Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc phát triển năng lực sáng tạo cho HS THPT trong dạy học vật lí Chương 3: Tổ chức dạy học chương “Các định luật bảo toàn” theo định hướng phát triển năng lực sáng tạo cho HS trong dạy học vật lí 10 THPT Chương 4: Thực nghiệm sư phạm 7 NỘI DUNG CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Các nghiên cứu về năng lực và năng lực sáng tạo 1. Các nghiên cứu ở nước ngoài Khái niệm NL (competence) có nguồn gốc tiếng Latinh “competentia” có nghĩa là “gặp gỡ” [85].
Hiện nay, đã có rất nhiều công trình, đề tài nghiên cứu về NL, khái niệm NL được sử dụng với nhiều thuật ngữ tiếng Anh khác nhau như competence, capacity, ability, possibility, literacy. Do đó, khái niệm NL được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau. Dưới góc độ tâm lý học, NL trở thành đối tượng nghiên cứu chuyên sâu trong các công trình của F. Trong nghiên cứu của mình, F.
Ganton cho rằng NL có những biểu hiện như tính nhạy bén, chắc chắn, sâu sắc và dễ dàng trong quá trình lĩnh hội một hoạt động nào đó. Người có NL là người đạt hiệu suất và chất lượng hoạt động cao trong các hoàn cảnh khách quan và chủ quan như nhau. NL gắn bó chặt chẽ với tính định hướng chung của nhân cách [31]. Rudich, NL đó là tính chất tâm sinh lý của con người chi phối quá trình tiếp thu các kiến thức, kĩ năng và kĩ xảo cũng như hiệu quả thực hiện một hoạt động nhất định [31].
NL của con người không chỉ là kết quả của sự phát triển và giáo dục mà còn là kết quả của quá trình hoạt động. Khi xét ở góc độ hoạt động, J.Coolahan cho rằng: NL được xem như là “Những khả năng cơ bản dựa trên cơ sở tri thức, kinh nghiệm, các giá trị và thiên hướng của một con người được phát triển thông qua thực hành giáo dục” [102], A. Cosmovici “Năng lực là tổ hợp đặc điểm của cá nhân, giải thích sự khác biệt giữa người này với người khác ở khả năng đạt được những kiến thức và hành vi nhất định” [91]. Leonchiev cho rằng “Năng lực là đặc điểm cá nhân quy định việc thực hiện thành công một hoạt động nhất định”[98].
Báo cáo của Trung tâm nghiên cứu Châu Âu về việc làm và lao động (2005) đưa ra khái niệm “Năng lực là tổ hợp những phẩm chất về thể chất và trí tuệ giúp ích cho việc hoàn thành một công việc với mức độ chính xác nào đó” [15]. Như vậy, NL luôn bị chi phối bởi bối cảnh cụ 8 thể mà trong đó các NL được đòi hỏi. Sự tích hợp của kiến thức, kĩ năng, thái độ sẽ làm nên khả năng thực hiện một công việc, một hoạt động cụ thể. Theo PISA, thuật ngữ NL (literacy) bao hàm cả kiến thức, kĩ năng và qui trình nhận thức, các mảng NL gồm: NL đọc hiểu, NL toán học, NL khoa học và NL giải quyết vấn đề.
Tổ chức này cũng nhấn mạnh đến việc sử dụng kiến thức, kĩ năng tích lũy được ở trường học vào bối cảnh, tình huống thực trong đời sống nhằm góp phần thay đổi thái độ của người học. Để đánh giá kết quả học tập theo hướng tiếp cận NL của người học, PISA có cách tiếp cận rộng hơn về việc đánh giá kiến thức, kĩ năng, thái độ của HS, đó là hướng tới đánh giá các NL sử dụng kiến thức vào giải quyết các nhiệm vụ và thách thức thường nhật. Cách tiếp cận bao quát và thực tiễn này giúp PISA phản ánh kịp thời các thay đổi trong quá trình phát triển, cụ thể hơn đó là phương thức dựa trên mô hình học tập suốt đời, trong đó việc tích lũy các kiến thức và kĩ năng mới cần thiết để thích nghi trong một thế giới luôn thay đổi và một quá trình diễn ra suốt đời, không chỉ bó hẹp trong phạm vi trường học [22]. Như vậy PISA đã xây dựng công cụ và tiến hành đánh giá các loại NL, trong đó có những chú trọng đến các yếu tố về mặt kiến thức liên quan đến thực hành.
Tuy nhiên nội dung khảo sát của PISA chưa tập trung vào các “chương trình học”. Điều này làm hạn chế sự so sánh giữa kết quả thu được và nội dung chương trình học. Ngoài ra, trong cách đánh giá đó, các kĩ năng thực hiện với các công cụ thực vẫn chưa được thể hiện rõ nét. Dưới góc độ của các nhà Giáo dục học, thuật ngữ NL cũng được xem xét đa chiều hơn: NL là một tập hợp kiến thức, thái độ và kĩ năng hoặc các chiến lược tư duy cốt lõi cho việc tạo ra những sản phẩm đầu ra quan trọng; NL là những phẩm chất tiềm tàng của một cá nhân và những đòi hỏi của công việc.
Trung tâm nghiên cứu châu Âu về việc làm và lao động đã phân tích rõ mối liên quan giữa các khái niệm “Năng lực (competence), kĩ năng (skills) và kiến thức (knowledge), từ đó đã tổng hợp các định nghĩa chính về NL trong đó nêu ra: NL là tổ hợp những phẩm chất về thể chất và trí tuệ giúp ích cho việc hoàn thành một công việc với mức độ chính xác nào đó”. Theo chương trình giáo dục phổ thông của Quebec – Canada thì “Năng lực là sự kết hợp một cách linh hoạt và có tổ chức kiến thức, kĩ năng với thái 9 độ, tình cảm, giá trị, động cơ cá nhân…nhằm đáp ứng hiệu quả một yêu cầu phức hợp của hoạt động trong bối cảnh nhất định” [109], [93]. Từ việc tìm hiểu các nghiên cứu về NL có thể thấy, quan niệm về NL của các tác giả tuy còn có sự khác nhau nhất định, song đều có điểm chung thống nhất là nói đến NL là nói đến khả năng làm được, thực hiện được một công việc, một hoạt động cụ thể mà không chỉ là biết và hiểu. Cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, khoa học sáng tạo bắt đầu phát triển dựa trên thành tựu của cách mạng khoa học - kĩ thuật.
Cùng lúc này, bên cạnh các nhà khoa học cơ bản thì những chuyên gia về tư duy sáng tạo cũng như các nhà Tâm lí học bắt đầu nhập cuộc. Từ đây, ST mới được nghiên cứu trên cả diện rộng và sâu. Từ những nghiên cứu chuyên biệt về ST của các nhà toán học, các nhà khoa học khác cũng bắt đầu chuyên tâm khám phá về những nguyên lí của sự ST. Đầu tiên là tìm hiểu về cách ghi nhớ và cách ST, những yếu tố rất quan trọng hình thành NLST.
Theo hai chuyên viên não học Jeff Brown và Mark Fenske : “Một trong những phương pháp giúp truy xuất thông tin hiệu quả là xây dựng một bộ não hoạt bát: Thay vì lưu trữ ký ức như một cuốn album hay một đoạn băng ngắn về những điều từng xảy ra, ta có thể lưu trữ ký ức mới trong mối tương quan với các ký ức cũ, xác định tầm quan trọng của ký ức mới dung nạp này trong ngữ cảnh của toàn bộ ký ức đã có trước đó. Bằng cách này, mỗi ký ức có một vị trí nhất định trong bộ nhớ, và khi cần truy xuất trí nhớ để giải quyết một vấn đề tương lai, bộ não sẽ hoạt động hiệu quả hơn khi đã xác định được tầm quan trọng của thông tin cần xử lý. Ngoài ra, tăng cường trải nghiệm sống cũng là một lựa chọn tốt, vì bộ não phản ứng hoạt bát hơn với các thông tin hoàn toàn mới, do đó quá trình thu nhận thông tin trở nên nhạy bén hơn, đồng thời “nguyên liệu” cho việc truy xuất thông tin cũng dồi dào hơn. Các phương pháp luyện trí nhớ khác như lặp lại thông 10 tin cần nhớ, phương pháp liên tưởng, phương pháp lập nhóm… cũng được đánh giá cao” [56], [89].
Học cách ST không chỉ mang tính thiên phú mà còn là kết quả của quá trình miệt mài luyện tập. Tuy nhiên, khi các nhà nghiên cứu não bộ nhận ra có những ngả đường dẫn đến ST tiềm ẩn trong mỗi con người thì việc rèn luyện khả năng ST trở thành một kĩ năng có thể phát triển được. Một nghiên cứu não gần đây nhất cho thấy khi những người tham gia thí nghiệm bắt đầu một quá trình động não mang tính ST, hàng loạt sóng não được khởi động để nối kết các tế bào não nằm ở các khu vực khác nhau, tạo thành một mạng lưới thần kinh liên kết. Shelley Carson thuộc Đại học Harvard, tác giả cuốn sách Bộ não sáng tạo của bạn, cũng cho biết tiến trình ST không phụ thuộc nhiều vào khả năng thiên phú mà chủ yếu vào phong cách tư duy, điều mà mọi người đều có thể học cách cải thiện.
Theo đó, các bước đi cụ thể để cải thiện khả năng ST cá nhân bao gồm: Thu nhận (thông tin); Hình dung tưởng tượng; Nối kết; Lý luận; Đánh giá; Đắm mình vào ý tưởng [56], [90]. Có thể thấy rằng, mặc dù nhiều nhà giáo dục học nổi tiếng đã tập trung nghiên cứu khá nhiều về ST nhưng vẫn còn nặng về tính chất mô tả kinh nghiệm chứ không phải là thực nghiệm để rút ra quy luật. Điều mà thực tiễn đòi hỏi là phải tìm ra những quy luật của ST để có thể lấy đó làm cơ sở điều khiển, phát huy ST thì gần như các nhà giáo dục học vẫn chưa giải quyết được. Các nghiên cứu về năng lực và năng lực sáng tạo ở trong nước Kế thừa những nghiên cứu của các tác giả trên thế giới, vấn đề NL nhận được sự quan tâm của nhiều tác giả trong nước như: Phạm Minh Hạc [21], Phạm Viết Vượng [87], Phạm Thị Phú và Nguyễn Đình Thước [57], Đặng Thành Hưng [28], Hoàng Hòa Bình [5], với một nội hàm khá rõ ràng.
NL theo các nhà tâm lý học là những thuộc tính của cá nhân [29], [82]; sự kết hợp linh hoạt và độc đáo hay tổ hợp đặc điểm tâm lý của con người [21], [27]; NL là cái có được thông qua đào tạo, bồi dưỡng và trải nghiệm thực tiễn [87]. Những nghiên cứu này cho thấy, NL gắn liền với hoạt động và giá trị thu được của hoạt động ấy. Cụ thể, Đặng Thành Hưng [28] 11 cho rằng kĩ năng phản ánh NL làm, tri thức phản ánh NL nghĩ và thái độ phản ánh NL cảm nhận.