LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan rằng đây là công trình nghiên cứu của tôi dưới sự hướng dẫn của cán bộ hướng dẫn khoa học. Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận án là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào. Tôi xin cam đoan rằng những phần kế thừa, tham khảo cũng như tham chiếu đều được trích dẫn đầy đủ và nghi rõ nguồn tham khảo cụ thể trong danh mục các tài liệu đã được tham khảo. Tác giả luận án Hoàng Hà Anh LỜI CẢM ƠN Tác giả xin bày tỏ sự biết ơn sâu sắc tới PGS, TS Trần Văn Hợi và TS.
Lý Lan Yên đã tận tình hướng dẫn Tác giả trong suốt quá trình thực hiện Luận án. Tác giả xin bày tỏ sự cảm ơn tới các Thầy, Cô Khoa Kế toán – Học Viện Tài Chính đã giúp đỡ Tác giả trong quá trình học tập và nghiên cứu. Tác giả xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình cán bộ quản lý, nhân sự các phòng ban tại các doanh nghiệp thuộc EVN đã giúp tác giả trong suốt quá trình làm luận án của tác giả. Cuối cùng, Tác giả bày tỏ sự cảm ơn tới Ban lãnh đạo trường Đại Học RMit, những người thân trong gia đình đã tạo điều kiện, động viên, giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận án.
Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu Trong những năm gần đây, nền kinh tế Việt Nam đã có sự phục hồi và phát triển ổn định. Hội nhập kinh tế với thế giới ngày càng sâu và có hiệu quả thiết thực; Thực hiện các Hiệp định kinh tế theo hướng mở cửa hoàn toàn về Thương mại, dịch vụ, đầu tư… đã tạo cho nền kinh tế nước ta những thuận lợi lớn. Song, cũng không ít khó khăn thách thức. Trong bối cảnh đó, đòi hỏi các ngành, các lĩnh vực của nền kinh tế phải luôn luôn phấn đấu đổi mới phương thức sản xuất kinh doanh, áp dụng phương thức quản trị hiện đại nhằm tạo bước phát triển bền vững và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Đối với các doanh nghiệp thuộc tập đoàn Điện lực Việt Nam - một lĩnh vực kinh doanh đặc thù, trong những năm qua đã có nhiều cố gắng trong việc đảm bảo nguồn điện phục vụ cho nhu cầu sản xuất, kinh doanh và nhu cầu đời sống cho dân cư cả nước. Kinh doanh điện trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam hội nhập ngày càng sâu vào nền kinh tế thế giới, càng tạo thêm những cơ hội và những khó khăn, thách thức nhất định đối với các doanh nghiệp thuộc Tập đoàn này. Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) có ngành, nghề kinh doanh chính là: Sản xuất, truyền tải, phân phối và kinh doanh mua bán điện năng. EVN hiện có các công ty con nắm giữ 100% vốn điều lệ là công ty phát điện 1, công ty truyền tải điện quốc gia, công ty TNHH MTV nhiệt điện thủ đức và 05 tổng công ty chịu trách nhiệm phân phối và kinh doanh điện năng đến khách hàng là: Tổng công ty Điện Lực Miền Bắc (EVN NPC), tổng công ty Điện lực Miền Trung (EVN CPC), tổng công ty Điện lực Miền Nam (EVN SPC), tổng công ty Điện lực TP.
Hà Nội (EVN HaNoi), tổng công ty Điện lực TP. Hồ ChíMinh (EVN HCMC). Số còn lại là các công ty chịu trách nhiệm sản xuất, truyền tải điện năng do EVN nắm giữ trên 50% vốn điều lệ và các đơn vị trực thuộc công ty mẹ. Cùng với quá trình hội nhập kinh tế, hệ thống kế toán Việt Nam không ngừng đổi mới và phát triển, từng bước đáp ứng yêu cầu của kinh tế thị trường định hướng XHCN và xu hướng mở cửa, tiếp cận với các nguyên tắc, chuẩn mực kế toán 2 quốc tế.
Bên cạnh những kết quả đạt trong đổi mới công tác kế toán nói chung và nâng cao hiểu biết về kế toán, trong đó có kế toán trách nhiệm là một trong những nội dung cơ bản của kế toán quản trị nhằm giúp nhà quản trị kiểm soát toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp. Tuy nhiên, bài toán đặt ra cho doanh nghiệp Điện hiện nay cần thực hiện tốt việc định hướng phát triển thị trường bán lẻ điện; thực hiện tốt việc xây dựng thị trường bán buôn điện cạnh tranh; thực hiện tốt phát triển điện lưới thông minh tại Việt Nam; thực hiện tách bạch, hạch toán riêng về chi phí giữa hoạt động phân phối điện và hoạt động bán lẻ điện trong các tổng công ty Điện lực hiện nay; xây dựng và quản lý tốt chi phí liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh mua bán điện năng giữa các doanh nghiệp trong tập đoàn… Vậy để làm tốt các hoạt động này, việc xây dựng hệ thống kế toán trách nhiệm tại các doanh nghiệp là điều thật sự cần thiết. Xuất phát từ những vấn đề lý luận và thực tiễn trong hoạt động kinh doanh và trong công tác kế toán nói chung và Kế toán trách nhiệm (KTTN) nói riêng tại các nghiệp thuộc EVN, tác giả lựa chọn đề tài “Kế toán trách nhiệm trong các doanh nghiệp thuộc Tập đoàn điện lực Việt Nam” làm đề tài luận án tiến sỹ kinh tế. Đề tài phù hợp với chuyên ngành đào tạo, mã số 9.01; vừa có ý nghĩa lý luận vừa có ý nghĩa thực tiễn và không trùng lắp với đề tài nào đã nghiên cứu trước đây.
Tổng quan các công trình liên quan 2. Các nghiên cứu khái quát về nội dung và vai trò của kế toán trách nhiệm Kế toán trách nhiệm được thực hành và phát triển trên thế giới từ lâu, tuy nhiên, tại Việt Nam thì kế toán phát triển đã hình thành những sự phát triển và đa dạng về nội dung có những sự khác biệt so với các nước phát triển trên thế giới hay các nước trong khu vực. Luận án thực hiện nghiên cứu và làm rõ giữa các nước ở trên thế giới, cụ thể cả các nước phát triển và đang phát triển. Sau đó, tổng quan tình hình nghiên cứu tại Việt Nam để giúp so sánh, đối chiếu và tìm ra sự kế thừa phù hợp trong nghiên cứu kế tiếp.
Đối với các nghiên cứu KTTN ở nước ngoài, các nghiên cứu cũng đã thực hiện ở cả các nước phát triển và các nước đang phát triển. Sự phát triển về nội dung 3 của KTTN cũng được phát triển theo thời gian. KTTN được nhiều nhà nghiên cứu từ những năm 50 của thế kỷ XX. Điển hình, năm 1952, Higgins (1952) cho rằng KTTN được thiết lập bởi tất cả các cấp trong doanh nghiệp và nó mang tính kiểm soát và khẳng định KTTN là một công cụ để kiểm soát hoạt động và chi phí.
Đây như là những điểm bắt đầu của KTTN trong các doanh nghiệp. Năm 1963, Gordon (1963) cho rằng cơ sở của KTTN là lý thuyết kinh tế về tổ chức và để thực hiện việc áp dụng KTTN trong các doanh nghiệp thì trước hết doanh nghiệp phải thực hiện việc phân cấp, phần quyền trong quản lý đối với tất cả các bộ phận/đơn vị của doanh nghiệp. Vai trò của KTTN được nhấn mạnh trong việc kiểm soát chi phí thông qua việc thu nhận thông tin, xử lý và cung cấp thông tin cho nhà quản trị của doanh nghiệp để đưa ra các quyết định kinh doanh tốt nhất (Bloomfield, Coombs, Cooper, và Rea (1992). Như vậy, những nền móng đầu tiên về KTTN và vai trò của KTTN trong giai đoạn đầu tập trung mạnh mẽ vào giải quyết vấn đề chi phí.
Từ những năm 2000, vai trò của KTTN đã được nghiên cứu rộng khắp các lĩnh vực kinh doanh. Tại Mỹ, một quốc gia phát triển, kết quả nghiên cứu đã khẳng định ảnh hưởng của các yếu tố sản phẩm sản xuất đối, công nghệ đến KTTN, gia tăng tài khoản sử dụng và tách nhóm sản phẩm tại 31 công ty Điện lực Texas Dowd (2001)). Dowd (2001) cho rằng các sản phẩm có tính không thống nhất và càng áp dụng nhiều công nghệ sản xuất khác nhau thì mức độ thu thập và báo cáo chi phí sẽ càng lớn hơn, các trung tâm chi phí cũng cần thiết phải nhiều hơn, dẫn đến các tài khoản chi phí cũng nhiều hơn. Không chỉ ở các nước phát triển, mà ngay ở các nước đang phát triển, thì KTTN cũng đã được áp dụng và nghiên cứu.
Năm 2002, tại Trung Quốc, Lin và Yu (2002) cho rằng hoàn toàn có khả năng ứng dụng KTTN trong điều kiện kinh tế xã hội khác nhau tại các doanh nghiệp ở Trung Quốc. Trong nghiên cứu, các tác giả đã đề cập đến hệ thống kiểm soát chi phí được sử dụng tại công ty sắt thép Han Dan từ đầu những năm 1990 và cho thấy các công ty đã thực hiện một loạt các kỹ thuật của KTQT như Kế toán chi phí, phương pháp định mức và dự toán chi phí, phương pháp đánh giá hiệu quả, phân tích chênh lệch giữa thực tế và dự toán. Nghiên cứu tại Trung Quốc cũng khẳng 4 định, hệ thống kiểm soát chi phí đã tạo điều kiện cho việc kiểm soát tốt các chi phí, làm cho các chi phí được giảm đến mức tối thiểu và gia tăng lợi nhuận tối đa (Lin & Yu, 2002). Tại một quốc gia đang phát triển khác là Bangladesh, Sarker và Yeshmin (2005) cho thấy 33% tổ chức đã thiết lập 4 trung tâm trách nhiệm (TTTN) trong tổ chức của mình, 30% tổ chức thiết lập 3 TTTN: trung tâm chi phí, trung tâm doanh thu và trung tâm đầu tư.
Với nghiên cứu này, tác giả kết luận chỉ có thể áp dụng KTTN trong những tổ chức có phân quyền quản lý cho các bộ phận và có thiết lập các TTTN. Khi đó, các nhà quản trị tại các trung tâm quản lý này sẽ thu được thông tin từ các báo cáo của các trung tâm quản lý đó giúp việc kiểm soát chi phí của các hoạt động mới được chặt chẽ. Rowe & cộng sự (2008) đã tìm hiểu kỹ hơn về các trung tâm trách nhiệm trong một nghiên cứu thực địa kéo dài 9 năm nhằm kiểm tra cách KTTN được sử dụng để quản lý mối quan hệ ngang giữa một số nhà quản lý trung tâm trách nhiệm bao gồm những người làm việc trong các ủy ban hoặc các đội chéo chức năng. Các tác giả tìm thấy bằng chứng nhất quán về mặt lý thuyết cho thấy thiết kế phù hợp với mục tiêu hoặc thiết kế lại kế toán và các thực hành tham gia nói chung và kế toán trách nhiệm nói riêng, phụ thuộc vào quy mô, phạm vi và tốc độ của tổ chức- quá trình thay đổi.