Chương 1. Tổng quan nghiên cứu Chương 2. Cơ sở lý luận về HQĐT nhân lực trong tổ chức Chương 3. Phương pháp nghiên cứu Chương 4.
Kết quả nghiên cứu Chương 5. Luận bàn về kết quả nghiên cứu và một số khuyến nghị. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Các công trình nghiên cứu hiệu quả và hiệu quả đào tạo nhân lực 1.
Các công trình nghiên cứu về hiệu quả - Nguyễn Kim Thúy (1989), trong nội dung của luận án "Nghiên cúu hệ thống chỉ tiêu đo lường hiệu quả kinh tế hoạt động SXKD trong xí nghiệp công nghiệp", hiệu quả được hiểu là “chỉ tiêu so sánh, biểu hiện mức độ tiết kiệm chi phí trong một đơn vị kết quả hữu ích và mức tăng khối lượng kết quả hữu ích của hoạt động sản xuất vật chất trong một thời kỳ, góp phần làm tăng thêm lợi ích xã hội của nền kinh tế quốc dân”. Hiểu theo cách hiểu này, có thể thấy, hiệu quả chỉ có được khi tiết kiệm chi phí đầu vào và tăng thêm cả khối lượng và chất lượng của sản phẩm đầu ra. - Dương Văn Chung (2003) trong luận án "Nghiên cứu về hiệu quả SXKD và một số giải pháp nâng cao hiệu quả SXKD của doanh nghiệp nhà nước xây dựng giao thông " đã tiếp cận hiệu quả theo nhiều cách. Cụ thể là: "Hiệu quả là khái niệm dùng để chỉ mối quan hệ giữa kết quả thực hiện các mục tiêu hoạt động của chủ thể và chi phí mà chủ thể phải bỏ ra để đạt được kết quả đó trong những điều kiện nhất định".
"Hiệu quả là một chỉ tiêu phản ánh mức độ thu lại được kết quả nhằm đạt một mục đích nào đó tương ứng với một đơn vị nguồn lực phải bỏ ra trong quá trình thực hiện hoạt động nhất định". Ngoài ra, tác giả cũng phân loại hiệu quả theo nhiều tiêu chí. Hiệu quả có thể là “hiệu quả tổng hợp”, “hiệu quả kinh tế”, “hiệu quả chính trị xã hội”, hoặc “hiệu quả trực tiếp” và “hiệu quả gián tiếp”, hoặc “hiệu quả tài chính” và “ hiệu quả phi tài chính”. Trong đó, NCS đặc biệt chú ý đến khái niệm về hiệu quả gián tiếp, “hiệu quả gián tiếp là hiệu quả mà một đối tượng nào đó tạo ra cho một đối tượng khác”.
Cách tiếp cận này cũng là khá phù hợp với nội dung luận án của nghiên cứu sinh bởi hiệu quả mà đào tạo mang lại thực chất là hiệu quả gián tiếp. - Bùi Mạnh Cường (2012) trong luận án "Nâng cao hiệu quả đầu tư phát triển từ nguồn vốn ngân sách nhà nước ở Việt Nam" đã xây dựng mô hình mối 11 quan hệ giữa các loại hiệu quả, trong đó, cụ thể tác giả tiếp cận hiệu quả với 4 loại là hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội, hiệu quả môi trường, hiệu quả bền vững. Trong đó, hiệu quả xã hội, môi trường bền vững là những loại hiệu quả gián tiếp được thể hiện trong một thời gian dài. Như vậy, hiệu quả không chỉ đơn giản là hiệu số hoặc thương số của nguồn lực đầu vào và đầu ra được đo ở một thời điểm.
Hiệu quả đôi lúc chưa thể hiện ngay ở kết quả để có thể đo lường. Việc đánh giá hiệu quả theo cách hiểu này từ đó cũng gặp rất nhiều khó khăn. - Nguyễn Đình Hậu (2012) xuất phát từ việc nghiên cứu các quan điểm khác nhau về hiệu quả, tác giả cho rằng hiệu quả cần được gắn với một cụm từ có nghĩa khác như hiệu quả vốn đầu tư, hiệu quả kinh tế, hiệu quả kinh tế xã hội. Nguyên nhân của việc này là bởi bản thân hiệu quả khi đứng riêng rẽ chưa phải là một đại lượng đo được hay đánh giá được, bởi nó có nội dung khác nhau ở những lĩnh vực khác nhau.
Trong nội dung của luận án, hiệu quả được gắn với cụm từ “hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ”, “hiệu quả khoa học”. Về bản chất, có thể thấy hiệu quả khoa học có bản chất tương đối giống “HQĐT” – nội dung mà nghiên cứu sinh nghiên cứu. Bởi, trên thực tế, đây đều là hai hoạt động gắn chặt với vấn đề sản xuất, tái tạo tri thức. Vì vậy, hiệu quả của nó có thể vượt trước nhu cầu trong thực tiễn hoặc không thể hiện giá trị một cách rõ ràng trong kết quả kinh doanh hiện tại của tổ chức.
- Đỗ Huyền Trang (2013) đề cập đến hiệu quả theo hai hướng đó là: + Theo phương pháp truyền thống, hiệu quả chính là kết quả. + Theo cách tiếp cận hiệu quả gắn với mục đích của chủ thể, hiệu quả được hiểu là “một chỉ tiêu phản ánh mức độ thu lại được kết quả nhằm đạt được một mục đích nào đó của chủ thể tương ứng với một đơn vị nguồn lực đã bỏ ra trong quá trình thực hiện”. Nội dung của luận án cũng sử dụng cách tiếp cận trên. Tuy nhiên, tác giả cũng gặp khó khăn khi so sánh giữa các kết quả đầu vào và đầu ra bởi sự khác nhau giữa các đơn vị đo hoặc ảnh hưởng của các yếu tố kinh tế như lạm phát, khủng hoảng….
- Dương Văn Thắng (2013) trong luận án tiến sĩ "Nghiên cứu hiệu quả báo chí trong hoạt động truyền thông về an sinh xã hội ở nước ta thời kỳ hội nhập 12 quốc tế" đề cập đến rất nhiều cách tiếp cận khác nhau về hiệu quả. Tuy nhiên, về bản chất, các cách tiếp cận đều hướng vào việc xác định hiệu quả là kết quả thực hiện một vấn đề, chủ trương chính sách hoặc gắn kết quả đó với các nguồn lực đã sử dụng. Đối với tác giả, trong luận án, tác giả đề cập đến hiệu quả truyền thông của báo chí, “là một hoạt động giao tiếp của con người, có thể thay đổi nhận thức và hành vi, tạo ra sự liên kết xã hội”. Vì vậy, tác giả xác định “hiệu quả truyền thông là kết quả của quá trình truyền thông làm thay đổi nhận thức và hành vi của đối tượng truyền thông, tạo ra sự liên kết xã hội”.
Có thể thấy, với cách tiếp cận này, tác giả đã tiếp cận hiệu quả theo quan điểm truyền thống, và không so sánh với các nguồn lực đầu vào đã bỏ ra. Đây cũng có thể coi là cách tiếp cận hợp lý bởi sự thay đổi nhận thức, hành vi, sự liên kết xã hội có thể đến từ nhiều nguyên nhân khác nhau nên rất khó có thể bóc tách, xác định chính xác nguyên nhân của các kết quả đó. Tổng quan các công trình nghiên cứu về hiệu quả, có thể thấy, có hai cách tiếp cận chính về “hiệu quả”. Theo cách hiểu truyền thống, có thể gắn hiệu quả và kết quả làm một, kết quả càng cao thì hiệu quả càng cao.
Theo cách hiểu thứ hai, hiệu quả được hiểu là sự tương quan giữa nguồn lực đầu vào và các nguồn lực đầu ra. Khi đó, hiệu quả có được khi có kết quả cao cùng với chi phí đầu vào thấp. Ngoài ra, còn một xu hướng khác về hiệu quả cũng có thể được chấp nhận đó là xác định hiệu quả trên cơ sở hiệu quả gián tiếp, hiệu quả đạt được khi các mục tiêu khác đạt được. Các công trình nghiên cứu về hiệu quả đào tạo nhân lực Nói về HQĐT nhân lực, các nhà khoa học đã có rất nhiều nghiên cứu, trong đó, phần lớn chia thành ba xu hướng nghiên cứu như sau: * Xu hướng 1: tập trung vào xây dựng và hoàn thiện mô hình đánh giá.
Các nghiên cứu này tập trung chủ yếu vào việc xây dựng mô hình lý thuyết và kiểm định nó. Phần lớn các nghiên cứu này đến từ các tác giả nước ngoài. Một số công trình nghiên cứu nổi bật như sau: Kirkpatrick. D (1996) trong bài viết với nội dung xem xét đánh giá lại mô hình mà bản thân ông đã xây dựng năm 1959 và trong cuốn sách “Đánh giá chương trình 13 đạo tạo theo Bốn cấp độ” được Kirkpatrick.
D và cộng sự phát hành vào năm 2006 đã khẳng định lại một lần nữa quan điểm xuyên suốt của ông về cách thức tiếp cận vấn đề đánh giá HQĐT theo 4 cấp độ. Ông cho rằng, đây là cách thức tiếp cận toàn diện và hiệu quả khi thực hiện đo lường HQĐT. Ngoài ra, trong cuốn sách được tái bản vào năm 2006, ông và các cộng sự đã đưa ra một số hướng dẫn cho các đối tượng khác nhau như: người học, người làm công tác đào tạo khi cần đánh giá HQĐT. Nội dung cuốn sách cũng giới thiệu 12 nghiên cứu điển hình tại các tổ chức nổi tiếng khi tiến hành đánh giá HQĐT như: Defense Acquisition University, Microsoft, IBM, Toyota, Nextel.
Có thể nói, cuốn sách đã hướng dẫn, minh chứng cụ thể cho quá trình đánh giá HQĐT theo 4 cấp độ. Tuy nhiên, cũng cần nhận thấy rằng ngay cả các nghiên cứu điển hình được tác giả đưa ra có rất nhiều tổ chức chỉ lựa trọng một hoặc một vài cấp độ để đánh giá. Nguyên nhân của thực trạng này có thể đến từ việc thiếu phù hợp của mô hình với các loại hình doanh nghiệp nhất định. Ngoài ra, bản thân Kirkpatrick cũng thừa nhận rằng, áp dụng hoàn toàn cả 4 cấp độ trong thực tế sẽ có những khó khăn nhất định.
Keller (1994) trong bài nghiên cứu "Levels of Evaluation: Beyond Kirkpatrick" đã công nhận mức độ hữu ích của mô hình đánh giá HQĐT Kirpatrick. Bên cạnh đó, tác giả đồng thời cũng lo ngại rằng bốn cấp độ của mô hình Kirpatrick là rất khó đánh giá ở cấp độ 3, 4, hơn nữa nó tương đối hẹp khi chỉ tác động đến tổ chức. Điều này khiến các tổ chức chỉ cố gắng tập trung giải quyết các vấn đề của bản thân tổ chức của mình. Do đó, theo Kaufman & M.
Keller cần tìm ra một cách tiếp cận thống nhất hơn và có thể tích hợp lợi ích với các tổ chức khác. Ví dụ như các cải tiến kỹ thuật, sáng kiến công việc, định hướng nghề nghiệp… có thể ảnh hưởng chung đến cộng đồng. Vì vậy, tác giả xây dựng thêm một cấp độ đánh giá mới là cấp độ: kết quả cho xã hội. Đây cũng là gợi ý nên được xem xét bởi xét cho cùng doanh nghiệp là nền tảng của xã hội, doanh nghiệp vững mạnh xã hội mới phát triển, ngược lại xã hội phát triển sẽ tạo điều kiện cho doanh nghiệp lớn mạnh.
Tuy nhiên, tác giả cũng thể hiện sự ngần ngại khi tăng thêm sự phức tạp cho kỷ thuật đánh giá, và đây là gợi ý cho mục tiêu cải tiến liên tục của các tổ chức. Nhận định này một lần nữa khẳng định sự khó khăn 14 khi đánh giá HQĐT cho một tổ chức.