Tác động của nợ công đến an ninh kinh tế ở Việt Nam

Luận án tiến sĩ kinh tế phân tích tác động của nợ công đến an ninh kinh tế ở việt nam, xây dựng cơ sở lý luận, kiểm chứng thực nghiệm, đóng góp tri thức mới cho ngành.

Chuyên ngành

Kinh tế chính trị

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2019

208
2
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN TÁC ĐỘNG CỦA NỢ CÔNG ĐẾN AN NINH KINH TẾ

1.1. NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN TÁC ĐỘNG CỦA NỢ CÔNG ĐẾN AN NINH KINH TẾ

1.1.1. Nhóm các công trình đã công bố ở nước ngoài

1.1.2. Nhóm các công trình đã công bố ở trong nước

1.2. NHỮNG KHOẢNG TRỐNG CẦN ĐƯỢC NGHIÊN CỨU TRONG LUẬN ÁN

1.2.1. Những kết quả nghiên cứu đã được khẳng định

1.2.2. Những vấn đề cần tiếp tục làm rõ

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA NỢ CÔNG ĐẾN AN NINH KINH TẾ

2.1. NỢ CÔNG TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG

2.1.1. Đặc điểm của nợ công

2.1.2. Phân loại nợ công

2.2. TÁC ĐỘNG CỦA NỢ CÔNG ĐẾN AN NINH KINH TẾ QUỐC GIA

2.2.1. Một số khái niệm

2.2.2. Những tác động chủ yếu của nợ công đến an ninh kinh tế quốc gia

2.2.3. Phân loại tác động của nợ công đến an ninh kinh tế

2.2.4. Tiêu chí đánh giá tác động của nợ công đến an ninh kinh tế

2.2.5. Chủ thể kiểm soát tác động của nợ công đến an ninh kinh tế

2.3. KINH NGHIỆM PHÁT HUY TÁC ĐỘNG TÍCH CỰC, GIẢM THIỂU TÁC ĐỘNG TIÊU CỰC CỦA NỢ CÔNG ĐẾN AN NINH KINH TẾ MỘT SỐ QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM

2.3.1. Kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới

2.3.2. Bài học cho Việt Nam

3. CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG TÁC ĐỘNG CỦA NỢ CÔNG ĐẾN AN NINH KINH TẾ Ở VIỆT NAM

3.1. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH NỢ CÔNG Ở VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI

3.1.1. Tình hình nợ công ở Việt Nam từ 1986 đến 2010

3.1.2. Tình hình nợ công ở Việt Nam giai đoạn 2011 đến 31/12/2017

3.2. NHỮNG TÁC ĐỘNG CHỦ YẾU CỦA NỢ CÔNG ĐẾN AN NINH KINH TẾ CỦA VIỆT NAM

3.2.1. Tác động tích cực của nợ công đến an ninh kinh tế

3.2.2. Tác động tiêu cực của nợ công đến an ninh kinh tế

3.3. ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA NỢ CÔNG ĐẾN AN NINH KINH TẾ Ở VIỆT NAM

4. CHƯƠNG 4: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT HUY TÁC ĐỘNG TÍCH CỰC, GIẢM THIỂU TÁC ĐỘNG TIÊU CỰC CỦA NỢ CÔNG ĐẾN AN NINH KINH TẾ Ở VIỆT NAM ĐẾN 2030

4.1. PHƯƠNG HƯỚNG

4.1.1. Một số dự báo

4.1.2. Phương hướng

4.2. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT HUY TÁC ĐỘNG TÍCH CỰC, GIẢM THIỂU TÁC ĐỘNG TIÊU CỰC CỦA NỢ CÔNG ĐẾN AN NINH KINH TẾ Ở VIỆT NAM ĐẾN 2030

4.2.1. Giải pháp phát huy tác động tích cực

4.2.2. Giải pháp hạn chế tác động tiêu cực

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Tác Động của Nợ Công Đến An Ninh Kinh Tế

Đa số các nghiên cứu đều thống nhất rằng nợ công có cả tác động tích cực và tiêu cực đến an ninh kinh tế (ANKT) của mỗi quốc gia. Nguy cơ từ nợ công không chỉ đến từ các quốc gia nghèo, đang phát triển mà còn ở các quốc gia phát triển cao như Mỹ, Trung Quốc. Tùy vào thể chế và điều kiện của mỗi quốc gia để xây dựng chiến lược, kế hoạch và giải pháp nhằm phát huy tác động tích cực, hạn chế tác động tiêu cực của nợ công đến ANKT. Tuy nhiên, những nguy hiểm từ nợ công đối với ANKT vẫn luôn rình rập, đặc biệt sau khủng hoảng nợ công tại Hy Lạp, Ailen và một số nước Châu Âu. Nhiều quốc gia đã phải tập trung mọi nguồn lực để hạn chế, khắc phục những tác động tiêu cực, chẳng hạn như chính phủ Hy Lạp đã phải triển khai hàng loạt các biện pháp hà khắc. Hàng loạt các quốc gia như Sri Lanka, Turkmenistan, Djibuoti đã phải nhượng bộ các lợi ích quốc gia và chủ quyền cho chủ nợ vì mất khả năng tài chính. Các nước trong khu vực Đông Nam Á như Philippin hay Malaysia đang phải chật vật đối phó với “bẫy nợ” từ các khoản đầu tư trên tuyến hành lang “Vành đai - Con đường” từ chính phủ Trung Quốc. Có thể nói, tác động của nợ công đến ANKT các quốc gia trên thế giới đang khiến nhiều chính phủ đau đầu để tìm cách giải quyết nhằm đảm bảo ANKT quốc gia và an toàn nợ công.

1.1. Nghiên cứu Tác động Nợ Công ở Các Nước Phát Triển

Các quốc gia phát triển cao cũng đối mặt với những thách thức từ nợ công. Mặc dù có nền kinh tế mạnh mẽ hơn, nhưng quy mô nợ công lớn có thể gây ra nhiều vấn đề như tăng lãi suất, giảm đầu tư tư nhân và ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế. Các chính phủ phải cân bằng giữa việc sử dụng nợ công để kích thích kinh tế và duy trì sự ổn định tài chính. Việc quản lý hiệu quả nợ công là yếu tố then chốt để đảm bảo an ninh tài chínhổn định kinh tế vĩ mô.

1.2. Bài Học Từ Khủng Hoảng Nợ Công Châu Âu Kinh Nghiệm

Khủng hoảng nợ công tại Hy Lạp và các nước Châu Âu khác đã cho thấy những hậu quả nghiêm trọng của việc quản lý nợ công yếu kém. Các biện pháp thắt lưng buộc bụng và cắt giảm chi tiêu công đã gây ra những tác động tiêu cực đến xã hội và kinh tế. Bài học rút ra là cần phải có sự minh bạch trong quản lý nợ công, chính sách tài khóa kỷ luật và cải cách thể chế để ngăn chặn khủng hoảng nợ công.

II. Thực Trạng Nợ Công Việt Nam Thách Thức An Ninh Kinh Tế

Đối với Việt Nam, từng là một nước nghèo, bị chiến tranh tàn phá nặng nề, các nguồn vốn vay từ nợ công qua các nguồn ODA, ưu đãi nước ngoài đã góp phần quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và phát triển kinh tế, hàn gắn vết thương chiến tranh, đẩy nhanh quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, đưa Việt Nam thoát khỏi ngưỡng một nước nghèo vào năm 2011. Tuy nhiên, giai đoạn hiện nay, nợ công Việt Nam tăng quá nhanh, tăng gấp 3 lần tốc độ tăng trưởng kinh tế, cùng với thâm hụt ngân sách nhà nước (NSNN) của Việt Nam đang ở mức trung bình chung 5%. Nợ công năm 2016 đạt 63,7% GDP, gần chạm ngưỡng an toàn 65% GDP; năm 2017, nợ công giảm xuống còn 61,3 % GDP, tuy nhiên vẫn cao hơn so với khuyến cáo mức an toàn nợ công của các nước đang phát triển từ 30 - 40% GDP [53]. Bên cạnh đó, do Việt Nam đã dừng nhận các khoản vay ưu đãi từ Hiệp hội phát triển Quốc tế (IDA) thuộc Ngân hàng Thế giới (WB), và sắp tới sẽ tốt nghiệp ADF (dừng nhận các khoản vay ưu đãi từ Quỹ phát triển châu Á (ADF) thuộc Ngân hàng phát triển châu Á (ADB), đồng nghĩa với các khoản vay nước ngoài ưu đãi, ODA sẽ ngừng hẳn buộc phải thay bằng các gói vay thương mại có thời gian ân hạn ngắn, lãi suất cao, tạo ra những rủi ro nợ công đe dọa ANKT.

2.1. Nợ Công và Tăng Trưởng Kinh Tế Mối Quan Hệ

Việt Nam đã sử dụng nợ công để tài trợ cho các dự án đầu tư công, góp phần vào tăng trưởng GDP và cải thiện cơ sở hạ tầng. Tuy nhiên, việc nợ công tăng nhanh hơn tăng trưởng kinh tế đặt ra câu hỏi về tính bền vững của mô hình này. Cần phải xem xét lại hiệu quả của việc sử dụng vốn vay và đảm bảo rằng các dự án đầu tư công mang lại lợi ích kinh tế thực sự.

2.2. Ảnh Hưởng của Dừng Vay Ưu Đãi Đến An Ninh Tài Chính

Việc Việt Nam dừng nhận các khoản vay ưu đãi từ IDA và ADF đồng nghĩa với việc phải chuyển sang các nguồn vay thương mại với lãi suất cao hơn và thời gian trả nợ ngắn hơn. Điều này tạo ra áp lực lớn lên ngân sách nhà nước và có thể dẫn đến rủi ro nợ công. Cần phải có các giải pháp để đa dạng hóa nguồn vốn và tăng cường quản lý nợ công để giảm thiểu rủi ro.

2.3. Rủi Ro Từ Nguồn Vay Thương Mại Lãi Suất Cao Phân Tích

Các khoản vay thương mại thường đi kèm với lãi suất cao hơn và thời gian ân hạn ngắn, làm tăng gánh nặng trả nợ cho chính phủ. Việc này có thể ảnh hưởng đến khả năng chi tiêu cho các lĩnh vực quan trọng khác như giáo dục, y tế và an sinh xã hội. Cần phải thận trọng trong việc lựa chọn các khoản vay thương mại và đảm bảo rằng chúng được sử dụng một cách hiệu quả.

III. Giải Pháp Kiểm Soát Rủi Ro Nợ Công Ổn Định An Ninh Kinh Tế

Những khó khăn trong huy động vốn vay trong nước cũng đặt Chính phủ trước những rủi ro và lo ngại về bền vững tài khóa. Những yếu kém trong thống kê, quản lý, sử dụng nợ công; tình trạng tội phạm tham nhũng, lãng phí, những hiện tượng tiêu cực như đội vốn, chậm tiến độ trong sử dụng vốn vay nợ công tại các công trình, dự án trọng điểm đang tác động sâu sắc đến tư tưởng và niềm tin quốc gia cũng như hạng mức tín nhiệm quốc tế, tạo điều kiện cho kẻ địch lợi dụng xuyên tạc, phá hoại. Trước yêu cầu của lý luận và thực tiễn, xét thấy cần có nghiên cứu chuyên sâu nhằm đánh giá tác động của nợ công đến ANKT của Việt Nam, từ đó đề xuất các phương hướng, giải pháp thiết thực, khả thi nhằm đảm bảo ANKT quốc gia.

3.1. Hoàn Thiện Thống Kê Quản Lý Nợ Công Hướng Dẫn Chi Tiết

Việc thống kê và quản lý nợ công một cách minh bạch và chính xác là yếu tố then chốt để đảm bảo an ninh tài chính. Cần phải có hệ thống theo dõi và đánh giá nợ công hiệu quả, đồng thời tăng cường kiểm tra, giám sát việc sử dụng vốn vay. Việc công khai thông tin về nợ công sẽ giúp tăng cường trách nhiệm giải trình và ngăn ngừa tham nhũng.

3.2. Nâng Cao Hiệu Quả Sử Dụng Vốn Vay Phương Pháp Thực Hiện

Việc sử dụng vốn vay một cách hiệu quả là yếu tố quan trọng để đảm bảo tăng trưởng kinh tế bền vững và giảm rủi ro nợ công. Cần phải lựa chọn các dự án đầu tư công có tính khả thi cao và mang lại lợi ích kinh tế thực sự. Đồng thời, cần phải tăng cường quản lý dự án và ngăn ngừa tình trạng đội vốn, chậm tiến độ.

3.3. Phòng Chống Tham Nhũng Trong Quản Lý Nợ Công Giải Pháp

Tham nhũng trong quản lý nợ công có thể làm giảm hiệu quả sử dụng vốn vay và tăng gánh nặng trả nợ cho chính phủ. Cần phải có các biện pháp phòng chống tham nhũng hiệu quả, bao gồm tăng cường kiểm tra, giám sát, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm và cải cách thủ tục hành chính.

IV. Phát Huy Tác Động Tích Cực Nợ Công Để Tăng Trưởng Kinh Tế

Việc sử dụng hiệu quả nợ công có thể tạo ra những tác động tích cực đến ANKT. Vốn vay nợ công có thể được sử dụng để đầu tư vào các dự án cơ sở hạ tầng, phát triển nguồn nhân lực và hỗ trợ các ngành kinh tế mũi nhọn. Điều này góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm và nâng cao đời sống người dân. Tuy nhiên, cần phải đảm bảo rằng các dự án đầu tư công mang lại lợi ích kinh tế thực sự và được quản lý một cách minh bạch và hiệu quả.

4.1. Đầu Tư Vào Cơ Sở Hạ Tầng Động Lực Tăng Trưởng Kinh Tế

Đầu tư công vào cơ sở hạ tầng như đường xá, cầu cống, cảng biển và sân bay có thể tạo ra những tác động lan tỏa đến các ngành kinh tế khác, thúc đẩy tăng trưởng GDP và cải thiện năng lực cạnh tranh của quốc gia. Tuy nhiên, cần phải lựa chọn các dự án cơ sở hạ tầng có tính khả thi cao và được quản lý một cách hiệu quả.

4.2. Phát Triển Nguồn Nhân Lực Chất Lượng Cao Chiến Lược

Nợ công có thể được sử dụng để đầu tư vào giáo dục, đào tạo nghề và nâng cao trình độ chuyên môn của người lao động. Điều này giúp tạo ra nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế dựa trên tri thức.

4.3. Hỗ Trợ Các Ngành Kinh Tế Mũi Nhọn Phương Án Thực Hiện

Chính phủ có thể sử dụng nợ công để hỗ trợ các ngành kinh tế mũi nhọn như công nghệ cao, năng lượng tái tạo và du lịch. Điều này giúp tạo ra những động lực mới cho tăng trưởng kinh tế và nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.

V. Giảm Thiểu Tác Động Tiêu Cực Nợ Công Để Bảo Vệ An Ninh

Bên cạnh những tác động tích cực, nợ công cũng có thể gây ra những tác động tiêu cực đến ANKT, đặc biệt là khi nợ công vượt quá ngưỡng an toàn hoặc được sử dụng một cách kém hiệu quả. Các tác động tiêu cực có thể bao gồm tăng áp lực trả nợ, giảm khả năng chi tiêu cho các lĩnh vực quan trọng khác, gây ra lạm phát và ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái. Do đó, cần phải có các giải pháp để giảm thiểu tác động tiêu cực của nợ công và bảo vệ ANKT.

5.1. Tăng Cường Khả Năng Trả Nợ Giải Pháp Nào Hiệu Quả

Để tăng cường khả năng trả nợ, chính phủ cần phải tăng thu ngân sách nhà nước thông qua việc cải cách hệ thống thuế, mở rộng cơ sở thuế và tăng cường quản lý thuế. Đồng thời, cần phải kiểm soát chặt chẽ chi tiêu ngân sách nhà nước và ưu tiên các khoản chi có hiệu quả kinh tế cao.

5.2. Ổn Định Kinh Tế Vĩ Mô Chính Sách Tiền Tệ và Tài Khóa

Chính sách tiền tệ và tài khóa cần được điều hành một cách linh hoạt và hiệu quả để ổn định kinh tế vĩ mô và kiểm soát lạm phát. Ngân hàng Nhà nước cần phải điều hành chính sách tiền tệ một cách thận trọng để duy trì sự ổn định của tỷ giá hối đoái và kiểm soát lạm phát.

5.3. Đa Dạng Hóa Nguồn Vốn Hướng Đến Phát Triển Bền Vững

Để giảm sự phụ thuộc vào nợ công, cần phải đa dạng hóa nguồn vốn thông qua việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), khuyến khích đầu tư tư nhân và phát triển thị trường vốn trong nước. Điều này giúp tạo ra những nguồn vốn ổn định và bền vững cho tăng trưởng kinh tế.

VI. Kết Luận Tương Lai Quản Lý Nợ Công và An Ninh Kinh Tế

Việc quản lý nợ công một cách hiệu quả là yếu tố then chốt để đảm bảo ANKT và phát triển kinh tế bền vững. Việt Nam cần phải tiếp tục cải cách hệ thống quản lý nợ công, tăng cường minh bạch và trách nhiệm giải trình, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn vay và đa dạng hóa nguồn vốn. Đồng thời, cần phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa chính sách tiền tệ và tài khóa để ổn định kinh tế vĩ mô và kiểm soát lạm phát. Chỉ khi đó, Việt Nam mới có thể tận dụng được những lợi ích từ nợ công và giảm thiểu những rủi ro tiềm ẩn.

6.1. Cải Cách Thể Chế Để Quản Lý Nợ Công Hiệu Quả Hơn

Cải cách thể chế là yếu tố quan trọng để nâng cao hiệu quả quản lý nợ công. Cần phải hoàn thiện hệ thống pháp luật về nợ công, tăng cường năng lực cho các cơ quan quản lý nợ công và khuyến khích sự tham gia của xã hội vào quá trình quản lý nợ công.

6.2. Nâng Cao Năng Lực Cạnh Tranh Quốc Gia Yếu Tố Quan Trọng

Để giảm sự phụ thuộc vào nợ công, cần phải nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia thông qua việc cải thiện môi trường kinh doanh, giảm chi phí giao dịch và khuyến khích đổi mới sáng tạo. Điều này giúp thu hút đầu tư nước ngoài và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế dựa trên năng suất.

6.3. Hướng Đến Phát Triển Bền Vững Ưu Tiên Hàng Đầu

Quản lý nợ công cần phải gắn liền với mục tiêu phát triển bền vững. Cần phải ưu tiên các dự án đầu tư công có tác động tích cực đến môi trường và xã hội, đồng thời đảm bảo rằng nợ công không gây ra gánh nặng quá lớn cho các thế hệ tương lai.

23/05/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến tác động của nợ công đến an ninh kinh tế Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn về tác động của nợ công đến an ninh kinh tế Chương 3: Thực trạng tác động của nợ công đến an ninh kinh tế ở Việt Nam Chương 4: Phƣơng hƣớng và giải pháp phát huy tác động tích cực, giảm thiểu tác động tiêu cực của nợ công đến an ninh kinh tế ở Việt Nam đến 2030. 6 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN TÁC ĐỘNG CỦA NỢ CÔNG ĐẾN AN NINH KINH TẾ 1. NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN TÁC ĐỘNG CỦA NỢ CÔNG ĐẾN AN NINH KINH TẾ 1. Nhóm các công trình đã công bố ở nƣớc ngoài Nghiên cứu về tác động của nợ công (Public debt) đến ANKT hiện có rất nhiều công trình nghiên cứu của các học giả trong và ngoài nƣớc dƣới các góc độ khác nhau, tác giả khái quát đƣợc một số công trình sau: 1.

Nhóm công trình nghiên cứu về an ninh kinh tế Luận án tiến sĩ kinh tế của Nemtsov Alexander Gennadievich (2004): “Nợ công trong hệ thống an ninh tài chính Nga”, nghiên cứu trên đã khẳng định rằng Chính phủ vay nợ công là hình thức văn minh nhất để thu hút các nguồn tài chính và bổ sung sự thiếu hụt nguồn lực tài chính cho đầu tƣ phát triển, tuy nhiên, việc sử dụng không hiệu quả các khoản vay của chính phủ làm tăng nợ và gánh nặng thuế đối với các doanh nghiệp và dân số của cả nƣớc trong hiện tại và trong tƣơng lai. Ngoài ra, nợ tài chính của chính phủ có thể hạn chế đáng kể tăng trƣởng kinh tế và làm trầm trọng thêm căng thẳng xã hội, vì số tiền đƣợc phân bổ cho đầu tƣ và phát triển xã hội đƣợc giảm xuống; Sự phụ thuộc của nhà nƣớc vào các chủ nợ, đặc biệt là các chủ nợ nƣớc ngoài và các tổ chức tài chính và tiền tệ quốc tế, sẽ làm gia tăng ảnh hƣởng trong việc ra quyết định kinh tế và chính trị độc lập. Luận án cũng đƣa ra giải pháp để hạn chế tác động tiêu cực của nợ công đến an ninh tài chính (ANTC) quốc gia [95]. Những nghiên cứu của luận án mang đến những gợi ý quan trọng cho tác giả trong đánh giá tác động của nợ công đến ANKT ở Việt Nam.

Nghiên cứu của V. Senchagov (2005) “An ninh kinh tế của Nga” tại Trung tâm nghiên cứu tài chính, ngân hàng và kinh tế thị trƣờng xã hội - Viện hàn lâm khoa học tự nhiên. Đây là công trình nghiên cứu tổng thể, toàn diện về ANKT của Nga đƣợc tác giả trình bày trong 9 phần, 59 chƣơng, qua đó kết luận rằng hệ thống ANKT bao gồm bảy khối: khái niệm và chiến lƣợc an ninh quốc gia; Lợi ích quốc gia của Nga trong lĩnh vực kinh tế; các mối đe dọa kinh tế; các chỉ số an ninh kinh tế; ngƣỡng chỉ báo; cơ cấu tổ chức; an ninh pháp lý về an ninh kinh tế. Hệ thống 7 này đƣợc thiết kế để đánh giá và dự đoán các mối đe dọa quan trọng nhất đối với lợi ích quốc gia của Nga trong lĩnh vực kinh tế và xác định các biện pháp đẩy lùi các mối đe dọa này và điều chỉnh các cơ quan chính phủ với các điều kiện và thách thức mới của phát triển sau công nghiệp toàn cầu.

Các yếu tố cụ thể của hệ thống, thành phần và cấu trúc của nó có thể đƣợc thay đổi có tính đến phân tích chỉ thị và dự báo về an ninh kinh tế…[91]. Nghiên cứu này cũng đƣa ra những gợi ý quan trọng về chính sách trong đảm bảo ANKT trên các nội dung cụ thể. Nghiên cứu của V.G Nikitenko và cộng sự đƣợc ban hành bởi Viện Hàn lâm quốc gia Belarus (2009): “An ninh kinh tế: Lý thuyết, phương pháp, thực hành”; trong công trình này các tác giả đã nghiên cứu các vấn đề liên quan đến việc hình thành cơ chế tổ chức kinh tế để đảm bảo an ninh kinh tế của Belarus, xác định thành phần và cấu trúc của nó trong bối cảnh các điều khoản lý thuyết và phƣơng pháp hiện có, các thành tố và công cụ cổ điển để tối ƣu hóa quan hệ kinh tế hiện đại trong nông nghiệp, công nghiệp, tài chính, hành chính và các quy trình có thể đƣợc tích hợp vào hệ thống an ninh kinh tế tổng thể cũng nhƣ trở thành phần tử của nó. Công trình nghiên cứu đã cung cấp những kiến thức cơ bản về khái niệm ANKT theo quan điểm của các nhà khoa học Nga; khái quát các mối đe dọa về ANKT; các khía cạnh lý thuyết và phƣơng pháp luận đảm bảo an ninh kinh tế trong giai đoạn khủng hoảng tài chính [92].

Công trình đƣa ra nhiều gợi ý cho tác giả trong nghiên cứu, tổng hợp khung lý thuyết và phân tích thực trạng tác động của nợ công đến ANKT trong chƣơng 2 và chƣơng 3 của luận án. Nghiên cứu của O. Nikolaichuk (2014): “Ảnh hưởng của nợ công đối với an ninh kinh tế của Nga”. Nghiên cứu này bàn về an ninh tài chính Nga, đặc biệt là các quy trình tài chính và tác động của nó đến ANKT nƣớc Nga trong giai đoạn từ 2007 - 2013.

Nghiên cứu đƣa ra những kết luận quan trọng liên quan đến sự phục hồi tăng trƣởng của nền kinh tế Nga sau khủng hoảng, đặc biệt là sự phục hồi tài chính và sự thăng hạng của chỉ số xếp hạng tín dụng quốc tế của Nga. Việc thực hiện các khoản vay trên thị trƣờng vốn quốc tế nói chung góp phần giải quyết nhiệm vụ chiến lƣợc mở rộng vòng tròn của các nhà đầu tƣ, đa dạng hóa nguồn tài chính THNS và hình thành đƣờng cong lợi nhuận đại diện cho tất cả khách hàng Nga. Tuy nhiên, việc thiếu tập trung vào con đƣờng phát triển, thiếu sự tăng trƣởng trong lĩnh vực thực của 8 nền kinh tế và sự gia tăng nợ công sẽ là nguyên nhân của việc chuyển các khoản nợ mới thành lập sang các thế hệ tƣơng lai, và các khoản vay hiện nay có thể trở thành nguyên nhân của khủng hoảng kinh tế trong tƣơng lai. Trong nghiên cứu này, tác giả cũng đƣa ra những đánh giá cho rằng tất cả những biểu hiện về nợ công của Nga hiện nay cho thấy rằng nƣớc Nga hiện đại đã đạt đến giới hạn trên của khoản vay có thể và sự tăng thêm của nó sẽ ảnh hƣởng đến môi trƣờng đầu tƣ, gia tăng nợ công và kết quả là suy giảm ANKT của đất nƣớc [93].

Luận án tiến sĩ của Tomaselli, Matteo (2018): Tăng trưởng kinh tế và nợ công: Vượt ra ngoài ngưỡng nợ. Các vấn đề lý thuyết và thực nghiệm”. Nghiên cứu này khảo sát các tài liệu lý thuyết liên quan đến nợ công và tăng trƣởng kinh tế, nhằm tìm kiếm một ngƣỡng nợ phù hợp, đồng thời duy trì đƣợc ngƣỡng tỷ lệ nợ/GDP phù hợp nhằm đảm bảo tăng trƣởng kinh tế. Qua nghiên cứu các ngƣỡng nợ của nhiều tác giả trong và ngoài nƣớc, tác giả kết luận rằng không có kết luận một chiều cho mối quan hệ giữa nợ công và tăng trƣởng kinh tế, mà nó luôn diễn ra trên hai chiều là tích cực và tiêu cực.

Nghiên cứu cũng sử dụng các phƣơng pháp thực nghiệm qua các mô hình, dự liệu của 25 quốc gia Đông Âu và Tây Âu từ năm 1999 đến 2015 để cố gắng tìm đƣợc mối liên hệ giữa nợ công và tăng trƣởng ngoài nhân tố ngƣỡng nợ. Các kết quả nghiên cứu đã cung cấp nhiều kiến thức bổ ích cho nghiên cứu sinh trong nghiên cứu tác động của nợ công đến ANKT [87]. Đánh giá: Các công trình nghiên cứu của các tác giả quốc tế về an ninh kinh tế đã đƣa ra đƣợc những phân tích, đánh giá toàn diện về an ninh kinh tế nhƣ: khái niệm, cấu trúc của ANKT, nội dung của ANKT, các biện pháp đảm bảo ANKT trƣớc tác động của nợ công và khủng hoảng tài chính. Những nghiên cứu trên đã cung cấp cơ sở lý luận quan trọng, đƣa ra những gợi ý quan trọng cho tác giả trong quá trình thực hiện đề tài luận án.

Nhóm công trình nghiên cứu về tác động tiêu cực của nợ công đến an ninh kinh tế Nghiên cứu của Krugman (1988) và Sachs (1989), đã nghiên cứu tác động của nợ công lên tăng trƣởng kinh tế ở những quốc gia có nền kinh tế đang phát triển thông qua sự tác động của nợ nƣớc ngoài, một yếu tố đƣợc xem là có vai trò quan trọng trong cấu trúc nợ công. Giả thuyết nghiên cứu đƣợc các tác giả đặt ra là “số 9 dư nợ quá mức” nhằm đề cập đến tình trạng khi nghĩa vụ nợ là gánh nặng của một quốc gia. Và gánh nặng này đã gây áp lực trả nợ cho quốc gia cũng nhƣ gây ra hiệu ứng thoái lui đầu tƣ, nghiên cứu này đã đƣa ra nhiều gợi ý quan trọng cho tác giả trong nghiên cứu tác động của nợ công đến ANKT [84]. Nghiên cứu của T.

Chekushina (2005), “Đánh giá tác động của nợ nước ngoài đối với an ninh kinh tế quốc gia”, nghiên cứu này đƣa ra những đánh giá về tác động của nợ nƣớc ngoài đối với ANKT Nga trên cơ sở sự tƣơng tác của các khoản vay nƣớc ngoài của nhà nƣớc với các lĩnh vực có liên quan của nền kinh tế của đất nƣớc. Nghiên cứu này khẳng định rằng sự nguy hiểm của sự tăng trƣởng quá mức của nợ nƣớc ngoài sẽ ảnh hƣởng đến ngân sách nhà nƣớc, hệ thống tiền tệ và uy tín quốc tế của đất nƣớc, làm gia tăng các căng thẳng và ảnh hƣởng đến tính bền vững của ANKT quốc gia. Theo đó, việc vay nợ quá mức của chính phủ dẫn đến hiệu ứng lấn át. Hiệu ứng này bao gồm việc thay thế nhu cầu cá nhân của nhà nƣớc do sự gia tăng trong việc vay của chính phủ, tức là khu vực tƣ nhân đang bị nhà nƣớc đổ ra khỏi thị trƣờng (kể cả từ thị trƣờng tài chính); nếu sử dụng nợ công nhƣ một công cụ tài trợ ngân sách nhà nƣớc (NSNN) sẽ làm tăng chi tiêu của chính phủ, tạo ra sự khủng hoảng về niềm tin của nhà đầu tƣ vào chính sách, sẽ làm hạn chế nhu cầu về khối lƣợng chứng khoán của chính phủ trong tƣơng lai; nếu sử dụng vốn vay của chính phủ nhƣ là một sự thay thế thu thuế sẽ dẫn đến sự gia tăng biến động về quy mô nợ công.

Nghiên cứu cũng đƣa ra nhiều phân tích, đánh giá nhận định quan trọng từ nợ công, nợ nƣớc ngoài đến ngân sách nhà nƣớc, hệ thống tiền tệ và niềm tin quốc gia [94].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ