Luận án tiến sĩ kinh tế: Ảnh hưởng thâm nhập ngân hàng nước ngoài đến cạnh tranh và hiệu quả NHTM Việt Nam - Nguyễn Thanh Phong, ĐH Kinh tế TP. Hồ Chí Minh

Phân tích ảnh hưởng của sự thâm nhập ngân hàng nước ngoài đến NHTM Việt Nam. Tác động, cơ hội và thách thức trong thị trường tài chính.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2021

206
0
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về thâm nhập ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam

Thâm nhập ngân hàng nước ngoài là quá trình các tổ chức tín dụng quốc tế thiết lập hiện diện tại thị trường nội địa thông qua nhiều phương thức đa dạng. Các phương thức bao gồm mở chi nhánh, thành lập ngân hàng con, mua cổ phần hoặc sáp nhập với ngân hàng trong nước. Tại Việt Nam, quá trình này diễn ra mạnh mẽ sau khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới năm 2007. Cam kết mở cửa thị trường dịch vụ tài chính đã tạo điều kiện thuận lợi cho ngân hàng nước ngoài tiếp cận thị trường nội địa. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đóng vai trò quan trọng trong việc quản lý và giám sát hoạt động thâm nhập này. Các quy định pháp lý về tỷ lệ sở hữu, điều kiện cấp phép và yêu cầu vốn được ban hành nhằm đảm bảo sự phát triển ổn định của hệ thống ngân hàng. Mức độ thâm nhập được đo lường qua nhiều chỉ tiêu như số lượng chi nhánh, tỷ lệ sở hữu vốn, tổng tài sản và thị phần tín dụng. Bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng đặt ra yêu cầu cấp thiết về nghiên cứu tác động của hiện tượng này đối với hệ thống tài chính trong nước.

1.1. Khái niệm và phương thức thâm nhập ngân hàng nước ngoài

Thâm nhập ngân hàng nước ngoài được hiểu là sự hiện diện của tổ chức tín dụng có trụ sở chính tại quốc gia khác hoạt động kinh doanh tại thị trường nội địa. Phương thức thâm nhập主要包括开设分行、设立子银行、参股合资或并购国内银行。Mỗi phương thức mang đặc điểm riêng biệt về mức độ kiểm soát, rủi ro và tiềm năng sinh lời. Tại Việt Nam, hình thức mua cổ phần chiến lược phổ biến hơn cả do giới hạn tỷ lệ sở hữu nước ngoài theo quy định pháp luật. Ngân hàng nước ngoài thường lựa chọn phương thức phù hợp với chiến lược kinh doanh và điều kiện thị trường mục tiêu.

1.2. Động cơ và lý thuyết giải thích thâm nhập ngân hàng nước ngoài

Lý thuyết nội tại hóa giải thích rằng ngân hàng nước ngoài thâm nhập để khai thác lợi thế sở hữu đặc thù. Các lợi thế này bao gồm công nghệ tiên tiến, kỹ năng quản trị rủi ro và sản phẩm dịch vụ đa dạng. Lý thuyết theo khách hàng chỉ ra rằng ngân hàng mở rộng hoạt động theo nhu cầu của khách hàng đa quốc gia. Lý thuyết tìm kiếm cơ hội nhấn mạnh việc tiếp cận thị trường mới có tốc độ tăng trưởng cao. Tại Việt Nam, động cơ thâm nhập chủ yếu xuất phát từ tiềm năng tăng trưởng kinh tế, dân số trẻ và tỷ lệ sử dụng dịch vụ ngân hàng còn thấp so với khu vực.

II. Phân tích ảnh hưởng của thâm nhập ngân hàng nước ngoài đến cạnh tranh

Thâm nhập ngân hàng nước ngoài tác động đa chiều đến mức độ cạnh tranh của thị trường ngân hàng nội địa. Ngân hàng nước ngoài sở hữu nhiều lợi thế cạnh tranh vượt trội so với ngân hàng trong nước. Tiềm lực tài chính mạnh mẽ cho phép ngân hàng nước ngoài cung cấp sản phẩm với giá cạnh tranh hơn. Công nghệ hiện đại giúp nâng cao chất lượng dịch vụ và trải nghiệm khách hàng. Kỹ năng quản trị hiệu quả giảm chi phí vận hành và tăng khả năng sinh lời. Sản phẩm dịch vụ đa dạng đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách hàng. Theo nghiên cứu của Nguyễn Thanh Phong năm 2021, thâm nhập ngân hàng nước ngoài làm tăng mức độ cạnh tranh của thị trường ngân hàng Việt Nam. Kết quả này phù hợp với các nghiên cứu quốc tế tại các nước đang phát triển. Tuy nhiên, mức độ tác động phụ thuộc vào phương thức thâm nhập và đặc điểm thị trường nội địa. Cạnh tranh gia tăng buộc ngân hàng trong nước phải cải thiện hiệu quả hoạt động để tồn tại. Áp lực cạnh tranh thúc đẩy quá trình đổi mới sáng tạo trong toàn hệ thống ngân hàng.

2.1. Tác động tích cực của thâm nhập ngân hàng nước ngoài đến cạnh tranh

Thâm nhập ngân hàng nước ngoài tạo ra hiệu ứng cạnh tranh tích cực đối với thị trường nội địa. Ngân hàng trong nước被迫 phải nâng cao chất lượng dịch vụ để giữ chân khách hàng. Áp lực cạnh tranh促使 ngân hàng nội địa cải thiện quy trình quản trị rủi ro. Chuyển giao công nghệ từ ngân hàng nước ngoài带动 sự phát triển của整个 hệ thống. Khách hàng được hưởng lợi từ sản phẩm đa dạng và giá cả cạnh tranh hơn. Hiệu ứng示范促使 ngân hàng trong nước áp dụng tiêu chuẩn quốc tế trong hoạt động kinh doanh.

2.2. Thách thức từ cạnh tranh ngân hàng nước ngoài đối với ngân hàng nội địa

Ngân hàng nội địa面临 nhiều thách thức khi cạnh tranh với ngân hàng nước ngoài. Chất lượng nhân sự cao cấp bị ảnh hưởng do sự dịch chuyển lao động sang ngân hàng nước ngoài. Thị phần tín dụng có xu hướng giảm特别是在 phân khúc khách hàng doanh nghiệp lớn. Ngân hàng nhỏ gặp khó khăn trong việc duy trì tỷ suất lợi nhuận trước áp lực cạnh tranh. Rủi ro hệ thống có thể gia tăng nếu ngân hàng nội địa không适应 được môi trường cạnh tranh mới. Cần có chính sách hỗ trợ hợp lý để平衡 giữa mở cửa và bảo vệ ngân hàng trong nước.

III. Phương pháp nghiên cứu ảnh hưởng thâm nhập đến hiệu quả ngân hàng

Nghiên cứu sử dụng phương pháp định lượng kết hợp với phân tích dữ liệu bảng để đánh giá tác động. Mẫu dữ liệu bao gồm các ngân hàng thương mại Việt Nam hoạt động trong giai đoạn 2006-2019. Chỉ số Lerner được sử dụng để đo lường mức độ cạnh tranh của thị trường ngân hàng. Hiệu quả hoạt động của ngân hàng được đánh giá qua nhiều tiêu chí khác nhau. Các tiêu chí bao gồm tỷ suất lợi nhuận trên tài sản, tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu và biên lợi nhuận ròng. Phương pháp GMM hệ thống được áp dụng để xử lý vấn đề nội sinh trong mô hình. Biến giải thích chính là mức độ thâm nhập của ngân hàng nước ngoài được đo bằng nhiều chỉ tiêu. Các biến kiểm soát bao gồm đặc điểm ngân hàng và yếu tố kinh tế vĩ mô. Kết quả nghiên cứu cho thấy thâm nhập ngân hàng nước ngoài có ảnh hưởng đáng kể đến hiệu quả. Mức độ tác động khác nhau tùy thuộc vào quy mô và loại hình ngân hàng nội địa.

3.1. Mô hình kinh tế lượng và biến số nghiên cứu

Mô hình nghiên cứu được xây dựng dựa trên nền tảng lý thuyết cấu trúc-cách hành xử-hiệu quả. Biến phụ thuộc là các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả hoạt động ngân hàng thương mại. Biến giải thích chính đo lường mức độ thâm nhập của ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam. Biến kiểm soát bao gồm quy mô ngân hàng, tỷ lệ nợ xấu, tăng trưởng tín dụng và lạm phát. Phương pháp GMM hệ thống giúp khắc phục vấn đề nội sinh và tự tương quan trong dữ liệu bảng. Kiểm định Sargan và kiểm tra tự tương quan bậc hai đảm bảo tính hợp lệ của mô hình.

3.2. Kết quả phân tích tác động đến hiệu quả ngân hàng thương mại

Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng thâm nhập ngân hàng nước ngoài có tác động dương đến hiệu quả ngân hàng nội địa. Ngân hàng thương mại có quy mô lớn hưởng lợi nhiều hơn từ cạnh tranh với ngân hàng nước ngoài. Tỷ lệ sở hữu nước ngoài ở mức vừa phải mang lại hiệu quả tích cực nhất cho ngân hàng nội địa. Ảnh hưởng tích cực thể hiện rõ nét hơn ở nhóm ngân hàng cổ phần thương mại nhà nước. Ngân hàng nhỏ面临 thách thức lớn hơn trong việc cải thiện hiệu quả dưới áp lực cạnh tranh. Kết quả này cung cấp cơ sở khoan học cho việc hoạch định chính sách quản lý nhà nước.

IV. Kết luận và hàm ý chính sách cho hệ thống ngân hàng Việt Nam

Nghiên cứu khẳng định thâm nhập ngân hàng nước ngoài tác động tích cực đến cạnh tranh và hiệu quả hệ thống ngân hàng nội địa. Ngân hàng trong nước cần chủ động nâng cao năng lực cạnh tranh thông qua nhiều giải pháp đồng bộ. Đầu tư công nghệ ngân hàng số là ưu tiên hàng đầu để cải thiện chất lượng dịch vụ. Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao giúp ngân hàng nội địa cạnh tranh hiệu quả hơn. Đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của khách hàng. Cơ quan quản lý nhà nước cần hoàn thiện khung pháp lý về hoạt động ngân hàng nước ngoài. Chính sách mở cửa cần được thực hiện từng bước có lộ trình phù hợp với năng lực nội tại. Giám sát an toàn hệ thống cần được tăng cường để防范 rủi ro tiềm ẩn. Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng cần được thúc đẩy một cách chủ động. Phát triển thị trường vốn giúp giảm áp lực phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng. Tầm nhìn dài hạn hướng tới hệ thống ngân hàng hiện đại và hội nhập quốc tế.

4.1. Hàm ý chính sách cho cơ quan quản lý nhà nước

Ngân hàng Nhà nước cần xây dựng lộ trình mở cửa thị trường ngân hàng một cách hợp lý. Quy định về tỷ lệ sở hữu nước ngoài cần được điều chỉnh phù hợp với điều kiện thực tế. Cơ chế giám sát an toàn hệ thống cần được tăng cường để防范 rủi ro hệ thống. Chính sách hỗ trợ ngân hàng nhỏ và yếu kém cần được xem xét để đảm bảo sự phát triển cân đối. Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực giám sát ngân hàng cần được đẩy mạnh. Xây dựng tiêu chuẩn Basel III giúp nâng cao năng lực chống chịu rủi ro của toàn hệ thống.

4.2. Chiến lược phát triển cho ngân hàng thương mại nội địa

Ngân hàng thương mại nội địa cần xây dựng chiến lược phát triển dài hạn để cạnh tranh hiệu quả. Đầu tư vào công nghệ ngân hàng số giúp nâng cao trải nghiệm khách hàng và giảm chi phí. Phát triển sản phẩm dịch vụ phù hợp với đặc điểm thị trường Việt Nam tạo lợi thế cạnh tranh riêng. Xây dựng thương hiệu mạnh giúp ngân hàng nội địa giữ vững lòng tin của khách hàng. Hợp tác liên kết giữa các ngân hàng nội địa giúp tăng cường sức mạnh cạnh tranh tập thể. Đào tạo phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao là yếu tố then chốt cho sự phát triển bền vững.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

21/04/2026
Luận án tiến sĩ kinh tế ảnh hưởng của thâm nhập ngân hàng nước ngoài đến cạnh tranh và hiệu quả của các ngân hàng thương mại việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 đã trình bày tổng quan về luận án và xác định 2 câu hỏi nghiên cứu. Chương này sẽ hệ thống hóa cơ sở lý thuyết và khảo cứu các nghiên cứu thực nghiệm về ảnh hưởng của thâm nhập NHNNg đến cạnh tranh và hiệu quả của các NHTM trong nước làm cơ sở cho việc phát hiện khe hở nghiên cứu và phát triển các giả thuyết liên quan đến 2 câu hỏi nghiên cứu. THÂM NHẬP CỦA NGÂN HÀNG NƯỚC NGOÀI 2. Khái niệm về thâm nhập của ngân hàng nước ngoài Toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế đã làm xuất hiện các ngân hàng đa quốc gia.

Đây là những ngân hàng sở hữu và kiểm soát hoạt động kinh doanh ngân hàng ở hai hay nhiều nước. Quá trình đầu tư kinh doanh của các ngân hàng này vào một quốc gia được gọi là thâm nhập của NHNNg. Thâm nhập của NHNNg có thể hiểu là quá trình mà các ngân hàng ở một quốc gia (nước đầu tư) thành lập và hoạt động tại một quốc gia khác (nước nhận đầu tư) bằng hình thức mở chi nhánh, liên doanh với ngân hàng trong nước, thành lập ngân hàng con hoặc mua cổ phần thông qua hoạt động mua lại và sáp nhập (Clarke, 2005; Makino và cộng sự, 2007; Slangen và Hennart, 2008). Lý thuyết về động cơ thâm nhập của ngân hàng nước ngoài Có 2 quan điểm lý thuyết chính giải thích về động cơ thúc đẩy NHNNg thâm nhập vào một quốc gia đó là theo sau khách hàng và tìm kiếm cơ hội đầu tư để nâng cao lợi nhuận.

Quan điểm theo sau khách hàng cho rằng thâm nhập của NHNNg là để phục vụ khách hàng của họ khi khách hàng của ngân hàng đầu tư vào quốc gia mà NHNNg thâm nhập (Grubel, 1977). Mục tiêu của NHNNg khi thâm nhập vào một 8 quốc gia là nhằm tiếp tục duy trì mối quan hệ giữa ngân hàng với các công ty mẹ tại nước đầu tư. Khi các công ty mẹ thành lập chi nhánh ở nước nhận đầu tư, NHNNg sẽ thâm nhập vào quốc gia đó để ngăn chặn các chi nhánh của các công ty này chuyển sang ngân hàng mới. Nhờ lợi thế về mối quan hệ từ trước với khách hàng tại nước đầu tư, các ngân hàng có nhiều thông tin về hoạt động kinh doanh của khách hàng, điều này giúp giảm phí dịch vụ, cũng như giảm rủi ro cho ngân hàng.

Khách hàng của ngân hàng cũng có xu hướng duy trì mối quan hệ với các ngân hàng có mối quan hệ từ trước, nhằm tránh chi phí phát sinh từ việc phải cung cấp thông tin của mình cho ngân hàng mới (Lewis, 1991). Quan điểm thứ hai cho rằng động cơ thâm nhập của NHNNg là tìm kiếm cơ hội nâng cao lợi nhuận (Aliber, 1984; Goldberg và Saunder, 1981). Lập luận chính của quan điểm này là NHNNg sẽ thâm nhập vào một quốc gia nếu nhận thấy môi trường kinh doanh ở đó có triển vọng phát triển và đạt được lợi nhuận kỳ vọng. NHNNg có công nghệ vượt trội, tiềm lực tài chính mạnh, uy tín cao, nguồn nhân lực, kỹ năng quản lý và chất lượng dịch vụ tốt hơn, mạng lưới rộng khắp, kiến thức và kinh nghiệm trong hoạt động đa quốc gia, tính chuyên nghiệp trong việc phục vụ từng loại khách hàng sẽ giúp họ giành được thị phần từ các ngân hàng trong nước và thu được lợi nhuận cao hơn (Cho, 1986; Yannopoulos, 1983).

Ngoài 2 lý thuyết chính giải thích động cơ thâm nhập của NHNNg nêu trên, một số lý thuyết khác cho rằng động cơ thâm nhập của NHNNg là nhằm phân tán rủi ro. Qian và Delios (2008) nghiên cứu trong trường hợp lý thuyết đầu tư quốc tế cho rằng các ngân hàng mở rộng hoạt động quốc tế để tận dụng lợi thế trên thị trường nước ngoài và giảm thiểu những bất lợi và rủi ro tại thị trường trong nước. García- Herrero và Vazquez (2013) lập luận trong lý thuyết danh mục đầu tư rằng việc đa dạng hóa đầu tư ở các vị trí địa lý khác nhau có thể làm giảm rủi ro kinh doanh và rủi ro tài chính do chu kỳ kinh doanh, cấu trúc lãi suất, và biến động tỷ giá hối đoái, do đó, các NHNNg sẽ thâm nhập vào ngành ngân hàng ở nhiều quốc gia khác nhau nhằm giảm thiểu rủi ro trong hoạt động kinh doanh. 9 Tóm lại, các lý thuyết giải thích động cơ thâm nhập của NHNNg đều cho rằng cơ sở để một NHNNg thâm nhập vào một quốc gia là ngân hàng đó sở hữu lợi thế về công nghệ, sức mạnh tài chính, uy tín, nguồn nhân lực và kỹ năng quản trị hiệu quả, và động cơ cho việc thâm nhập của NHNNg là theo sau khách hàng và tìm kiếm lợi nhuận.

Nếu động cơ thâm nhập của NHNNg là theo sau khách hàng thì NHNNg sẽ ít cạnh tranh trực tiếp đối với các ngân hàng trong nước, còn trong trường hợp động cơ thâm nhập của NHNNg là tìm kiếm lợi nhuận sẽ tạo ra sức ép cạnh tranh rất lớn lên các ngân hàng trong nước. Phương thức thâm nhập của ngân hàng nước ngoài NHNNg thường sử dụng 2 phương thức thâm nhập vào một quốc gia là phương thức thành lập cơ sở kinh doanh mới và phương thức mua lại và sáp nhập (Clarke, 2005; Slangen và Hennart, 2008). Phương thức thành lập cơ sở kinh doanh mới được thực hiện dưới hình thức mở văn phòng đại diện, chi nhánh NHNNg, thành lập ngân hàng 100% vốn nước ngoài hoặc ngân hàng liên doanh. Văn phòng đại diện là đơn vị phụ thuộc hoạt động trên cơ sở vốn và uy tín của ngân hàng mẹ ở nước ngoài; chi nhánh NHNNg cũng là đơn vị phụ thuộc, không có tư cách pháp nhân, được NHNNg bảo đảm chịu trách nhiệm về mọi nghĩa vụ, cam kết của chi nhánh NHNNg ở nước nhận đầu tư; khác với văn phòng đại diện và chi nhánh, ngân hàng con 100% vốn nước ngoài và ngân hàng liên doanh có tư cách pháp nhân, hoạt động trên vốn tự có của mình.

Cerutti và cộng sự (2007) cho rằng các NHNNg sẽ hoạt động dưới hình thức chi nhánh nếu nước nhận đầu tư có quy định hạn chế NHNNg thâm nhập và có mức thuế cao hơn nước đầu tư, và hình thức ngân hàng con thường được áp dụng trong trường hợp NHNNg muốn kinh doanh bán lẻ. Trong khi đó, Makino và cộng sự (2007) cho rằng NHNNg có thể thâm nhập bằng hình thức thành lập ngân hàng liên doanh với ngân hàng trong nước, với hình thức này NHNNg sẽ tiết kiệm được chi phí điều tra thị trường, tư vấn chính sách và tìm hiểu môi trường kinh doanh có liên quan đến ngành ngân hàng trong nước. 10 Kim và Gray (2009) cho rằng nếu hoạt động của ngân hàng trong nước phát triển mạnh mẽ và văn hóa kinh doanh của ngân hàng trong nước và NHNNg không tương đồng, thì NHNNg sẽ thâm nhập bằng phương thức thành lập cơ sở kinh doanh mới. Ưu điểm của phương thức thành lập cơ sở kinh doanh mới là tránh được việc kế thừa những tồn tại từ tổ chức cũ như các hợp đồng cho vay chưa giải ngân, sự khác biệt về cơ cấu tổ chức, văn hóa kinh doanh và hệ thống công nghệ không tương thích (Dikova và Van Witteloostuijn, 2007; Slangen và Hennart, 2008).

Tuy nhiên, phương thức này có nhược điểm là NHNNg mất nhiều thời gian để am hiểu thị trường, xây dựng thương hiệu, và thiết lập mối quan hệ với khách hàng. Phương thức mua lại và sáp nhập được thực hiện thông qua việc NHNNg tiến hành mua lại và sáp nhập với một ngân hàng sẵn có trong nước. Phương thức này thường được sử dụng khi thị trường chứng khoán của nước thu hút đầu tư đã được hình thành và phát triển, các NHNNg ít am hiểu về thị trường ngân hàng nội địa (Bhaumik và Gelb, 2003). Phương thức mua lại và sáp nhập có ưu điểm là tận dụng được uy tín và lượng khách hàng sẵn có, nhưng có nhược điểm là rất khó dung hòa sự khác biệt trong văn hóa tổ chức và phương thức hoạt động giữa các bên với nhau.

Theo Van Tassel và Vishwasrao (2007) NHNNg thích thâm nhập bằng phương thức mua lại và sáp nhập hơn lập cơ sở kinh doanh mới, vì chi phí cho việc xử lý các tồn tại của tổ chức cũ trong hoạt động mua lại và sáp nhập thường thấp hơn các lợi ích có được từ việc sở hữu nguồn dữ liệu sẵn có về khách hàng, kiến thức thị trường và uy tín đã được xây dựng từ trước. Đo lường thâm nhập của ngân hàng nước ngoài Có 2 phương pháp đo lường thâm nhập của NHNNg là phương pháp tổng hợp và phương pháp không gian phân bổ. Phương pháp tổng hợp đo lường thâm nhập của NHNNg bằng tỷ lệ số lượng và tỷ lệ tài sản của NHNNg. Số lượng NHNNg Tỷ lệ số lượng NHNNg = Tổng số ngân hàng của toàn ngành 11 Tài sản NHNNg Tỷ lệ tài sản NHNNg = Tổng tài sản của toàn ngành Phương pháp tổng hợp được nhiều nghiên cứu thực nghiệm sử dụng (Barajas và cộng sự, 2000; Claessens và cộng sự, 2001; Claessens và Lee, 2003; Denizer, 2000; Lensink và Hermes, 2004; Lien và cộng sự, 2015; Pham và Nguyen, 2020; Manlagñit, 2011; Shen và cộng sự, 2009; Unite và Sullivan, 2003).

Phương pháp không gian phân bổ đo lường thâm nhập của NHNNg thông qua chỉ số tiếp xúc giữa NHNNg và ngân hàng trong nước. Xu (2011) là người đầu tiên đề xuất phương pháp không gian phân bổ khi xây dựng chỉ số tiếp xúc thay cho phương pháp tổng hợp, vì cho rằng phương pháp tổng hợp chỉ nắm bắt sự hiện diện của NHNNg ở phạm vi tổng thể, không phản ánh mức độ tiếp xúc về mặt địa lý của một ngân hàng cụ thể trong nước với NHNNg. Chỉ số tiếp xúc được tính bằng tỷ lệ giữa số chi nhánh NHNNg tại một địa phương với tổng số chi nhánh NHNNg mà một ngân hàng trong nước tiếp xúc. Luo và cộng sự (2017) đã bổ sung cách tính chỉ số tiếp xúc để xác định chính xác mức độ tiếp xúc qua mạng lưới chi nhánh.

Chỉ số tiếp xúc chi nhánh được tính bằng tỷ lệ giữa tổng số chi nhánh NHNNg tại tất cả các địa phương mà một ngân hàng trong nước có chi nhánh với tổng số chi nhánh NHNNg mà một ngân hàng trong nước tiếp xúc. Phương pháp không gian phân bổ được phát triển gần đây và chú trọng nhiều đến yếu tố tiếp xúc về mặt địa lý giữa NHNNg và ngân hàng trong nước, tuy nhiên điều kiện để áp dụng phương pháp này là trong giai đoạn nghiên cứu các NHNNg không bị giới hạn trong việc mở chi nhánh, và có đầy đủ thông tin dữ liệu về mạng lưới chi nhánh của NHNNg và ngân hàng trong nước.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ