Luận án tiến sĩ khoa học giáo dục bồi dưỡng kỹ năng ứng dụng công nghệ thông tin trong tổ chức hoạt động giáo dục cho giáo viên mầm non

Luận án tiến sĩ nghiên cứu phương pháp bồi dưỡng kỹ năng ứng dụng CNTT cho giáo viên mầm non, nâng cao chất lượng giảng dạy hiệu quả.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2022

203
0
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BỒI DƯỠNG KỸ NĂNG ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC CHO GIÁO VIÊN MẦM NON

1.1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề

1.2. Một số khái niệm công cụ

1.3. Ứng dụng công nghệ thông tin trong tổ chức hoạt động giáo dục cho trẻ mẫu giáo

1.4. Kỹ năng ứng dụng công nghệ thông tin trong tổ chức hoạt động giáo dục trẻ mẫu giáo

1.5. Bồi dưỡng giáo viên mầm non về kỹ năng ứng dụng công nghệ thông tin trong tổ chức hoạt động giáo dục trẻ mẫu giáo

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG BỒI DƯỠNG KỸ NĂNG ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC CHO GIÁO VIÊN MẦM NON

2.1. Tổ chức khảo sát

2.2. Kết quả khảo sát

2.3. Thực trạng kỹ năng ứng dụng công nghệ thông tin trong tổ chức hoạt động giáo dục của giáo viên mầm non

2.4. Nguyên nhân của thực trạng

2.5. Thực trạng bồi dưỡng kỹ năng ứng dụng công nghệ thông tin trong tổ chức hoạt động giáo dục cho giáo viên mầm non

2.6. Nhu cầu của giáo viên mầm non về bồi dưỡng kỹ năng ứng dụng công nghệ thông tin trong tổ chức hoạt động giáo dục cho trẻ mẫu giáo

3. CHƯƠNG 3: XÂY DỰNG NỘI DUNG VÀ QUY TRÌNH BỒI DƯỠNG KỸ NĂNG ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC CHO GIÁO VIÊN MẦM NON

3.1. Nguyên tắc bồi dưỡng

3.2. Nội dung bồi dưỡng kỹ năng ứng dụng công nghệ thông tin trong tổ chức hoạt động giáo dục cho giáo viên mầm non

3.3. Quy trình bồi dưỡng kỹ năng ứng dụng công nghệ thông tin trong tổ chức hoạt động giáo dục cho giáo viên mầm non

3.4. Điều kiện thực hiện

3.5. Thực nghiệm sư phạm

3.5.1. Mục đích thực nghiệm

3.5.2. Khách thể thực nghiệm

3.5.3. Giới hạn thực nghiệm

3.5.4. Tổ chức thực nghiệm

3.5.5. Kết quả thực nghiệm

3.5.5.1. Thực nghiệm vòng 1
3.5.5.2. Thực nghiệm vòng 2

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

NHỮNG CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA LUẬN ÁN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tính cấp thiết của đề tài

Việc bồi dưỡng kỹ năng ứng dụng CNTT cho giáo viên mầm non là một yêu cầu cấp thiết trong bối cảnh hiện đại. Công nghệ thông tin không chỉ giúp giáo viên nâng cao hiệu quả giảng dạy mà còn tạo ra môi trường học tập sinh động cho trẻ. Nghiên cứu chỉ ra rằng, việc ứng dụng CNTT trong hoạt động giáo dục giúp trẻ phát triển tư duy và khả năng sáng tạo. Tuy nhiên, nhiều giáo viên vẫn gặp khó khăn trong việc sử dụng CNTT một cách hiệu quả. Điều này dẫn đến việc cần thiết phải có các chương trình đào tạo giáo viên nhằm nâng cao kỹ năng ứng dụng CNTT. Theo Thông tư số 26/2018/TT-BGDĐT, kỹ năng ứng dụng CNTT đã trở thành một tiêu chí quan trọng trong chuẩn nghề nghiệp của giáo viên mầm non. Do đó, việc nghiên cứu và phát triển các chương trình bồi dưỡng kỹ năng ứng dụng CNTT là rất cần thiết.

II. Mục đích nghiên cứu

Mục đích chính của nghiên cứu này là xây dựng nội dung và quy trình bồi dưỡng kỹ năng ứng dụng CNTT cho giáo viên mầm non. Nghiên cứu nhằm nâng cao khả năng ứng dụng CNTT trong việc thiết kế và triển khai các hoạt động giáo dục cho trẻ mẫu giáo. Đặc biệt, nghiên cứu sẽ tập trung vào việc phát triển các kỹ năng như khai thác thông tin số, thiết kế giáo án và tổ chức các hoạt động giáo dục có ứng dụng CNTT. Việc này không chỉ giúp giáo viên nâng cao trình độ chuyên môn mà còn tạo ra những trải nghiệm học tập phong phú cho trẻ. Nghiên cứu cũng sẽ khảo sát thực trạng kỹ năng ứng dụng CNTT của giáo viên để từ đó đề xuất các giải pháp phù hợp.

III. Thực trạng bồi dưỡng kỹ năng ứng dụng CNTT

Thực trạng hiện nay cho thấy, nhiều giáo viên mầm non chưa có đủ kỹ năng ứng dụng CNTT trong hoạt động giáo dục. Một số giáo viên chỉ thực hiện tốt việc soạn thảo giáo án mà chưa biết cách thiết kế các hoạt động giáo dục có ứng dụng CNTT. Nghiên cứu chỉ ra rằng, nhiều giáo viên vẫn còn lúng túng trong việc sử dụng các phần mềm hỗ trợ giảng dạy. Nguyên nhân chủ yếu là do thiếu các chương trình bồi dưỡng phù hợp và không đáp ứng nhu cầu thực tế của giáo viên. Hơn nữa, một số giáo viên còn có thái độ từ chối việc ứng dụng CNTT trong giảng dạy, dẫn đến việc không khai thác được tiềm năng của công nghệ trong giáo dục. Do đó, việc xây dựng các chương trình bồi dưỡng kỹ năng ứng dụng CNTT là rất cần thiết để nâng cao chất lượng giáo dục mầm non.

IV. Xây dựng nội dung và quy trình bồi dưỡng

Nội dung bồi dưỡng kỹ năng ứng dụng CNTT cho giáo viên mầm non cần được thiết kế dựa trên nhu cầu thực tế và đặc thù của hoạt động giáo dục. Quy trình bồi dưỡng nên bao gồm các bước từ cơ bản đến nâng cao, giúp giáo viên dần dần làm quen và thành thạo các kỹ năng cần thiết. Các hoạt động bồi dưỡng cần được tổ chức linh hoạt, kết hợp giữa lý thuyết và thực hành, tạo điều kiện cho giáo viên có thể áp dụng ngay vào công việc giảng dạy. Việc thực nghiệm sư phạm cũng cần được thực hiện để đánh giá hiệu quả của nội dung và quy trình bồi dưỡng. Điều này sẽ giúp xác định những điểm mạnh và điểm yếu trong chương trình bồi dưỡng, từ đó có những điều chỉnh phù hợp.

V. Kết luận và khuyến nghị

Nghiên cứu về bồi dưỡng kỹ năng ứng dụng CNTT cho giáo viên mầm non là một bước đi quan trọng trong việc nâng cao chất lượng giáo dục mầm non. Việc ứng dụng CNTT không chỉ giúp giáo viên cải thiện kỹ năng giảng dạy mà còn tạo ra môi trường học tập tích cực cho trẻ. Cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ sở giáo dục và các tổ chức đào tạo để xây dựng các chương trình bồi dưỡng phù hợp. Đồng thời, cần có các chính sách hỗ trợ từ Bộ Giáo dục và Đào tạo để đảm bảo rằng tất cả giáo viên đều có cơ hội tham gia các khóa bồi dưỡng này. Điều này sẽ góp phần nâng cao chất lượng giáo dục mầm non trong toàn quốc.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ khoa học giáo dục bồi dưỡng kỹ năng ứng dụng công nghệ thông tin trong tổ chức hoạt động giáo dục cho giáo viên mầm non

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1. Cơ sở lý luận về bồi dưỡng kỹ năng ứng dụng công nghệ thông tin trong tổ chức hoạt động giáo dục cho giáo viên mầm non. Thực trạng bồi dưỡng kỹ năng ứng dụng công nghệ thông tin trong tổ chức hoạt động giáo dục cho giáo viên mầm non. Xây dựng nội dung và quy trình bồi dưỡng kỹ năng ứng dụng công nghệ thông tin trong tổ chức hoạt động giáo dục cho giáo viên mầm non.

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BỒI DƯỠNG KỸ NĂNG ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC CHO GIÁO VIÊN MẦM NON 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề * Nghiên cứu về vai trò của CNTT đối với sự phát triển của trẻ mầm non Nhiều tác giả cho thấy CNTT đem lại thế giới ảo với nhiều môi trường và sự vật, hiện tượng phong phú mà trường học hoặc gia đình không thể có; đồng thời đưa ra nhiều hướng dẫn cụ thể cho việc ứng dụng CNTT trong GDMN như Siraj-Blatchford, I. và Siraj- Blatchford, J, Judy Van Scoter, Belinda Gimbert và Dean Cristol, I Chen Hsu, Ivan Kalas, Pasnik & Lonrente, Gökben Turgut, Clark. Một số tác động cụ thể được xác định trong các nghiên cứu như: sự phát triển nhận thức, ngôn ngữ, tương tác xã hội, sáng tạo [56], [73]; tương tác đồng đẳng giữa trẻ với trẻ, giữa trẻ với GV trong quá trình hoạt động trên máy tính và chọn lựa phần mềm máy tính phù hợp sẽ giúp trẻ phát triển ngôn ngữ, phát triển nhận thức, quản lý xung đột và hợp tác [51].

Để đạt được các hiệu quả trên, nhiều khuyến cáo được đưa ra như: phải lựa chọn phần mềm hợp lý, giám sát nhưng vẫn cho trẻ tự do hoạt động trong giới hạn cho phép; cần đảm bảo sự phối hợp với các hoạt động khác như trò chơi sáng tạo, vận động, âm nhạc, tương tác với môi trường, trò chuyện, trải nghiệm…; không tập trung hoàn toàn vào hoạt động với máy tính; ưu tiên các trò chơi mô phỏng hay đóng vai theo nhân vật trên màn ảnh [73]; phần mềm phải có các nhiệm vụ học tập đóng và mở, thân thiện, có hoạt hình, có thể được tạm dừng hoặc tiếp tục và phản hồi nhanh chóng cho trẻ em để nuôi dưỡng sự quan tâm của trẻ; khi sử dụng phần mềm trò chơi hay chuyện kể, GV phải kết hợp hoạt động thực hành, đồng thời giám sát chặt chẽ trẻ em sử dụng phần mềm và đưa ra hướng dẫn [43, tr. 207]; kết hợp trò chơi vận động, có sự kiểm soát và tham gia của phụ huynh, không tạo những cảm xúc tiêu cực, tránh bạo lực và rập khuôn [52]; kết hợp cho trẻ xem các video và trò chơi được với sự hướng dẫn từ phụ huynh và GV sẽ thúc đẩy việc học tập theo phương pháp STEM [69]; xây dựng một dạng hệ thống các tài liệu giảng dạy trên nền tảng công nghệ cho trẻ mầm non (đó là một nội dung điện tử tương thích với thiết bị bảng tương tác được phát triển bằng cách sử dụng phần mềm Adobe Flash) dựa trên nhu cầu và đặc 10 điểm của trẻ mầm non [50]; khuyến khích tham gia vào việc tạo ra các nội dung này, CNTT có thể giúp trẻ tạo ra các tài liệu và câu chuyện của riêng trẻ, đồng thời, trẻ có thể chia sẻ kinh nghiệm thực tế với bạn bè [45]. Tầm quan trọng của việc ứng dụng CNTT được thể hiện rõ trong bối cảnh dịch bệnh Covid-19, các GVMN cho rằng lợi ích của việc ứng dụng CNTT vào giảng dạy bao gồm: dễ dàng chia sẻ nguồn tài liệu học tập, tạo cơ hội giúp GV cập nhật công nghệ, tổ chức các trò chơi cho trẻ đạt hiệu quả, giúp trẻ có cơ hội học tập các kỹ năng sử dụng các thiết bị công nghệ, tăng cường sự tương tác giữa phụ huynh và GV, kích thích khả năng sáng tạo trong giảng dạy của GV. Sự thiếu tự tin cũng có ảnh hưởng không nhỏ đến kỹ năng ứng dụng CNTT trong tổ chức HĐGD của GV, sự thiếu tự tin có thể xuất hiện khi GV tiếp xúc với các thiết bị lạ hoặc máy móc của người khác (dù chúng tương tự thiết bị đã hoặc đang sử dụng) hoặc khi phải hoạt động trong một môi trường mới hoặc do ít thực hành trên máy tính [39, tr.

Ngoài ra, các yếu tố như sự lo âu, căng thẳng, chương trình đào tạo trước đó không có nội dung liên quan, giới tính và tuổi tác cũng tác động đến kỹ năng ứng dụng CNTT trong tổ chức HĐGD của GV [59], [76]. Về các chỉ số đánh giá, Tổ chức UNESCO ở các quốc gia châu Âu, Thái Lan… đã có nhiều nghiên cứu xây dựng một số khung năng lực ứng dụng CNTT cho GV nói chung, một số tiêu chí khái quát cho GVMN nói riêng. Trong báo cáo “Nhận thức tiềm năng của CNTT và truyền thông trong GDMN” do Ivan Kalas (2010) chủ biên đã trình bày chi tiết về khung năng lực ứng dụng CNTT của GVMN theo ba mức độ: khám phá, sử dụng và tích hợp CNTT [52]. Tuy nhiên, khung đánh giá có một số tiêu chí đòi hỏi chuyên môn rất cao về CNTT như yêu cầu GV phải thành thạo phần mềm đồ họa hoặc một số phần mềm 11 chuyên dụng, trong đó có nhiều phần mềm không phổ biến ở Việt Nam.

Hơn nữa, hình thức ứng dụng CNTT trong tổ chức HĐGD cho trẻ mầm non trong báo cáo cũng có nhiều khác biệt so với thực tế ở nước ta. Do đó, cần có sự điều chỉnh nếu muốn đưa các tiêu chí đánh giá này vào sử dụng trong đánh giá kỹ năng ứng dụng CNTT của GVMN trong tổ chức HĐGD cho trẻ tại Việt Nam. Về cách thức ứng dụng CNTT cụ thể, các nghiên cứu chỉ ra phải lựa chọn phần mềm hợp lý, giám sát nhưng vẫn cho trẻ tự do hoạt động trong giới hạn cho phép; cần đảm bảo sự phối hợp với các hoạt động khác như trò chơi sáng tạo, vận động, âm nhạc, tương tác với môi trường, trò chuyện, trải nghiệm…; không tập trung hoàn toàn vào hoạt động với máy tính; ưu tiên các trò chơi mô phỏng hay đóng vai theo nhân vật trên màn ảnh [73]; phần mềm phải có các nhiệm vụ học tập đóng và mở, thân thiện, có hoạt hình, có thể được tạm dừng hoặc tiếp tục và phản hồi nhanh chóng cho trẻ em để nuôi dưỡng sự quan tâm của trẻ; khi sử dụng phần mềm trò chơi hay chuyện kể, GV cần kết hợp hoạt động thực hành, đồng thời giám sát chặt chẽ trẻ em sử dụng phần mềm và đưa ra hướng dẫn [43, tr. 207]; kết hợp trò chơi vận động, có sự kiểm soát và tham gia của phụ huynh, không tạo những cảm xúc tiêu cực, tránh bạo lực và rập khuôn [52]; kết hợp cho trẻ xem các video và trò chơi được với sự hướng dẫn từ phụ huynh và GV sẽ thúc đẩy việc học tập theo phương pháp STEM [69]; xây dựng một dạng hệ thống các tài liệu giảng dạy trên nền tảng công nghệ cho trẻ mầm non (đó là một nội dung điện tử tương thích với thiết bị bảng tương tác được phát triển bằng cách sử dụng phần mềm Adobe Flash) dựa trên nhu cầu và đặc điểm của trẻ mầm non [50]; khuyến khích tham gia vào việc tạo ra các nội dung này, CNTT có thể giúp trẻ tạo ra các tài liệu và câu chuyện của riêng trẻ, đồng thời, trẻ có thể chia sẻ kinh nghiệm thực tế với bạn bè [45].

Ngoài các cách thức trên, nghiên cứu xây dựng mô hình ứng dụng CNTT tích hợp công nghệ và truyền thông cũng là một xu hướng được quan tâm. Ví dụ: Mô hình lớp học từ xa DET của nhóm tác giả người Nga cung cấp các nội dung giáo dục, đồng thời đảm bảo cơ hội tương tác cho trẻ với sự hỗ trợ của phụ huynh, cơ hội khám phá khoa học và sáng tạo, cơ hội trải nghiệm thực tế ảo. [67] đã được triển khai và bước đầu cho thấy hiệu quả. Nghiên cứu này đặc biệt có ý nghĩa trong việc đi trước đón đầu cho giai đoạn giãn cách xã hội do dịch bệnh Covid-19.

Tuy nhiên, lớp học từ xa theo các mô hình đơn điệu, 12 không đảm bảo cho người học tương tác và phát triển trên nhiều phương diện sẽ gây ra nhiều bất ổn về nhận thức, kỹ năng, tình cảm. đó là kết luận của các tác giả Giovanna Mascheroni, Marium Saeed, Marco Valenza, Davide Cino, Thomas Dreesen, Lorenzo Giuseppe Zaffaroni và Daniel Kardefelt-Winther [74]; Stephanie Carretero, Joanna Napierała, Antonis Bessios, Eve Mägi, Agnieszka Pugacewicz, Maria Ranieri, Karen Triquet, Koen Lombaerts, Nicolas Robledo-Bottcher, Marco Montanari, Ignacio Gonzalez- Vazquez [49] khi nghiên cứu về lớp học trực tuyến trong giai đoạn giãn cách xã hội do Covid-19 ở một số quốc gia trên thế giới. Nghiên cứu này tuy tiến hành với trẻ trên 6 tuổi nhưng cũng có thể kế thừa để rút kinh nghiệm nếu muốn triển khai lớp học ảo cho trẻ mẫu giáo. Về thực trạng ứng dụng CNTT trong HĐGD của GVMN, các nghiên cứu đã chỉ ra rằng các cấp quản lí giáo dục mầm non của tỉnh quan tâm và định hướng cho tất cả GV triển khai ứng dụng CNTT trong các HĐGD ở bậc học này.

Tuy nhiên, do những điều kiện khách quan như cơ sở vật chất, thiết bị eo hẹp, nhất là trình độ và kỹ năng về CNTT của GV vẫn còn hạn chế nên khả năng và hiệu quả ứng dụng chưa cao. * Nghiên cứu về bồi dưỡng kỹ năng ứng dụng CNTT trong tổ chức HĐGD cho GV mầm non Các tác giả Chrystalla Mouza, Leah May Barbuto, Sudha Swaminathan, Jeff Trawick-Smith và June L. Wright, Belinda Gimbert, Dean Cristol, Anne Campbell, Anjali Khirwadkar, Chia Fen Lin. đã tiến hành các nghiên cứu về cách thức bồi dưỡng kỹ năng ứng dụng CNTT trong tổ chức HĐGD cho GVMN.

Một số cách thức được tiến hành như hội thảo, hội thảo kết hợp học trực truyến, bồi dưỡng tập trung, hợp tác thực hiện sản phẩm. Với hình thức hội thảo, theo đề xuất của Chrystalla Mouza và cộng sự, bên cạnh hội thảo về sử dụng các thiết bị, phần mềm máy tính và phần mềm dạy học, phương pháp sư phạm. do các GV cùng và khác cấp học phối hợp thực hiện; hợp tác xây dựng kế hoạch bài học để cùng trao đổi kinh nghiệm về ứng dụng CNTT trong giáo dục cần bổ sung hoạt động GVMN cùng trẻ thực hiện nhiệm vụ “số hóa” những sản phẩm của các học sinh lớp lớn sang dữ liệu điện tử bằng phần mềm học tập theo cách riêng của trẻ [47].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận Án Tiến Sĩ: Bồi Dưỡng Kỹ Năng Ứng Dụng CNTT Cho Giáo Viên Mầm Non là một nghiên cứu chuyên sâu nhằm nâng cao năng lực ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) cho giáo viên mầm non, một lĩnh vực đang ngày càng được chú trọng trong giáo dục hiện đại. Tài liệu này không chỉ phân tích các phương pháp hiệu quả để đào tạo kỹ năng CNTT mà còn đề xuất các giải pháp thực tiễn giúp giáo viên tích hợp công nghệ vào quá trình giảng dạy, từ đó nâng cao chất lượng giáo dục mầm non. Đọc giả sẽ nhận được những hiểu biết sâu sắc về cách thức ứng dụng CNTT trong giáo dục, đồng thời khám phá các công cụ và kỹ thuật mới để phát triển chuyên môn.

Để mở rộng kiến thức về ứng dụng CNTT trong các lĩnh vực khác, bạn có thể tham khảo Nghiên cứu xây dựng cloud storage và vpn trong điện toán đám mây sử dụng devstack luận văn thạc sĩ, một tài liệu chuyên sâu về công nghệ đám mây và mạng riêng ảo. Ngoài ra, Luận văn thạc sĩ kỹ thuật viễn thông phân loại chủ đề bản tin online sử dụng máy học cung cấp cái nhìn chi tiết về ứng dụng máy học trong xử lý thông tin. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ khoa học máy tính sử dụng active learning trong việc lựa chọn dữ liệu gán nhãn cho bài toán speech recognition là một nghiên cứu thú vị về phương pháp học chủ động trong lĩnh vực nhận dạng giọng nói. Mỗi tài liệu này đều là cơ hội để bạn khám phá sâu hơn về các ứng dụng CNTT đa dạng và hiện đại.