Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CỔ PHẦN HÓA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI NHÀ NƢỚC 1. NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI NHÀ NƢỚC 1. Khái niệm, đặc điểm ngân hàng thƣơng mại nhà nƣớc Trong nền KTTT, có nhiều loại hình doanh nghiệp cùng tồn tại và phát triển ở nhiều ngành, lĩnh vực hoạt động khác nhau, trong đó, NHTM cũng đƣợc coi là một doanh nghiệp. Khi nền kinh tế hàng hóa càng phát triển thì các NHTM càng trở nên cần thiết và đóng vai trò là một định chế tài chính gắn liền với sự phát triển của nền KTTT và kinh tế hàng hóa.
Vậy bản chất NHTM là gì? Việc đƣa ra một khái niệm chung và chuẩn xác về NHTM là rất khó vì: các nghiệp vụ ngân hàng thƣờng đa dạng và phức tạp; mỗi vùng, mỗi nƣớc lại có những khái niệm khác về NHTM; đứng trên những góc độ khác nhau (quản lý, nhà đầu tƣ, ngƣời vay vốn.) lại có những quan điểm khác nhau về NHTM. Đạo luật ngân hàng của Pháp (1941) cũng đã định nghĩa: "Ngân hàng thƣơng mại là những xí nghiệp hay cơ sở mà nghề nghiệp thƣờng xuyên là nhận tiền bạc của công chúng dƣới hình thức ký thác, hoặc dƣới các hình thức khác và sử dụng tài nguyên đó cho chính họ trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và tài chính" [92, Tr 269]. Theo Luật các tổ chức tín dụng hiện hành của Việt Nam thì: "Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận "[32, Điều 4]. Trong Nghị định số 59/2009/NĐ-CP ngày 16/07/2009 của Chính phủ Việt Nam về tổ chức và hoạt động của NHTM thì khái niệm NHTM đƣợc đƣa ra rõ hơn: "Các tổ chức không phải là tổ chức tín dụng không được phép sử dụng thuật ngữ "ngân hàng" trong tên của tổ chức, trong các phần phụ thêm 16 của tên, văn bản, thông báo hoặc quảng cáo của mình mà thuật ngữ đó có thể gây nhầm lẫn cho công chúng về việc tổ chức của mình là một ngân hàng" [7, Điều 3].
Tại Lào, theo Luật NHTM Lào ngày 26 tháng 12 năm 2006 thì: "Ngân hàng thương mại là một loại hình doanh nghiệp được thành lập theo quy định của Luật Ngân hàng thương mại mà kinh doanh về ngân hàng chẳng hạn như huy động tiền gửi để cung cấp tín dụng, mua bán ngoại tệ, dịch vụ thanh toán và đầu tư" [71, Điều 3]. Các khái niệm trên cho thấy một số chức năng cơ bản mà các NHTM đảm nhận, có sự khác biệt tƣơng đối với các chức năng của các trung gian tài chính khác và có thể khái quát nhƣ sau: NHTM là một trong những định chế tài chính mà đặc trưng là cung cấp đa dạng các dịch vụ tài chính với nghiệp vụ cơ bản là nhận tiền gửi, cho vay và cung ứng các dịch vụ thanh toán. Ngoài ra, NHTM còn cung cấp nhiều dịch vụ khác nhằm thỏa mãn tối đa nhu cầu về sản phẩm dịch vụ của xã hội. Ngân hàng thƣơng mại là một loại doanh nghiệp đặc thù.
Tính đặc thù của NHTM thể hiện ở chỗ, đối tƣợng tác nghiệp là tiền tệ. Nhƣ vậy, NHTM là một tổ chức tài chính trung gian, hoạt động trong lĩnh vực tiền tệ và dịch vụ. Hoạt động chủ yếu và thƣờng xuyên của NHTM là nhận tiền gửi của khách hàng (huy động vốn) với trách nhiệm hoàn trả, sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nhiệm vụ chiết khấu và cung ứng các dịch vụ thanh toán (sử dụng vốn). Huy động vốn là quá trình NHTM nhận tiền gửi của tổ chức và cá nhân dƣới các hình thức tiền gửi thanh toán, tiền gửi tiết kiệm, phát hành giấy tờ có giá.
và tiền vay của Ngân hàng nhà nƣớc (NHNN), các tổ chức tín dụng khác. Sử dụng vốn của một NHTM chủ yếu từ hoạt động tín dụng và đầu tƣ, tín dụng là quá trình NHTM cho các tổ chức và cá nhân vay vốn để phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh của đơn vị, đầu tƣ là quá trình các NHTM 17 dùng vốn tự có và các quỹ của mình mua đi bán lại các giấy tờ có giá (tín phiếu, trái phiếu của Chính phủ, NHNN), chứng khoán hoặc góp vốn liên doanh liên kết, mua cổ phần. Hàng hóa sử dụng trong kinh doanh của NHTM là tiền tệ, thực hiện các chức năng: Trung gian tín dụng, trung gian thanh toán và cung ứng dịch vụ cho khách hàng. Ở Lào hiện nay, thuộc loại hình NHTM có các dạng sau: NHTMNN, NHTM cổ phần, Ngân hàng liên doanh, chi nhánh NHTM nƣớc ngoài.
Ngân hàng thương mại nhà nước là NHTM do nhà nước đầu tư vốn, thành lập, thuộc sở hữu nhà nước. Hoạt động của NHTMNN là vì mục tiêu lợi nhuận. Tuy nhiên, do NHTMNN đóng vai trò chủ đạo trong hệ thống ngân hàng nên còn đƣợc Nhà nƣớc giao cho nhiệm vụ góp phần thực hiện các chính sách kinh tế của Nhà nƣớc. Sự lồng ghép mục tiêu lợi nhuận và thực hiện các chính sách kinh tế của Nhà nƣớc đối với hoạt động của NHTMNN thể hiện rõ mối quan hệ giữa chủ sở hữu của Nhà nƣớc với NHTM.
Nhƣ vậy, NHTMNN là một NHTM có 100% vốn chủ sở hữu do Nhà nƣớc cấp và Nhà nƣớc là ngƣời có quyền quản lý điều hành, bao gồm: Bổ nhiệm bộ máy lãnh đạo, định hƣớng hoạt động kinh doanh, quản lý hoạt động, thanh tra, kiểm tra. NHTMNN chỉ là một cách phân chia của NHTM đứng trên góc độ sở hữu, chủ sở hữu của NHTMNN chính là Nhà nƣớc. * Đặc điểm hoạt động kinh doanh của NHTMNN Hoạt động kinh doanh của NHTM là một hoạt động đặc thù trong một lĩnh vực mà nó có liên quan tới mọi hoạt động của nền kinh tế xã hội. Các đặc điểm chung của NHTM nhƣ sau: Thứ nhất, hoạt động NHTM là loại hình kinh doanh với mục đích kiếm lời (bao gồm hai hình thức chủ yếu là kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng).
Trong đó, hoạt động kinh doanh tiền tệ đƣợc biểu hiện ở nghiệp vụ huy 18 động vốn dƣới các hình thức khác nhau để cấp tín dụng cho khách hàng có nhu cầu về vốn với mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận. Còn hoạt động dịch vụ Ngân hàng đƣợc biểu hiện thông qua các nghiệp vụ sẵn có về tiền tệ, thanh toán, ngoại hối và chứng khoán để cam kết thực hiện công việc nhất định cho khách hàng trong một thời hạn nhất định nhằm mục đích thụ hƣởng tiền công dịch vụ do khách hàng chi trả dƣới dạng phí hay hoa hồng. Thứ hai, hoạt động NHTM là loại hình hoạt động kinh doanh có điều kiện, nghĩa là chỉ khi nào NHTM thỏa mãn đầy đủ những điều kiện khắt khe do pháp luật quy định (vốn pháp định, phƣơng án kinh doanh,.) thì mới đƣợc phép hoạt động trên thị trƣờng. Do hoạt động ngân hàng liên quan chặt chẽ với các lĩnh vực hoạt động khác của nền KT-XH nên đây đƣợc coi là một lĩnh vực kinh doanh đặc biệt đƣợc Nhà nƣớc kiểm soát chặt chẽ.
Thứ ba, hoạt động NHTM là loại hình kinh doanh có độ rủi ro cao hơn nhiều so với các loại hình kinh doanh khác và thƣờng có ảnh hƣởng sâu sắc, mang tính chất dây chuyền đối với nền kinh tế. Sở dĩ nói nhƣ vậy là vì, trong hoạt động Ngân hàng, đặc biệt là hoạt động kinh doanh tiền tệ, do các NHTM phải tiến hành huy động vốn của ngƣời khác để cấp tín dụng cho khách hàng và trên nguyên tắc NHTM chỉ có thể đòi tiền của ngƣời vay sau một thời hạn nhất định, nên đã tạo ra khả năng rủi ro cao cho hoạt động Ngân hàng, kéo theo đó là sự rủi ro đối với ngƣời gửi tiền ở NHTM, cũng nhƣ rủi ro đối với nền kinh tế. Vì vậy, hoạt động Ngân hàng ở nhiều quốc gia khác nhau trên thế giới thƣờng đƣợc điều chỉnh và kiểm soát hết sức chặt chẽ bằng những đạo luật riêng biệt, nhằm đảm bảo cho hoạt động này đƣợc vận hành an toàn và hiệu quả trong nền kinh tế thị trƣờng. Bên cạnh những đặc điểm chung nhƣ các NHTM thông thƣờng, NHTMNN còn mang những đặc điểm riêng nhƣ: NHTMNN là những ngân hàng lâu năm, có vốn chủ sở hữu và tổng giá trị tài sản lớn, phạm vi hoạt 19 động rộng, có mạng lƣới hoạt động rộng khắp cả nƣớc, có uy tín cao với dân chúng; NHTMNN thƣờng chiếm thị phần lớn trong thị trƣờng ngân hàng (đặc biệt là ở các nƣớc đang phát triển); bên cạnh chức năng kinh doanh thông thƣờng, NHTMNN là trụ cột trong việc thực hiện chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nƣớc.
Vai trò của ngân hàng thƣơng mại nhà nƣớc trong nền kinh tế thị trƣờng NHTMNN không chỉ đóng vai trò trong nền kinh tế là nhận tiền gửi và cho vay, mà là phải thực hiện nhiều vai trò mới để có thể duy trì khả năng cạnh tranh và đáp ứng nhu cầu xã hội. Các NHTM nói chung và NHTMNN nói riêng trong nền KTTT có những vai trò cơ bản sau: Vai trò trung gian; vai trò thanh toán; vai trò ngƣời bảo lãnh; vai trò đại lý; vai trò thực hiện chính sách tiền tệ. Ngày nay, khi nền KTTT đang phát triển mạnh mẽ, quan hệ đa sở hữu ngày càng trở nên phổ biến thì sở hữu nhà nƣớc đối với các NHTM đang giảm xuống rõ rệt, nhất là trong vòng 10 năm trở lại đây. Chính vì thế, tại các nƣớc có nền kinh tế phát triển, tỷ lệ vốn sở hữu nhà nƣớc trong các NHTM rất nhỏ, chỉ khoảng dƣới 10% tổng số tài sản ngân hàng.
Nguyên nhân là trong những năm qua Chính phủ các nƣớc đã tích cực chuyển đổi hình thức sở hữu, từ sở hữu nhà nƣớc sang sở hữu tƣ nhân và các hình thức sở hữu khác. Ngƣợc lại, tại các nƣớc đang phát triển và các nƣớc có nền kinh tế quá độ sang KTTT, tỷ lệ sở hữu nhà nƣớc trong các NHTMNN vẫn cao, nhƣ tại Ấn Độ là 80% tổng giá trị tài sản ngân hàng, tại Nga là 68% tổng giá trị tài sản ngân hàng, tại Ai Cập là 67% tổng giá trị tài sản ngân hàng. Tuy số lƣợng các NHTMNN trên thế giới đã giảm đi đáng kể nhƣng suốt trong quá trình tồn tại và phát triển của mình, lịch sử đã chứng minh NHTMNN đã và vẫn giữ vai trò chủ đạo, thực sự quan trọng đối với nền kinh tế.