Luận án TS Hồ Văn Hải: Khảo sát đặc trưng ngôn ngữ thơ Lục Bát hiện đại

Luận án tiến sĩ khảo sát đặc trưng ngôn ngữ thơ lục bát hiện đại qua tác phẩm của các nhà thơ nổi bật, phân tích sâu sắc và toàn diện.

Chuyên ngành

Ngữ văn

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2004

206
4
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

0.1. Lí do chọn đề tài

0.2. Lịch sử vấn đề

0.3. Nhiệm vụ nghiên cứu

0.4. Phương pháp nghiên cứu

0.5. Đóng góp mới của luận án

1. CHƯƠNG 1: Một số vấn đề chung về ngôn ngữ thơ và ngôn ngữ thơ lục bát hiện đại

1.1. Các bình diện của ngôn ngữ thơ

1.2. Ngôn ngữ thơ trong vận động tạo lập đặc trưng thể loại

1.3. Vai trò và vị trí của thơ lục bát trong nền thi ca dân tộc

1.4. Các xu hướng và những thành tựu lục bát hiện đại tiêu biểu

1.5. Tiểu kết

2. CHƯƠNG 2: Một số biểu hiện ngữ âm mang tính đặc trưng trong âm luật thơ lục bát hiện đại

2.1. Mặt ngữ âm trong thơ

2.2. Âm điệu, vần điệu và nhịp điệu thơ lục bát

2.3. Một số biểu hiện ngữ âm mang tính đặc trưng trong âm luật thơ lục bát hiện đại nhìn từ lục bát Nguyễn Bính, Huy Cận, Tố Hữu, Nguyễn Duy

2.4. Tiểu kết

3. CHƯƠNG 3: Một số phương thức, phương tiện tạo nghĩa đặc trưng trong thơ lục bát hiện đại

3.1. Tiếp thu chất liệu ngôn ngữ dân gian

3.2. Tìm kiếm ngữ liệu và phương thức biểu hiện mới

3.3. “Định ngữ nghệ thuật” như một loại cấu trúc tu từ

3.4. Tiểu kết

Kết luận

Tài liệu tham khảo

Tóm tắt

I. Tổng quan về luận án tiến sĩ khảo sát ngôn ngữ thơ lục bát hiện đại

Luận án tiến sĩ khảo sát một số đặc trưng ngôn ngữ thơ lục bát hiện đại trên tác phẩm của một số nhà thơ nổi tiếng như Nguyễn Bính, Huy Cận, Tố Hữu, và Nguyễn Duy. Thể thơ lục bát không chỉ là một hình thức nghệ thuật mà còn là một phần quan trọng trong văn hóa và tâm hồn dân tộc Việt Nam. Nghiên cứu này nhằm làm rõ những đặc trưng ngôn ngữ của thể thơ này trong bối cảnh hiện đại.

1.1. Đặc trưng ngôn ngữ thơ lục bát trong văn hóa Việt Nam

Thơ lục bát là một trong những thể thơ truyền thống của Việt Nam, mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc. Đặc trưng ngôn ngữ của thể thơ này thể hiện sự hài hòa giữa âm điệu và ý nghĩa, tạo nên sức sống mãnh liệt trong lòng người đọc.

1.2. Vai trò của ngôn ngữ trong thơ lục bát hiện đại

Ngôn ngữ trong thơ lục bát hiện đại không chỉ là phương tiện truyền tải cảm xúc mà còn là công cụ thể hiện tư duy nghệ thuật của tác giả. Nghiên cứu ngôn ngữ thơ lục bát giúp hiểu rõ hơn về sự phát triển của thể loại này trong bối cảnh văn học hiện đại.

II. Những thách thức trong nghiên cứu ngôn ngữ thơ lục bát hiện đại

Mặc dù có nhiều công trình nghiên cứu về thơ lục bát, nhưng vẫn còn nhiều thách thức trong việc phân tích ngôn ngữ của thể thơ này. Các nhà nghiên cứu thường gặp khó khăn trong việc xác định các đặc trưng ngôn ngữ cụ thể và cách thức chúng tương tác với nhau.

2.1. Khó khăn trong việc xác định đặc trưng ngôn ngữ

Việc xác định các đặc trưng ngôn ngữ của thơ lục bát hiện đại gặp nhiều khó khăn do sự đa dạng trong cách sử dụng ngôn ngữ của các tác giả khác nhau. Điều này đòi hỏi các nhà nghiên cứu phải có cái nhìn sâu sắc và toàn diện.

2.2. Thiếu hụt tài liệu nghiên cứu chuyên sâu

Mặc dù có nhiều tài liệu về thơ lục bát, nhưng vẫn thiếu các nghiên cứu chuyên sâu về ngôn ngữ của thể thơ này. Điều này tạo ra một khoảng trống trong việc hiểu rõ hơn về sự phát triển và biến đổi của thơ lục bát trong thời gian qua.

III. Phương pháp nghiên cứu ngôn ngữ thơ lục bát hiện đại

Luận án sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau để phân tích ngôn ngữ thơ lục bát hiện đại. Các phương pháp này bao gồm phân tích ngữ âm, phân tích cấu trúc ngữ nghĩa và so sánh lịch đại.

3.1. Phân tích ngữ âm trong thơ lục bát

Phân tích ngữ âm giúp xác định các đặc trưng âm điệu và nhịp điệu trong thơ lục bát. Điều này không chỉ giúp hiểu rõ hơn về cấu trúc của thể thơ mà còn làm nổi bật tính nghệ thuật của nó.

3.2. Phân tích cấu trúc ngữ nghĩa trong thơ lục bát

Cấu trúc ngữ nghĩa trong thơ lục bát thể hiện sự phong phú và đa dạng của ngôn ngữ. Nghiên cứu này giúp làm rõ cách thức mà các tác giả sử dụng ngôn ngữ để truyền tải cảm xúc và ý tưởng.

IV. Ứng dụng thực tiễn của nghiên cứu ngôn ngữ thơ lục bát

Nghiên cứu ngôn ngữ thơ lục bát không chỉ có giá trị lý thuyết mà còn có ứng dụng thực tiễn trong việc giảng dạy và nghiên cứu văn học. Việc hiểu rõ các đặc trưng ngôn ngữ của thể thơ này có thể giúp nâng cao chất lượng giảng dạy và nghiên cứu văn học Việt Nam.

4.1. Ứng dụng trong giảng dạy văn học

Nghiên cứu ngôn ngữ thơ lục bát có thể được áp dụng trong giảng dạy văn học, giúp học sinh hiểu rõ hơn về thể loại này và phát triển khả năng phân tích văn học.

4.2. Ứng dụng trong nghiên cứu văn học

Các kết quả từ nghiên cứu ngôn ngữ thơ lục bát có thể được sử dụng làm cơ sở cho các nghiên cứu văn học tiếp theo, mở ra hướng đi mới trong việc khám phá các thể loại thơ ca Việt Nam.

V. Kết luận và triển vọng nghiên cứu ngôn ngữ thơ lục bát

Luận án không chỉ chỉ ra các đặc trưng ngôn ngữ của thơ lục bát hiện đại mà còn mở ra triển vọng cho các nghiên cứu tiếp theo. Việc nghiên cứu ngôn ngữ thơ lục bát sẽ góp phần làm phong phú thêm kho tàng văn học Việt Nam.

5.1. Kết luận về đặc trưng ngôn ngữ thơ lục bát

Các đặc trưng ngôn ngữ của thơ lục bát hiện đại thể hiện sự phong phú và đa dạng, đồng thời phản ánh tâm tư, tình cảm của người Việt Nam trong bối cảnh hiện đại.

5.2. Triển vọng nghiên cứu trong tương lai

Nghiên cứu ngôn ngữ thơ lục bát sẽ tiếp tục được mở rộng, với nhiều hướng đi mới và các phương pháp nghiên cứu hiện đại, nhằm làm rõ hơn về vị trí và vai trò của thể thơ này trong văn học Việt Nam.

23/07/2025
Luận án tiến sĩ khảo sát một số đặc trưng ngôn ngữ thơ lục bát hiện đại trên tác phẩm của một số nhà thơ 5 04 08

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu như một sự ngập ngừng, phép lặng giữa dòng thơ dẫn ta đi theo miền hồi tưởng về hình tượng cây tre từ trong quá khứ xa xăm đến hiện tại. Tứ thơ đi dần vào chiều sâu suy tưởng của triết lí dân gian: (Mặc dù) thân gầy guộc, lá mong manh; (nhưng vẫn) nên lũy nên thành; ít. nhiều (mỡ màu ít chắt dồn lâu hóa nhiều); bao nhiêu. Đây là những câu thơ có phương thức tư duy 20 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tương đồng với rất nhiều thành ngữ, tục ngữ, ca dao: Mƣa lâu thấm đất; Năng nhặt chặt bị; (đình/cầu.

Những lời nói cửa miệng dân gian (ca dao, tục ngữ, thành ngữ) xuất hiện một cách tự nhiên làm cho câu thơ lục bát quyện hòa hai sắc thái: tính triết lí nhân sinh (trong cảm hứng của tục ngữ, thành ngữ) và chất trữ tình đằm thắm (trong thi hứng của giai điệu ca dao). Nếu thiết lập quan hệ liên tưởng giữa câu thơ lục bát trong bài với ngôn từ dân gian ta sẽ thấy một hiện tượng tương đồng, tương sinh: Thành ngữ: Lá lành đùm lá rách; chị ngã em nâng. Câu thơ lục bát: Bão bùng thân bọc lấy thân - Tay ôm tay níu tre gần nhau thêm Ca dao, tục ngữ: Một cây làm chẳng nên non.; Ba ngƣời dại hợp lại thành một ngƣời khôn. Câu thơ lục bát: Thƣơng nhau tre không ở riêng - Lũy thành từ đó mà nên hỡi ngƣời Thành ngữ: Nhƣờng cơm sẻ áo; một nắng hai sƣơng.

Câu thơ lục bát: Lƣng trần phơi nắng phơi sƣơng - Có manh áo cộc tre nhƣờng cho con Thành ngữ, tục ngữ: Giỏ nhà ai quai nhà nấy; cha nào con nấy. Câu thơ lục bát: Măng non là búp măng non - Đã mang dáng thẳng thân tròn của tre Kết thúc tứ thơ là một thành ngữ nguyên dạng (chứng tỏ quan hệ liên tưởng giữa lục bát và ca dao trong bài thơ là có thực) được bố trí song hành với vế đầu câu thơ mang chức năng gợi mở vấn đề: Năm qua đi tháng qua đi - Tre già măng mọc có gì lạ đâu. Cấu trúc ngữ nghĩa theo hướng này thể hiện rõ nét kiểu tƣ duy triết luận của một xu hướng mới trong thi ca hiện đại. Câu thơ đã đạt đến độ hoàn mĩ cao: sự biến nhịp thể loại được cộng hưởng bởi nghĩa của từ (năm.) tạo ra ý nghĩa liệt kê tăng cấp.

Năm qua đi rồi tháng qua đi, thời gian vĩnh hằng trong sự vận động tuần hoàn kéo theo sự vĩnh hằng của tre, để Mai sau./ Mai 21 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail./ Đất xanh tre mãi xanh màu tre xanh. Lớp trước già đi, lớp sau thay thế, cho ngàn vạn mai sau tre vẫn phủ màu xanh lên đất nước này. Với một số lượng lớn thành ngữ, tục ngữ dân gian được sử dụng dưới hình thức cấu tạo lại, đến lượt nó, các dòng thơ bị "đồng hóa" để trở thành những thành ngữ, tục ngữ hiện đại. Đây thực sự là một "cuộc sinh hạ" ngôn từ có "tính di truyền" đạt mức cực đại trong một bài thơ.

Điều đó khiến cho nó trở thành độc đáo. Qua đây chúng ta thấy rằng khi đánh giá một bài thơ lục bát, ta không thể xem xét hai mặt ngữ âm - ngữ nghĩa một cách tách rời. Về điểm này Đỗ Đức Hiểu cũng đã nhận định: "tác phẩm văn học là một hệ thống kí hiệu lồng vào nhau, văn bản di động trên nhiều bình diện, chồng chất nhiều hệ thống đan chéo nhau (âm thanh, cú pháp, ngữ nghĩa. Thơ là một cấu trúc ngôn từ trùng điệp" [50, 46].

Các hệ thống, bình diện trong thơ liên kết với nhau bằng những mối quan hệ đa chiều và giá trị của mỗi thành tố cũng được sản sinh từ những mối liên hệ ấy. Điều này còn cho phép ta đi đến một hệ luận khác nữa: khai thác một bình diện, yếu tố nào đó của ngôn ngữ tác phẩm thi ca cũng không thể tách chúng ra khỏi hệ thống mà phải xem xét chúng trên các mối quan hệ khách quan để cuối cùng trả chúng về hệ thống. Ngôn ngữ thơ trong vận động tạo lập đặc trƣng thể loại Đặc trưng thể loại quy định đặc trưng ngôn ngữ. Vì vậy sự vận động tạo thể giúp ta hiểu thêm về đặc điểm ngôn ngữ của một thể thơ nào đó.

Khi nắm được cơ chế tạo thể của thơ, ta có thể biến một bài thơ nào đó từ thể này sang thể khác thông qua các thao tác lựa chọn và kết hợp. Hình thức cuối cùng của tác phẩm là tấm gương phản chiếu tư duy mĩ cảm - ngôn ngữ của chủ thể sáng tạo. Bùi Văn Nguyên và Hà Minh Đức là hai trong số rất ít tác giả đã đưa ra vài nét lớn về đặc điểm ngôn ngữ quy định đặc trưng cảm xúc thi ca trong các thể thơ tiếng Việt. Tuy nhiên hai tác giả này chưa đi sâu phân tích các biểu hiện có tính quy luật của ngôn ngữ trong các thể thơ và quy luật vận động tạo thể trong quá trình sáng tác của nhà thơ.

Trong chuyên luận Ngôn ngữ thơ, Nguyễn Phan Cảnh đã nói về trƣờng nét dƣ của mỗi câu thơ và cơ chế ngâm thơ. Phát hiện này cho phép ta hiểu được cách 22 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thức vận động của ngôn ngữ trong quá trình hình thành đặc trưng thể loại. Dựa vào những biểu hiện về ngữ đoạn được đánh dấu bằng hiện tượng gieo vần, Nguyễn Phan Cảnh cho rằng vận động tạo vần chính là khâu cơ bản nhất của quá trình hình thành thể thơ. Mỗi thể thơ có một kiểu gieo vần (trong những ngữ đoạn ngắn/ dài) đặc trưng.

Nhưng không phải vận động tạo vần đẻ ra thể thơ một cách cơ học, mà hai quá trình này diễn ra đồng thời. Chúng ta có thể nhận diện ra một thể thơ khi căn cứ vào các dấu hiệu vần điệu. Tuy nhiên một số trường hợp việc nhận diện thể thơ qua vần lại gặp rất nhiều khó khăn. Trong bài Tiếng chổi tre của Tố Hữu (Những đêm hè/ Khi ve ve/ Đã ngủ/ Tôi lắng nghe/ Trên đƣờng Trần Phú/ Tiếng chổi tre/ Xao xác/ Hàng me.), Nếu chấp nhận vần lưng thì văn bản thơ sẽ là: Những đêm hè khi ve ve đã ngủ/ Tôi lắng nghe trên đƣờng Trần Phú/ Tiếng chổi tre xao xác hàng me.

Như vậy, trong sáng tác thi ca, thể thơ hình thành không phải như một "sự chọn lọc tự nhiên", mà là sự vận động của các quan hệ nội tại trong những cấu trúc ngôn ngữ dưới sự điều khiển của tâm thức văn hóa - ngôn ngữ cộng đồng. Trong tiếng Việt, quá trình vận động tạo thơ đã hình thành nên các thể thơ 2 tiếng cho đến 12 tiếng. Mặc dù trước đó có văn biền ngẫu song thơ văn xuôi không trở nên phổ biến. Những thể thơ quen thuộc với người Việt là lục bát, song thất lục bát, 5 tiếng, 7 tiếng.

Cơ chế biểu đạt của một văn bản thơ khác xa với cơ chế biểu đạt của một văn bản văn xuôi. Các đơn vị trên trục ngữ đoạn có tính độc lập cao và tự nó đối lập với các yếu tố đồng loại trên trục lựa chọn để tạo ra giá trị. Chính vai trò ưu thế của quan hệ ngữ đoạn đã làm cho ngôn ngữ văn xuôi chỉ thuần túy mang giá trị thông báo (tất nhiên quan hệ ngữ đoạn của ngôn ngữ văn xuôi cũng rất khác so với quan hệ ngữ đoạn của ngôn ngữ thơ). Dưới áp lực tạo thể (nhạc điệu), quan hệ ngữ đoạn trong ngôn ngữ thơ được hiện thực hóa qua hai con đường chính: quan hệ "lỏng" và quan hệ "phi lô gíc".

Khi bị lược bỏ các hư từ hay các từ nghèo thông tin, các đơn vị ngôn ngữ hiện diện trở thành yếu tố tối thiểu có tính độc lập rất cao, quan hệ ngữ đoạn trở nên lỏng ra. Cũng có khi cần đến một kết hợp bất thường để 23 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tạo nghĩa mới cho cấu trúc ngôn ngữ. Lúc này quan hệ ngữ đoạn được thiết lập dựa trên nguyên lý phi lô gíc. Mỗi dòng thơ có thể tương đương với một phán đoán tồn tại trên một tiết tấu và thể hiện bằng một dư âm.

Dư âm là "tiếng vọng" của giá trị ngữ âm được thể hiện bằng tiết tấu. Có thể có câu thơ mang dư âm đi xa, cũng có thể có câu thơ mà dư âm chỉ là một cái gì đó rất mờ nhạt. Câu thơ (trong Bài ca chim Chơ Rao) của Thu Bồn rất gần với văn xuôi: Ăn trái gắm (/) nhớ trái dừa tha thiết Uống vũng suối trong (/) nhớ biển biếc bao la Những đêm mƣa nguồn sấm động Nhớ làm sao (/) tiếng sóng vỗ quanh nhà song lại có sức ngân vang rất lớn. Hiệu quả đó bắt nguồn từ việc cố ý thêm vào một số âm tiết làm cho nhịp của câu thơ dài ra trùng với đơn vị cú pháp của văn xuôi, do đó người đọc có cảm tưởng như đang bơi trên một dòng chảy không dứt của chuỗi ngôn từ đầy ấn tượng.

Tình trạng trên khác xa với những câu thơ ngắn trong bài thơ Lƣợm của Tố Hữu: Chú bé loắt choắt/ Cái xắc xinh xinh/ Cái chân thoăn thoắt/ Cái đầu nghênh nghênh. Những câu thơ trùng với một ngữ đoạn ngắn tạo ra cảm giác nhanh, mạnh, phù hợp với sự miêu tả tính hồn nhiên trong bước chân sáo của cậu bé liên lạc. Tóm lại, sự vận động tạo thể trong ngôn ngữ thơ vừa phụ thuộc vào sự chi phối của hai loại quan hệ khách quan của ngôn ngữ (quan hệ ngữ đoạn và quan hệ liên tưởng), vừa phụ thuộc vào cảm thức nhạc điệu của tác giả. Mỗi thể thơ với bản thể của mình đều tồn tại trong một giới hạn ngữ âm-ngữ nghĩa nhất định.

Mỗi dân tộc đều có một nền thi ca đặc trưng gắn với những thể thơ nhất định. Thơ tiếng Việt có thể 2 tiếng, 4 tiếng, 5 tiếng, 6 tiếng, 7 tiếng, lục bát, song thất lục bát, 8 tiếng, thơ tự do, thơ văn xuôi. Sáng tạo một bài thơ theo một thể nào đấy phần lớn bắt nguồn từ cảm thức ngôn ngữ. Quá trình này vừa phụ thuộc vào tâm lí lứa tuổi, vốn văn hóa, vừa phụ thuộc vào năng lực tư duy nghệ thuật.

Khi vốn văn hóa trở nên thứ yếu và yếu tố tâm lí đóng vai trò hướng đạo thì thơ thường nghiêng 24 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hẳn về cảm xúc. Ngược lại sẽ là thơ trí tuệ, thơ lô gíc. Một bài thơ hay thuộc một thể nào đấy kết tinh cả ba yếu tố kể trên.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ