Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ luật học "Bảo vệ quyền con người bằng quy định về các tội xâm phạm tình dục trong luật hình sự Việt Nam" được nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Bình thực hiện tại Trường Đại học Luật Hà Nội dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Nguyễn Tuyết Mai và TS. Đào Lệ Thu, bảo vệ năm 2021 thuộc chuyên ngành Luật hình sự và tố tụng hình sự (mã số: 9380104).
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Quyền con người là giá trị phổ quát, thiêng liêng được cộng đồng quốc tế ghi nhận và bảo vệ. Trong hệ thống pháp luật, luật hình sự giữ vị trí là ngành luật nội dung giữ vai trò trọng yếu trong việc bảo vệ các quyền tự nhiên, bất khả xâm phạm của cá nhân thông qua việc xác lập hành vi phạm tội và áp dụng chế tài hình phạt. Nhóm tội phạm xâm phạm tình dục xâm hại trực tiếp đến tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự và quyền tự do tình dục của con người.
Thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm tại Việt Nam cho thấy tình hình tội phạm xâm phạm tình dục diễn biến phức tạp và có chiều hướng gia tăng. Các hành vi bạo lực tình dục đối với phụ nữ và trẻ em (như hiếp dâm, cưỡng dâm, dâm ô) xuất hiện nhiều dạng thức mới. Theo các dẫn chứng trong luận án:
- Kết quả Điều tra quốc gia về bạo lực gia đình đối với phụ nữ ở Việt Nam (Tổng cục Thống kê, 2010) chỉ ra phụ nữ có nguy cơ bị bạo hành tình dục do bạn đời cao gấp 3 lần so với nguy cơ bị bạo hành tình dục bởi người khác.
- Báo cáo kết quả giám sát của Quốc hội (trình bày ngày 27/05/2020) cho biết trong giai đoạn từ ngày 01/01/2015 đến 30/06/2019, các cơ quan chức năng đã phát hiện, xử lý 8.442 vụ xâm hại trẻ em với 8.709 đối tượng, trong đó có hơn 6.400 vụ xâm hại tình dục; để lại hậu quả nghiêm trọng làm 337 trẻ em tử vong, 415 trẻ em có thai, 193 trẻ em bị rối loạn tâm thần và 375 trẻ em bị thương tật.
Mặc dù Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đã có nhiều sửa đổi, song thực tiễn áp dụng giai đoạn 2010–2019 cho thấy các quy định hiện hành vẫn bộc lộ những vướng mắc kỹ thuật lập pháp, dấu hiệu cấu thành tội phạm chưa bao quát đầy đủ hành vi phát sinh trên thực tế và chưa hoàn toàn tương thích với các chuẩn mực quốc tế, tạo ra khoảng trống trong việc bảo vệ nạn nhân.
| Tiêu chí thống kê xâm hại trẻ em (01/01/2015 – 30/06/2019) |
Số liệu ghi nhận |
| Tổng số vụ xâm hại trẻ em bị phát hiện, xử lý |
8.442 vụ |
| Tổng số đối tượng vi phạm bị xử lý |
8.709 đối tượng |
| Số vụ xâm hại tình dục trẻ em |
Hơn 6.400 vụ |
| Số nạn nhân trẻ em tử vong |
337 trẻ em |
| Số nạn nhân trẻ em có thai do bị xâm hại |
415 trẻ em |
| Số nạn nhân trẻ em bị rối loạn tâm thần |
193 trẻ em |
| Số nạn nhân trẻ em bị thương tật |
375 trẻ em |
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát của luận án là đưa ra các luận cứ khoa học và kiến nghị hoàn thiện quy định của Bộ luật Hình sự về các tội xâm phạm tình dục, tạo lập cơ sở pháp lý nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền con người trong tư pháp hình sự. Để thực hiện mục tiêu này, luận án xác định 3 nhiệm vụ cụ thể:
- Nghiên cứu hệ thống vấn đề lý luận về bảo vệ quyền con người bằng quy định của luật hình sự; phân tích nguyên tắc, nội hàm và giải thích cơ sở lý luận của việc quy định các tội phạm xâm phạm tình dục nhằm bảo vệ quyền con người.
- Phân tích thực trạng quy định của BLHS Việt Nam về các tội xâm phạm tình dục dưới lăng kính bảo vệ quyền con người; đối chiếu với chuẩn mực quốc tế và chỉ ra những hạn chế, vướng mắc trong thực tiễn áp dụng.
- Đề xuất các quan điểm, yêu cầu và giải pháp hoàn thiện quy định của BLHS Việt Nam về các tội xâm phạm tình dục nhằm nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền con người.
Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu
Luận án đặt ra 3 câu hỏi nghiên cứu:
- Trong lý luận luật hình sự, vấn đề bảo vệ quyền con người bằng pháp luật hình sự bằng các tội xâm phạm tình dục đã được giải quyết toàn diện, triệt để hay chưa?
- Quy định của BLHS Việt Nam về các tội xâm phạm tình dục đã đầy đủ, đúng đắn, hợp lý và khả thi (từ góc độ lý luận, chuẩn mực quốc tế và kiểm nghiệm thực tiễn) để bảo vệ hiệu quả các quyền con người hay chưa? Pháp luật đó còn những hạn chế, bất cập gì?
- Cần hoàn thiện quy định của BLHS về các tội xâm phạm về tình dục thế nào để nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền con người trong bối cảnh hiện nay của xã hội Việt Nam?
Tương ứng với các câu hỏi trên, 3 giả thuyết nghiên cứu gồm:
- Vấn đề bảo vệ quyền con người qua quy định về các tội xâm phạm tình dục tuy đã được khoa học pháp lý quan tâm sau khi BLHS năm 2015 ban hành nhưng vẫn chưa được giải quyết một cách có hệ thống, toàn diện và triệt để.
- Mặc dù BLHS năm 2015 đã phát huy vai trò tích cực, các quy định về nhóm tội xâm phạm tình dục vẫn cần tiếp tục được hoàn thiện và hướng dẫn áp dụng thống nhất nhằm tương thích với chuẩn mực quốc tế và đáp ứng yêu cầu thực tiễn.
- Để nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền con người, việc hoàn thiện pháp luật hình sự đòi hỏi phải mở rộng phạm vi tội phạm hóa, hoàn thiện dấu hiệu cấu thành tội phạm và điều chỉnh chế tài hình phạt đối với nhóm tội này.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Các quan điểm khoa học, chuẩn mực quốc tế, quy định pháp luật hình sự Việt Nam và văn bản hướng dẫn thi hành về các tội xâm phạm tình dục; các quyết định, kết luận xử lý và bản án xét xử của Tòa án nhân dân các cấp.
- Phạm vi nội dung và điều luật: Tập trung vào các tội danh thuộc Chương các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người (từ Điều 141 đến Điều 147 BLHS năm 2015) và một số tội liên quan đến mại dâm thuộc Chương các tội xâm phạm trật tự công cộng (Điều 327 - Tội chứa mại dâm, Điều 329 - Tội mua dâm người dưới 18 tuổi).
- Phạm vi quyền được bảo vệ: Quyền được bảo vệ tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự; quyền tự do tình dục; quyền được phát triển lành mạnh của người chưa thành niên.
- Phạm vi không gian và thời gian: Nghiên cứu thực tiễn áp dụng pháp luật trên phạm vi cả nước trong giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2019; khảo cứu luật pháp quốc tế và pháp luật hình sự của một số quốc gia như Canada, Thụy Điển, Vương quốc Anh, Hoa Kỳ, CHLB Đức, Pháp, Nga, Ấn Độ, Trung Quốc, Hà Lan.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã tổng thuật hệ thống các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế liên quan trực tiếp đến đề tài:
Các công trình nghiên cứu trong nước
- Về quyền con người và bảo vệ quyền con người: Giáo trình Lý luận và pháp luật về quyền con người của Nguyễn Đăng Dung, Võ Công Giao, Lã Khánh Tùng (2015); sách chuyên khảo Quyền của các nhóm người dễ bị tổn thương do Khoa Luật - ĐHQGHN và Trung tâm Nghiên cứu quyền con người và quyền công dân (CRIGHTS) biên soạn (2010); bài viết "Pháp luật về quyền tình dục trên thế giới và một số vấn đề đặt ra với Việt Nam" của Võ Công Giao giới thiệu nội dung Tuyên ngôn toàn cầu về quyền tình dục năm 1999 (gồm 11 quyền).
- Về quyền con người trong tư pháp hình sự: Sách chuyên khảo Bảo đảm quyền con người trong tư pháp hình sự Việt Nam do Võ Thị Kim Oanh chủ biên (2010); Quyền con người trong lĩnh vực tư pháp hình sự do Nguyễn Ngọc Chí chủ biên (2015); Bảo vệ tự do và an ninh cá nhân bằng pháp luật hình sự Việt Nam do Trịnh Tiến Việt chủ biên (2015); bài viết nghiên cứu của Lê Cảm (2019) trên Tạp chí Pháp luật về quyền con người; luận án tiến sĩ của Trần Thị Hằng Lê (2017) về bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự; đề tài nghiên cứu của Nguyễn Huỳnh Bảo Khánh (2011) về bảo vệ quyền của nạn nhân các tội xâm phạm tình dục trẻ em.
- Về các tội xâm phạm tình dục và chính sách hình sự: Các bài báo khoa học của Dương Tuyết Miên (1998, 2016), Phạm Văn Báu (2010), Lê Quang Tiến (2015), Đỗ Đức Hồng Hà (2015), Lê Đăng Doanh (2000), Nguyễn Ngọc Hòa (2001), Trần Văn Luyện (2001), Nguyễn Hiền Khanh (2004), Đỗ Việt Cường (2008), Đặng Xuân Nam (2009), Nguyễn Văn Quân (2015); các luận văn, luận án của Nguyễn Thị Thục Phương (2010), Bùi Thị Quyên, Đặng Xuân Nam (1999), Cao Hiểu Sáng (2015), Bùi Thị Hằng Nga (2016), Nguyễn Minh Hương (2014), Hoàng Thị Thanh Hà (2015), Nguyễn Tuấn Thiện (2015), Nguyễn Đình Cương (2015), Lê Thị Diễm Hằng (2016), Lê Thị Hồng Thương (2016), Võ Hải Anh (2017).
- Báo cáo và tài liệu dự án: Báo cáo rà soát của Eileen Skinnider và Đào Lệ Thu (2015) do UN Women và UNODC phát hành; Bộ tài liệu Dự án "Tuổi thơ" phòng ngừa xâm hại tình dục trẻ em do AusAID tài trợ (2011–2014).
Các công trình nghiên cứu quốc tế
- Các nghiên cứu lý luận nhân quyền và tư pháp hình sự của Lippman Matthew (1980), Steiner Eva (1996), Randall Peerenboom, Carole J. Petersen, Albert H.Y. Chen (2006), Scalia Antonin (1994), Clarsda Than và Edwin Shorts (2003), David Bambizer (2001), Eric Heinze (1995), Ben Emmerson QC và Andrew Ashworth QC (2001), John William Stickels (2003), Tatjana Hörnle và Mordechai Kremnitzer (2011).
- Nghiên cứu về tội phạm tình dục quốc tế của Kai Ambos về Quy chế Rome của Tòa án Hình sự Quốc tế, cùng công trình của Hendrik Gommer và Erik-Jan Broers về cải cách luật tội phạm tình dục tại Hà Lan.
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Các công trình trước đây chủ yếu tiếp cận nhóm tội này dưới giác độ định tội danh thuần túy, phân tích cấu thành tội phạm cụ thể hoặc nghiên cứu tội phạm học trên phạm vi địa phương hẹp. Chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện, đa chiều nhóm tội xâm phạm tình dục dưới hệ thống lý thuyết về bảo vệ quyền con người, làm rõ mối quan hệ giữa tội phạm hóa/phi tội phạm hóa, hình sự hóa/phi hình sự hóa gắn với việc hoàn thiện đồng bộ các quy định trong BLHS năm 2015.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết và khái niệm
Luận án dựa trên các luận điểm khoa học của luật hình sự về bảo vệ quyền con người, đặc biệt là quyền tự do tình dục, quyền bất khả xâm phạm về thân thể, nhân phẩm và danh dự. Luận án làm rõ các khái niệm:
- Khái niệm tội xâm phạm tình dục dưới giác độ quyền con người.
- Khái niệm bảo vệ quyền con người bằng quy định về các tội xâm phạm tình dục.
- Khung phân tích quá trình tội phạm hóa (criminalization), phi tội phạm hóa (decriminalization), hình sự hóa (penalization) và phi hình sự hóa (depenalization).
Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng nhà nước pháp quyền và chính sách hình sự. Các phương pháp nghiên cứu cụ thể gồm:
- Phương pháp tiếp cận quyền (human rights-based approach): Đặt quyền con người và nạn nhân làm trung tâm để đánh giá chuẩn mực lập pháp và thực tiễn thi hành.
- Phương pháp tiếp cận quy phạm và giải thích pháp luật: Hệ thống hóa và phân tích nội dung các điều luật trong BLHS năm 2015.
- Phương pháp lịch sử: Xem xét sự phát triển của các quy định về tội xâm phạm tình dục qua các thời kỳ (BLHS 1985, BLHS 1999, BLHS 2015).
- Phương pháp so sánh luật học: So sánh quy định của BLHS Việt Nam với chuẩn mực quốc tế và luật hình sự của các quốc gia đại diện cho các hệ thống pháp luật khác nhau.
- Phương pháp phân tích - tổng hợp: Khái quát các vấn đề lý luận và đánh giá thực tiễn áp dụng.
- Phương pháp thống kê pháp lý và nghiên cứu án điển hình: Thu thập số liệu xét xử từ Tòa án nhân dân tối cao giai đoạn 2010–2019 và phân tích các vụ án cụ thể để chỉ rõ khoảng trống pháp luật.
Nguồn dữ liệu và tư liệu
- Văn kiện quốc tế: Tuyên ngôn Quốc tế về Nhân quyền (UDHR 1948), Công ước ICCPR (1966), Công ước ICESCR (1966), Công ước CEDAW (1979/1982), Công ước CRC (1989), Công ước ILO số 182 (1999), Quy chế Rome của Tòa án Hình sự Quốc tế.
- Văn bản pháp luật quốc gia: BLHS năm 1985, BLHS năm 1999, BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017), Nghị quyết số 06/2019/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán TANDTC hướng dẫn áp dụng một số quy định tại các Điều 141, 142, 143, 144, 145, 146, 147 của BLHS.
- Dữ liệu thực tiễn: Số liệu thống kê các vụ án xâm hại tình dục xét xử từ 2010 đến 2019 của TANDTC, báo cáo giám sát của Ủy ban Tư pháp Quốc hội và các bản án hình sự thực tế.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Những vấn đề lý luận về bảo vệ quyền con người bằng quy định về các tội xâm phạm tình dục
Chương 1 xây dựng nền tảng lý luận về vai trò của luật hình sự đối với việc bảo vệ quyền con người:
- Khái niệm và đặc điểm: Luận án luận giải bảo vệ quyền con người bằng luật hình sự là việc nhà nước sử dụng các quy phạm pháp luật hình sự để xác định những hành vi xâm hại quyền con người nguy hiểm cho xã hội là tội phạm và quy định hình phạt tương xứng. Nhóm tội xâm phạm tình dục có khách thể trực tiếp là quyền tự do tình dục, phẩm giá, danh dự và sự an toàn về thân thể của cá nhân.
- Nội hàm bảo vệ: Phân tích cơ chế bảo vệ thông qua việc xác định phạm vi tội phạm hóa (coi hành vi là tội phạm) và phi tội phạm hóa; hình sự hóa (quy định mức độ chế tài xử lý) và phi hình sự hóa. Mối quan hệ giữa các quá trình này bảo đảm ranh giới can thiệp hợp lý của nhà nước, vừa răn đe tội phạm vừa tránh hình sự hóa quá mức các quan hệ xã hội.
Chương 2: Chuẩn mực quốc tế, kinh nghiệm của một số quốc gia và thực trạng bảo vệ quyền con người bằng quy định về các tội xâm phạm tình dục trong Bộ luật hình sự năm 2015
Chương 2 thực hiện nghiên cứu so sánh và phân tích quy phạm thực định:
- Chuẩn mực quốc tế: Phân tích các yêu cầu của UDHR, CEDAW, CRC về việc cấm mọi hình thức bạo lực và bóc lột tình dục, đòi hỏi pháp luật quốc gia phải quy định rõ các yếu tố cấu thành không dựa trên định kiến giới, bảo đảm chứng minh tội phạm và có đường lối xử lý nghiêm minh.
- Kinh nghiệm quốc tế: Khảo sát luật hình sự các nước (Hoa Kỳ, Thụy Điển, CHLB Đức, Canada, Anh, Pháp, Nga, Ấn Độ, Trung Quốc, Hà Lan). Luận án rút ra xu hướng mở rộng khái niệm hành vi tình dục (không giới hạn ở giao cấu truyền thống), mở rộng chủ thể và nạn nhân (trung tính về giới), áp dụng dấu hiệu "không có sự đồng ý" (lack of consent) thay vì chỉ căn cứ vào hành vi dùng vũ lực.
- Thực trạng BLHS năm 2015: Phân tích cấu trúc các tội danh từ Điều 141 đến 147 và Điều 327, 329. BLHS năm 2015 đã có bước chuyển biến khi bổ sung hành vi "thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác", mở rộng đối tượng nạn nhân nam giới, sửa đổi các tình tiết định khung và quy định hình phạt chính, hình phạt bổ sung.
Chương 3: Đánh giá quy định về các tội xâm phạm tình dục qua thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự và đề xuất hướng hoàn thiện dưới góc độ bảo vệ quyền con người
Chương 3 đối chiếu quy định pháp luật với thực tiễn xét xử 2010–2019:
- Kết quả đạt được: Việc mở rộng hành vi khách quan sang "hành vi quan hệ tình dục khác" và mở rộng chủ thể/nạn nhân đã khắc phục nhiều khoảng trống của BLHS năm 1999, tạo căn cứ xử lý các hành vi xâm hại phi truyền thống.
- Hạn chế và bất cập thực tiễn:
- Hành vi quấy rối tình dục đối với người từ đủ 16 tuổi trở lên chưa được tội phạm hóa trong BLHS, dẫn đến việc bỏ lọt các hành vi vi phạm nghiêm trọng ngoài đời sống và môi trường làm việc.
- Tình trạng bạo lực tình dục trong gia đình (giữa vợ chồng) còn phức tạp nhưng các tình tiết tăng nặng định khung tại Điều 141, 143 chưa quy định cụ thể mối quan hệ gia đình/hôn nhân.
- Khó khăn trong việc xác định ranh giới giữa tội dâm ô và các tội danh khác trước khi có Nghị quyết số 06/2019/NQ-HĐTP.
- Việc áp dụng và hoàn thiện các hình phạt bổ sung (cấm hành nghề, cấm tiếp xúc nạn nhân) còn thiếu đồng bộ.
- Đề xuất và kiến nghị: Luận án đề xuất sửa đổi BLHS năm 2015 theo hướng hoàn thiện các dấu hiệu cấu thành tội phạm, nghiên cứu tội phạm hóa hành vi quấy rối tình dục đối với người từ đủ 16 tuổi trở lên, bổ sung tình tiết tăng nặng định khung đối với bạo lực tình dục gia đình và nâng cao hiệu quả các biện pháp chế tài hình sự.
Kết quả và những đóng góp mới
-
Về mặt lý luận:
- Hệ thống hóa và xây dựng khung lý thuyết toàn diện về bảo vệ quyền con người bằng quy định về các tội xâm phạm tình dục trong luật hình sự Việt Nam.
- Luận giải khái niệm tội xâm phạm tình dục dưới lăng kính nhân quyền, nhấn mạnh khách thể quyền bất khả xâm phạm về tình dục và phẩm giá con người; làm rõ mối quan hệ biện chứng giữa tội phạm hóa/phi tội phạm hóa và hình sự hóa/phi hình sự hóa.
-
Về mặt thực tiễn và lập pháp:
- Đánh giá mức độ tương thích của BLHS năm 2015 với các chuẩn mực quốc tế (UDHR, CEDAW, CRC) và kinh nghiệm lập pháp của các nước phát triển.
- Chỉ rõ các khoảng trống pháp lý qua thực tiễn xét xử giai đoạn 2010–2019, đặc biệt là việc chưa xử lý hình sự hành vi quấy rối tình dục đối với người từ đủ 16 tuổi trở lên và cơ chế xử lý bạo lực tình dục gia đình.
- Đưa ra hệ thống kiến nghị hoàn thiện các điều luật cụ thể (từ Điều 141 đến 147 BLHS năm 2015), hoàn thiện kỹ thuật lập pháp cấu thành tội phạm và định khung hình phạt.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Theo đánh giá của các nhà khoa học trong Hội đồng đánh giá luận án tiến sĩ (TS. Nguyễn Trí Tuệ, PGS. Nguyễn Văn Hương, TS. Trần Văn Dũng):
- Về phạm vi và dữ liệu: Phạm vi nghiên cứu luật thực định tập trung vào BLHS năm 2015, nhưng số liệu thực tiễn xét xử thu thập từ năm 2010 đến 2019 (vắt qua thời kỳ thi hành BLHS năm 1999). Dữ liệu thực tiễn về bạo lực gia đình còn sử dụng nguồn khảo sát từ năm 2010; chưa tiến hành khảo sát xã hội học và phỏng vấn sâu độc lập của riêng tác giả.
- Về nội dung phân tích: Phần phân tích thực trạng tại Chương 2 tập trung nhiều vào thực tiễn lập pháp mà chưa đi sâu vào số liệu thực tiễn áp dụng; nội dung phi tội phạm hóa và phi hình sự hóa chưa được triển khai tương xứng với khung lý thuyết đặt ra ở Chương 1.
- Về đề xuất lập pháp: Đề xuất về việc hình sự hóa tội quấy rối tình dục đối với người từ đủ 16 tuổi trở lên mới dừng lại ở mức định hướng gợi mở, chưa xây dựng hoàn chỉnh 4 yếu tố cấu thành tội phạm và khung chế tài cụ thể.
Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Tiếp tục khảo cứu thực tiễn áp dụng BLHS năm 2015 sau khi Nghị quyết số 06/2019/NQ-HĐTP có hiệu lực.
- Xây dựng mô hình lý luận và cấu thành tội phạm chi tiết cho tội quấy rối tình dục trong luật hình sự Việt Nam.
- Nghiên cứu các biện pháp bảo vệ nạn nhân và quy trình tố tụng thân thiện đối với người chưa thành niên bị xâm hại tình dục.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhóm đối tượng:
- Cơ quan lập pháp và cơ quan tư pháp: Cung cấp luận cứ khoa học phục vụ việc rà soát, sửa đổi, bổ sung Bộ luật Hình sự và ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành thống nhất trong hệ thống Tòa án và Viện kiểm sát.
- Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên luật: Cung cấp nguồn tài liệu nghiên cứu chuyên sâu về lý luận quyền con người trong tư pháp hình sự, phương pháp so sánh luật học đối với nhóm tội phạm tình dục.
- Các tổ chức bảo vệ quyền con người, phụ nữ và trẻ em: Cung cấp cơ sở lý luận và dữ liệu thực chứng phục vụ hoạt động vận động chính sách và bảo vệ quyền lợi nạn nhân.
Câu hỏi thường gặp
1. Khách thể trực tiếp của các tội xâm phạm tình dục được luận án xác định là gì?
Luận án xác định khách thể trực tiếp của nhóm tội xâm phạm tình dục là quyền tự do tình dục, quyền bất khả xâm phạm về thân thể, sức khỏe, tính mạng, nhân phẩm, danh dự của con người, cùng quyền được phát triển bình thường, lành mạnh về thể chất và tâm sinh lý của người chưa thành niên.
2. Luận án sử dụng những số liệu thực tiễn nào để chứng minh tính phức tạp của tội phạm tình dục?
Luận án sử dụng số liệu từ Điều tra quốc gia về bạo lực gia đình năm 2010 (nguy cơ bị bạo hành tình dục do bạn đời cao gấp 3 lần từ người khác), Báo cáo giám sát của Quốc hội năm 2020 (giai đoạn 2015 – 30/06/2019 có hơn 6.400 vụ xâm hại tình dục trẻ em trong tổng số 8.442 vụ xâm hại trẻ em, làm 337 trẻ tử vong, 415 trẻ có thai) và số liệu thống kê xét xử của TANDTC giai đoạn 2010–2019.
3. BLHS năm 2015 đã có những điểm mới căn bản nào về nhóm tội xâm phạm tình dục so với BLHS năm 1999?
BLHS năm 2015 đã bổ sung hành vi "thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác" bên cạnh hành vi giao cấu truyền thống; mở rộng phạm vi chủ thể và đối tượng bị xâm hại (không phân biệt giới tính nam hay nữ); điều chỉnh ranh giới độ tuổi và phân hóa trách nhiệm hình sự trong các tội danh liên quan đến người dưới 16 tuổi.
4. Khoảng trống pháp lý nổi bật trong BLHS năm 2015 được luận án chỉ ra là gì?
Luận án chỉ ra khoảng trống về việc chưa tội phạm hóa hành vi quấy rối tình dục đối với người từ đủ 16 tuổi trở lên; thiếu vắng các tình tiết định khung tăng nặng cụ thể đối với hành vi bạo lực tình dục xảy ra giữa các thành viên trong gia đình (vợ chồng) tại Điều 141 và 143; cùng việc chưa quy định đầy đủ các chế tài cấm tiếp xúc, hạn chế quyền nhằm bảo vệ nạn nhân sau xét xử.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thị Bình đã làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về bảo vệ quyền con người bằng quy định về các tội xâm phạm tình dục trong luật hình sự Việt Nam. Thông qua việc khảo cứu chuẩn mực quốc tế, kinh nghiệm lập pháp của nhiều quốc gia và phân tích thực tiễn áp dụng pháp luật giai đoạn 2010–2019, luận án đã chỉ ra những điểm tiến bộ cũng như các khoảng trống của BLHS năm 2015. Các kết quả nghiên cứu và kiến nghị lập pháp trong luận án cung cấp luận cứ khoa học có giá trị phục vụ công tác hoàn thiện pháp luật hình sự và nâng cao hiệu quả bảo vệ nạn nhân trong tư pháp hình sự.