồn gốc giá trị thặng dư.

Sự biểu hiện sản xuất giá trị thặng dư qua các giai đoạn phát triển của CNTB. Trong đó hệ thống giản đơn được khái quát là cách mạng về tổ chức lao động, hệ thống công trường thủ công là cuộc cách mạng về sức lao động. Trên cơ sở đó luận giải bản chất của tiền công là giá cả hay giá trị sức lao động được biểu hiện ra bên ngoài là giá cả hay giá trị của lao động. Theo Các Mác thì khi ứng dụng các thành tựu KH - CN hiện đại thường dẫn đến tăng kết cấu hữu cơ tư bản và tăng năng suất lao động, mà: Sự tăng năng suất lao động thể hiện ra ở việc giảm bớt khối lượng lao động sống so với khối lượng tư liệu sản xuất mà lao động đó làm cho hoạt động, hay là thể hiện ra ở sự giảm bớt đại lượng của nhân tố chủ quan của quá trình lao động so với nhân tố khách quan của quá trình đó [12, tr.

Vì vậy, phần bất biến của tư bản vận động cùng chiều với sự tăng lên của tích luỹ tư bản, còn bộ phận tư bản khả biến thì nói chung sẽ vận động ngược chiều với sự tăng lên của tích luỹ. Có thể nói các quan điểm của các nhà kinh điển Mác - Lênin về lao động, việc làm là cơ sở lý luận cốt lõi để xem xét, vận dụng trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường và kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam. Lênin, thì sự phát triển kinh tế hàng hoá khiến một bộ phận ngày càng đông trong dân cư tách khỏi nông nghiệp, tức là nhân khẩu công nghiệp tăng lên làm cho nhân khẩu nông nghiệp giảm xuống, V.Lênin nhắc lại luận điểm của C.Mác: Do bản chất của nó phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa không ngừng giảm bớt nhân khẩu nông nghiệp so với nhân khẩu phi nông nghiệp, bởi vì trong công nghiệp (theo nghĩa hẹp của danh từ này) việc tư bản bất biến tăng lên làm giảm tư bản khả biến thường liên quan với sự tăng thêm tuyệt đối (dù là giảm bớt tương đối) của tư bản khả biến, còn trong nông nghiệp thì ngược lại, tư bản khả biến cần thiết để kinh doanh một khoảnh đất nhất định lại giảm bớt một cách tuyệt đối; do đó tư bản khả biến chỉ có thể tăng thêm khi có những đất mới được canh tác, mà điều này lại đòi hỏi rằng nhân khẩu phi nông nghiệp phải tăng lên nhiều hơn nữa [34, tr. Đặc biệt Lênin phát triển luận điểm của Mác về sự phát triển của máy móc thay thế sức lao động và chỉ ra cuộc đấu tranh giữa công nhân và máy móc, với tư cách là máy móc, tư liệu lao động đã trở thành những kẻ cạnh tranh với bản thân người công nhân.

Một bộ phận của giai cấp công nhân mà máy móc đã biến thành dư thừa do sự thay đổi trong kết cấu hữu cơ tư bản (C/V), trong đó C tăng lên tuyệt đối và tương đối, V tăng lên tuyệt đối và giảm đi tương đối. V giảm làm cho cung về sức lao động lớn hơn cầu về sức lao động trên thị trường và giá cả sức lao động giảm xuống. Các Mác cho rằng tư liệu lao động đã giết chết người lao động. Từ đó vận dụng trong điều kiện CNTB độc quyền Lênin đã đưa ra luận điểm CNTB thối nát khi nói về sự kìm hãm tiến bộ khoa học kỹ thuật và đồng thời chỉ ra CNTB không thể và không bao giờ giải quyết triệt để nạn thất nghiệp để duy trì một sức ép với giai cấp công nhân… 9 1.

Các công trình nghiên cứu khác - Mô hình tạo việc làm theo kiểu cổ điển: tự do cạnh tranh trên thị trường - mức lương linh hoạt và sự toàn dụng lao động Trong nền kinh tế tự do cạnh tranh, sự thoả dụng của của cá nhân người lao động và tối đa hoá lợi nhuận của người sản xuất khi tham gia vào thị trường lao động phải tuân thủ theo quy luật của thị trường. Mức lương và việc làm do luật cung cầu lao động quyết định. Với mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận, cá nhà sản xuất sẽ thuê nhiều lao động hơn chừng nào mà giá trị sản phẩm cận biên một người lao động sản xuất ra cao hơn chi phí mà anh ta bỏ ra thuê lao động (hay là mức tiền lương). Về mặt cung lao động, các cá nhân lao động tìm cách có chế độ thoả dụng tối đa.

Họ sẽ phân chia thời gian cho nghỉ ngơi và làm việc theo chế độ thoả dụng cận biên.Việc tăng lương cũng đồng nghĩa với tăng giá cho sự nghỉ ngơi. Do đó, mức lương càng cao bao nhiêu thì mức cung lao động càng cao bấy nhiêu. Trong trường hợp cung lao động bằng cầu lao động có nghĩa là mức lương cân bằng, không có thất nghiệp - tức toàn dụng lao động, lúc này bất kỳ người lao động nào có nhu cầu việc làm đều tìm được việc làm. Nhưng thị trường lao động lại luôn biến động không ngừng do đó nó làm cho cung cầu lao động luôn luôn biến đổi theo.

Nếu cung lao động lớn hơn cầu lao động, khi đó người lao động sẽ phải cạnh tranh với nhau để bán sức lao động và có việc làm. Điều này sẽ làm giảm giá trị sức lao động, do đó làm cho mức lương giảm xuống. Ngược lại, khi cầu lớn hơn cung về lao động lúc này các chủ sử dụng lao động sẽ phải cạnh tranh với nhau để thuê lao động, do vậy nó lại làm cho giá trị sức lao động tăng lên và kéo theo là làm cho mức lương cung tăng theo. Do đó, tự do cạnh tranh mua bán sức lao động trên thị trường, các mức lương linh hoạt được hình thành như có một sức mạnh của bàn tay vô hình, thất nghiệp không xảy ra, mọi người có khả năng lao động và có nhu cầu làm việc thì đều được đáp ứng về việc làm.

Keynes đã tập trung xem xét mối quan hệ chặt chẽ giữa sản lượng - thu nhập; tiêu dùng - tiết kiệm và đầu tư. Xét từ góc độ tâm lý chủ quan của người tiêu dùng trong xã hội ông cho rằng tốc độ tăng tiêu dùng luôn nhỏ hơn tốc độ tăng thu nhập và tiết kiệm. Điều này đã làm cho cầu tiêu dùng thực tế giảm xuống so với thu nhập, dẫn đến một bộ phận hàng hoá không bán được. Đây là nguyên nhân gây ra khó khăn, thất nghiệp tác động trực tiếp đến sản xuất của chu kỳ sau, do đó việc làm giảm và tình trạng thất nghiệp tăng.

Từ đó ông rút ra kết luận: Để tăng việc làm, giảm thất nghiệp phải tăng cầu trong nền kinh tế gồm cả cầu tiêu dùng và cầu đầu tư. Giải pháp mà ông đề xuất: Chính phủ có vai trò kích thích tiêu dùng để tăng cầu thông qua các khoản chi tiêu Chính phủ hoặc thông qua chính sách đầu tư. Keynes còn sử dụng các biện pháp: hạ lãi suất cho vay, giảm thuế, trợ giá đầu tư, in thêm tiền giấy để cấp phát cho ngân sách nhà nước nhằm tăng đầu tư và bù đắp các khoản chi tiêu của Chính phủ. Ông chủ trương tăng tổng cầu của nền kinh tế bằng mọi cách, kể cả khuyến khích đầu tư vào các hoạt động ăn bám nền kinh tế như: sản xuất vũ khí đạn dược, chạy đua vũ trang, quân sự hoá nền kinh tế.

Ông còn cho rằng: chừng nào còn có thất nghiệp và trì trệ trong nền kinh tế thì mức cung các loại hàng hoá và dịch vụ tự động đáp ứng mức cầu lên cao này và tạo điều kiện để cải thiện thu nhập cũng như tạo thêm việc làm [54]. Tuy nhiên lý thuyết này của Keynes đưa ra chỉ đúng với các nước phát triển còn đối với các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam thì có thể sẽ gặp một số vấn đề khi áp dụng nó vì: + Do sự hạn chế về mặt cơ cấu và thể chế đối với khâu cung ứng, tình trạng thiếu vốn, nguyên liệu cũng như nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn và tay nghề cao, các loại thị trường như tài chính, sức lao động… về tổ chức và hoạt động chưa thực sự nhuần nhuyễn và hiệu quả. Đã đi ngược lại quan niệm cho rằng tăng cầu của Chính phủ và tư nhân sẽ 11 làm tăng mức công ăn việc làm và giảm thất nghiệp. + Do tác động của quá trình đô thị hoá đang kéo theo lực lượng lao động rất lớn từ khu vực nông thôn ra thành thị để tìm kiếm việc làm, vì nơi này có điều kiện làm việc và đời sống cao hơn.

Như vậy, việc tạo công ăn việc làm cho khu vực hiện đại ở thành thị bằng cách tăng mức tổng cầu có thể sẽ thu hút thêm nhiều người di cư từ nông thôn ra thành thị để kiếm việc làm. Điều này sẽ làm cho tình trạng thất nghiệp ở khu vực thành thị gia tăng, như vậy theo lý thuyết của Keynes thì với những chính sách đưa ra để nhằm tăng sản lượng và tạo thêm công ăn việc làm thực ra lại có thể làm giảm toàn bộ mức công ăn việc làm và sản lượng quốc dân. + Trong một số trường hợp nếu tăng trưởng việc làm có thể lại dẫn đến tình trạng làm chậm tăng trưởng sản lượng, thậm chí lại làm giảm sản lượng. - Lý thuyết về tạo việc làm bằng chuyển giao lao động giữa hai khu vực của nền kinh tế [46].

Tư tưởng cơ bản của lý thuyết này là chuyển số lao động dư thừa từ khu vực nông nghiệp sang khu vực công nghiệp hiện đại do hệ thống tư bản nước ngoài đầu tư vào các nước lạc hậu. Quá trình này sẽ tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển. Bởi vì trong khu vực nông nghiệp, đất đai chật hẹp, lao động lại quá dư thừa. Ngoài số lao động cần đủ cho sản xuất nông nghiệp, còn có lao động thừa làm các ngành nghề lặt vặt, buôn bán nhỏ, phục vụ trong gia đình và lao động phụ nữ.

Số lao động dôi dư này không có công ăn việc làm. Nói cách khác, họ không có tiền lương và thu nhập.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ