Luận án tiến sĩ: Thâm nhập ngân hàng nước ngoài và cạnh tranh, hiệu quả NHTM

Luận án phân tích tác động đa chiều của thâm nhập ngân hàng nước ngoài đến môi trường cạnh tranh và hiệu quả hoạt động các ngân hàng thương mại Việt Nam.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2021

216
0
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về thâm nhập ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam

Thâm nhập ngân hàng nước ngoài là quá trình các tổ chức tín dụng quốc tế mở rộng hoạt động vào thị trường tài chính nội địa. Động cơ chính bao gồm tìm kiếm thị trường mới, đa dạng hóa rủi ro và tận dụng lợi thế cạnh tranh. Tại Việt Nam, làn sóng thâm nhập diễn ra mạnh mẽ sau khi gia nhập WTO. Phương thức phổ biến là lập chi nhánh, văn phòng đại diện hoặc mua cổ phần chiến lược tại ngân hàng trong nước. Đo lường mức độ thâm nhập thường dựa trên tỷ lệ tài sản, số lượng chi nhánh hoặc vốn đầu tư của khối ngoại. Sự hiện diện này tạo ra áp lực cạnh tranh buộc các ngân hàng thương mại Việt Nam phải cải thiện năng lực quản trị và chất lượng dịch vụ. Nghiên cứu tập trung vào giai đoạn 2009-2019, giai đoạn hội nhập tài chính sâu rộng.

1.1. Khái niệm và động cơ thâm nhập

Thâm nhập ngân hàng nước ngoài chỉ việc các ngân hàng quốc tế thiết lập sự hiện diện kinh doanh tại một quốc gia khác. Động cơ bao gồm tiếp cận thị trường mới có tốc độ tăng trưởng cao, đa dạng hóa danh mục đầu tư và khai thác lợi thế về công nghệ quản lý. Lý thuyết chiết trung của Dunning giải thích động cơ qua lợi thế sở hữu, vị trí và nội tại hóa. Tại Việt Nam, tiềm năng tăng trưởng kinh tế và quá trình cổ phần hóa ngành ngân hàng là động lực thu hút mạnh mẽ.

1.2. Phương thức và đo lường thâm nhập

Phương thức thâm nhập chính gồm thành lập mới chi nhánh, mua lại và sáp nhập (M&A), hoặc góp vốn chiến lược. Việc đo lường mức độ thâm nhập được thực hiện bằng nhiều chỉ báo khác nhau. Chỉ số tổng hợp dựa trên tỷ trọng tài sản, số lượng chi nhánh, và tỷ lệ sở hữu vốn của nhà đầu tư nước ngoài so với toàn hệ thống. Nghiên cứu tại Việt Nam thường dùng dữ liệu tài chính hợp nhất để xây dựng các chỉ số này, phản ánh thực tế xâm nhập thị trường.

II. Phân tích ảnh hưởng đến cạnh tranh trong hệ thống ngân hàng

Sự thâm nhập của ngân hàng nước ngoài tác động đa chiều đến cấu trúc cạnh tranh thị trường ngân hàng nội địa. Theo lý thuyết cấu trúc ngành của Porter, mức độ tập trung thị trường là yếu tố quyết định cạnh tranh. Tuy nhiên, phương pháp tiếp cận phi cấu trúc như mô hình Panzar-Rosse đo lường cạnh tranh trực tiếp từ hành vi định giá của từng ngân hàng. Nghiên cứu chỉ ra hai luồng quan điểm trái chiều. Một số nghiên cứu cho rằng ngân hàng nước ngoài làm tăng cạnh tranh bằng cách áp dụng công nghệ mới và giảm biên lợi nhuận. Ngược lại, một số nghiên cứu tại các nền kinh tế mới nổi kết luận rằng sự hiện diện này có thể làm giảm cạnh tranh do hiệu ứng tập trung thị trường. Kết quả phụ thuộc vào phương thức thâm nhập và bối cảnh thể chế từng quốc gia.

2.1. Lý thuyết cấu trúc cạnh tranh ngành ngân hàng

Lý thuyết cấu trúc cạnh tranh ngành nhấn mạnh mối quan hệ giữa cấu trúc thị trường và hành vi cạnh tranh. Chỉ số HHI (Herfindahl-Hirschman) đo mức độ tập trung thường được sử dụng. Thị trường tập trung cao có thể dẫn đến độc quyền nhóm, giảm cạnh tranh. Ngược lại, thị trường có nhiều đối thủ cạnh tranh thường có tính cạnh tranh cao hơn. Phương pháp này đo lường cạnh tranh gián tiếp thông qua cấu trúc, không trực tiếp từ hành vi giá của ngân hàng.

2.2. Phương pháp phi cấu trúc và kết quả thực nghiệm

Phương pháp phi cấu trúc, tiêu biểu là mô hình Panzar-Rosse, đo lường cạnh tranh trực tiếp từ phản ứng của doanh thu ngân hàng đối với chi phí đầu vào. Nghiên cứu của Jeon và cộng sự (2011) áp dụng mô hình này cho các nền kinh tế mới nổi tại châu Á và Mỹ Latinh. Kết quả cho thấy thâm nhập ngân hàng nước ngoài có tác động tích cực đến cạnh tranh, khác với kết luận từ nghiên cứu sử dụng phương pháp cấu trúc. Điều này khẳng định tầm quan trọng của việc lựa chọn phương pháp đo lường phù hợp.

III. Phương pháp nghiên cứu và nguồn dữ liệu luận án

Luận án sử dụng phương pháp kinh tế lượng để phân tích mối quan hệ nhân quả giữa thâm nhập ngân hàng nước ngoài, cạnh tranh và hiệu quả hoạt động. Mô hình hồi quy panel với dữ liệu bảng là công cụ chính. Dữ liệu được thu thập từ báo cáo tài chính hợp nhất của các ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn 2009-2019. Các biến số độc lập bao gồm chỉ số đo lường thâm nhập ngân hàng nước ngoài, chỉ số cạnh tranh tính từ mô hình Rosse-Panzar, và các biến kiểm soát như quy mô ngân hàng, tỷ lệ an toàn vốn. Phương pháp ước lượng GMM (Generalized Method of Moments) được áp dụng để xử lý vấn đề nội sinh và sai số hệ thống. Điểm mới là kết hợp phân tích cả tác động trực tiếp và gián tiếp của thâm nhập nước ngoài lên hiệu quả thông qua kênh cạnh tranh.

3.1. Mô hình phân tích và biến số nghiên cứu

Mô hình nghiên cứu xây dựng mối quan hệ giữa biến phụ thuộc là hiệu quả hoạt động ngân hàng (đo bằng ROA, ROE) và các biến giải thích chính là mức độ thâm nhập nước ngoài và chỉ số cạnh tranh H-statistic. Các biến kiểm soát bao gồm quy mô ngân hàng, tăng trưởng tín dụng, tỷ lệ nợ xấu và mức độ đa dạng hóa thu nhập. Mô hình kiểm định cả hiệu ứng trực tiếp và hiệu ứng tương tác để đánh giá vai trò trung gian của cạnh tranh.

3.2. Nguồn dữ liệu và quy trình xử lý

Dữ liệu thứ cấp được thu thập từ báo cáo tài chính hàng năm của các ngân hàng thương mại niêm yết và chưa niêm yết tại Việt Nam. Nguồn dữ liệu bao gồm Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và các cơ sở dữ liệu tài chính quốc tế. Quy trình xử lý dữ liệu bao gồm kiểm tra tính đầy đủ, loại bỏ giá trị ngoại lai, và kiểm định các giả định của mô hình hồi quy panel như kiểm định Hausman để lựa chọn mô hình phù hợp.

IV. Kết luận và hàm ý chính sách từ nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu cho thấy tác động của thâm nhập ngân hàng nước ngoài đến cạnh tranh và hiệu quả là phức tạp và phụ thuộc vào bối cảnh. Nhìn chung, sự hiện diện của ngân hàng nước ngoài làm tăng mức độ cạnh tranh trong hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam. Cạnh tranh tăng lên buộc các ngân hàng nội địa phải cải thiện hiệu quả hoạt động để duy trì thị phần. Tuy nhiên, hiệu ứng này không đồng đều giữa các nhóm ngân hàng. Hàm ý chính sách là cần tiếp tục mở cửa thị trường một cách có lộ trình, kết hợp với tăng cường năng lực quản trị rủi ro và giám sát an toàn hệ thống. Các ngân hàng thương mại trong nước cần chủ động cải thiện công nghệ, nâng cao chất lượng dịch vụ và quản trị chi phí để cạnh tranh hiệu quả.

4.1. Phát hiện chính về mối quan hệ ba chiều

Nghiên cứu xác nhận mối quan hệ ba chiều: thâm nhập ngân hàng nước ngoài tác động tích cực đến cạnh tranh, và cạnh tranh tác động tích cực đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng nội địa. Phát hiện này hỗ trợ giả thuyết rằng sự cạnh tranh từ bên ngoài là động lực cải thiện hiệu suất. Tuy nhiên, tác động gián tiếp này có độ lớn nhỏ hơn tác động trực tiếp của thâm nhập nước ngoài lên hiệu quả.

4.2. Hàm ý cho quản lý ngân hàng và nhà hoạch định chính sách

Đối với nhà hoạch định chính sách, kết quả ủng hộ chính sách tiếp tục mở cửa có kiểm soát để tận dụng lợi ích từ cạnh tranh. Cần hoàn thiện khung pháp lý về sở hữu nước ngoài và giám sát an toàn hệ thống. Đối với ngân hàng thương mại trong nước, bài học là phải không ngừng đổi mới sáng tạo, tập trung vào nâng cao năng suất lao động và quản trị chi phí để tồn tại và phát triển trong môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

21/04/2026
Luận án tiến sĩ ảnh hưởng của thâm nhập ngân hàng nước ngoài đến cạnh tranh và hiệu quả của các ngân hàng thương mại việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 đã trình bày tổng quan về luận án và xác định 2 câu hỏi nghiên cứu. Chương này sẽ hệ thống hóa cơ sở lý thuyết và khảo cứu các nghiên cứu thực nghiệm về ảnh hưởng của thâm nhập NHNNg đến cạnh tranh và hiệu quả của các NHTM trong nước làm cơ sở cho việc phát hiện khe hở nghiên cứu và phát triển các giả thuyết liên quan đến 2 câu hỏi nghiên cứu. THÂM NHẬP CỦA NGÂN HÀNG NƯỚC NGOÀI 2. Khái niệm về thâm nhập của ngân hàng nước ngoài Toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế đã làm xuất hiện các ngân hàng đa quốc gia.

Đây là những ngân hàng sở hữu và kiểm soát hoạt động kinh doanh ngân hàng ở hai hay nhiều nước. Quá trình đầu tư kinh doanh của các ngân hàng này vào một quốc gia được gọi là thâm nhập của NHNNg. Thâm nhập của NHNNg có thể hiểu là quá trình mà các ngân hàng ở một quốc gia (nước đầu tư) thành lập và hoạt động tại một quốc gia khác (nước nhận đầu tư) bằng hình thức mở chi nhánh, liên doanh với ngân hàng trong nước, thành lập ngân hàng con hoặc mua cổ phần thông qua hoạt động mua lại và sáp nhập (Clarke, 2005; Makino và cộng sự, 2007; Slangen và Hennart, 2008). Lý thuyết về động cơ thâm nhập của ngân hàng nước ngoài Có 2 quan điểm lý thuyết chính giải thích về động cơ thúc đẩy NHNNg thâm nhập vào một quốc gia đó là theo sau khách hàng và tìm kiếm cơ hội đầu tư để nâng cao lợi nhuận.

Quan điểm theo sau khách hàng cho rằng thâm nhập của NHNNg là để phục vụ khách hàng của họ khi khách hàng của ngân hàng đầu tư vào quốc gia 8 mà NHNNg thâm nhập (Grubel, 1977). Mục tiêu của NHNNg khi thâm nhập vào một quốc gia là nhằm tiếp tục duy trì mối quan hệ giữa ngân hàng với các công ty mẹ tại nước đầu tư. Khi các công ty mẹ thành lập chi nhánh ở nước nhận đầu tư, NHNNg sẽ thâm nhập vào quốc gia đó để ngăn chặn các chi nhánh của các công ty này chuyển sang ngân hàng mới. Nhờ lợi thế về mối quan hệ từ trước với khách hàng tại nước đầu tư, các ngân hàng có nhiều thông tin về hoạt động kinh doanh của khách hàng, điều này giúp giảm phí dịch vụ, cũng như giảm rủi ro cho ngân hàng.

Khách hàng của ngân hàng cũng có xu hướng duy trì mối quan hệ với các ngân hàng có mối quan hệ từ trước, nhằm tránh chi phí phát sinh từ việc phải cung cấp thông tin của mình cho ngân hàng mới (Lewis, 1991). Quan điểm thứ hai cho rằng động cơ thâm nhập của NHNNg là tìm kiếm cơ hội nâng cao lợi nhuận (Aliber, 1984; Goldberg và Saunder, 1981). Lập luận chính của quan điểm này là NHNNg sẽ thâm nhập vào một quốc gia nếu nhận thấy môi trường kinh doanh ở đó có triển vọng phát triển và đạt được lợi nhuận kỳ vọng. NHNNg có công nghệ vượt trội, tiềm lực tài chính mạnh, uy tín cao, nguồn nhân lực, kỹ năng quản lý và chất lượng dịch vụ tốt hơn, mạng lưới rộng khắp, kiến thức và kinh nghiệm trong hoạt động đa quốc gia, tính chuyên nghi ệp trong vi ệc phục vụ từng loại khách hàng sẽ giúp họ giành được thị phần từ các ngân hàng trong nước và thu được lợi nhuận cao hơn (Cho, 1986; Yannopoulos, 1983).

Ngoài 2 lý thuyết chính giải thích động cơ thâm nhập của NHNNg nêu trên, một số lý thuyết khác cho rằng động cơ thâm nhập của NHNNg là nhằm phân tán rủi ro. Qian và Delios (2008) nghiên cứu trong trường hợp lý thuyết đầu tư quốc tế cho rằng các ngân hàng mở rộng hoạt động quốc t ế đ ể t ận dụng lợi thế trên thị trường nước ngoài và giảm thiểu những bất l ợi và r ủi ro tại thị trường trong nước. García-Herrero và Vazquez (2013) lập luận trong lý thuyết danh mục đầu tư rằng việc đa dạng hóa đầu tư ở các v ị trí đ ịa lý khác nhau có thể làm giảm rủi ro kinh doanh và rủi ro tài chính do chu kỳ kinh doanh, cấu trúc lãi suất, và biến động tỷ giá hối đoái, do đó, các NHNNg sẽ 9 thâm nhập vào ngành ngân hàng ở nhiều quốc gia khác nhau nhằm giảm thi ểu rủi ro trong hoạt động kinh doanh. Tóm lại, các lý thuyết giải thích động cơ thâm nhập của NHNNg đều cho rằng cơ sở để một NHNNg thâm nhập vào một quốc gia là ngân hàng đó sở hữu lợi thế về công nghệ, sức mạnh tài chính, uy tín, nguồn nhân lực và kỹ năng quản trị hiệu quả, và động cơ cho việc thâm nhập của NHNNg là theo sau khách hàng và tìm kiếm lợi nhuận.

Nếu động cơ thâm nhập của NHNNg là theo sau khách hàng thì NHNNg sẽ ít cạnh tranh trực tiếp đối với các ngân hàng trong nước, còn trong trường hợp động cơ thâm nhập của NHNNg là tìm kiếm lợi nhuận sẽ tạo ra sức ép cạnh tranh rất lớn lên các ngân hàng trong nước. Phương thức thâm nhập của ngân hàng nước ngoài NHNNg thường sử dụng 2 phương thức thâm nhập vào một quốc gia là phương thức thành lập cơ sở kinh doanh mới và phương thức mua lại và sáp nhập (Clarke, 2005; Slangen và Hennart, 2008). Phương thức thành lập cơ sở kinh doanh mới được thực hiện dưới hình thức mở văn phòng đại diện, chi nhánh NHNNg, thành lập ngân hàng 100% vốn nước ngoài hoặc ngân hàng liên doanh. Văn phòng đ ại diện là đ ơn v ị ph ụ thuộc hoạt động trên cơ sở vốn và uy tín của ngân hàng mẹ ở n ước ngoài; chi nhánh NHNNg cũng là đơn vị phụ thuộc, không có tư cách pháp nhân, được NHNNg bảo đảm chịu trách nhiệm về mọi nghĩa vụ, cam kết c ủa chi nhánh NHNNg ở nước nhận đầu tư; khác với văn phòng đại diện và chi nhánh, ngân hàng con 100% vốn nước ngoài và ngân hàng liên doanh có tư cách pháp nhân, hoạt động trên vốn tự có của mình.

Cerutti và cộng sự (2007) cho rằng các NHNNg sẽ hoạt động dưới hình thức chi nhánh nếu nước nhận đầu tư có quy định hạn chế NHNNg thâm nh ập và có mức thuế cao hơn nước đầu tư, và hình thức ngân hàng con th ường được áp dụng trong trường hợp NHNNg muốn kinh doanh bán lẻ. Trong khi 10 đó, Makino và cộng sự (2007) cho rằng NHNNg có thể thâm nhập bằng hình thức thành lập ngân hàng liên doanh với ngân hàng trong n ước, v ới hình th ức này NHNNg sẽ tiết kiệm được chi phí điều tra thị trường, tư vấn chính sách và tìm hiểu môi trường kinh doanh có liên quan đến ngành ngân hàng trong nước. Kim và Gray (2009) cho rằng nếu hoạt động của ngân hàng trong nước phát triển mạnh mẽ và văn hóa kinh doanh của ngân hàng trong n ước và NHNNg không tương đồng, thì NHNNg sẽ thâm nhập bằng phương thức thành lập cơ sở kinh doanh mới. Ưu điểm của phương thức thành lập cơ sở kinh doanh mới là tránh được việc kế thừa những tồn tại từ tổ chức cũ như các hợp đồng cho vay chưa giải ngân, sự khác biệt về cơ cấu tổ ch ức, văn hóa kinh doanh và hệ thống công nghệ không tương thích (Dikova và Van Witteloostuijn, 2007; Slangen và Hennart, 2008).

Tuy nhiên, phương thức này có nhược điểm là NHNNg mất nhiều thời gian để am hiểu thị trường, xây d ựng thương hiệu, và thiết lập mối quan hệ với khách hàng. Phương thức mua lại và sáp nhập được thực hiện thông qua việc NHNNg tiến hành mua lại và sáp nhập với một ngân hàng sẵn có trong n ước. Phương thức này thường được sử dụng khi thị trường chứng khoán của nước thu hút đầu tư đã được hình thành và phát triển, các NHNNg ít am hi ểu v ề th ị trường ngân hàng nội địa (Bhaumik và Gelb, 2003). Phương thức mua lại và sáp nhập có ưu điểm là tận dụng được uy tín và lượng khách hàng s ẵn có, nhưng có nhược điểm là rất khó dung hòa sự khác biệt trong văn hóa t ổ ch ức và phương thức hoạt động giữa các bên với nhau.

Theo Van Tassel và Vishwasrao (2007) NHNNg thích thâm nhập bằng phương thức mua lại và sáp nhập hơn lập cơ sở kinh doanh mới, vì chi phí cho việc xử lý các tồn tại của tổ chức cũ trong hoạt động mua l ại và sáp nh ập thường thấp hơn các lợi ích có được từ việc sở hữu nguồn dữ li ệu s ẵn có v ề khách hàng, kiến thức thị trường và uy tín đã được xây dựng từ trước. Đo lường thâm nhập của ngân hàng nước ngoài Có 2 phương pháp đo lường thâm nhập của NHNNg là phương pháp tổng hợp và phương pháp không gian phân bổ. Phương pháp tổng hợp đo lường thâm nhập của NHNNg bằng tỷ lệ số lượng và tỷ lệ tài sản của NHNNg. Số lượng NHNNg Tỷ lệ số lượng NHNNg = Tổng số ngân hàng của toàn ngành Tài sản NHNNg Tỷ lệ tài sản NHNNg = Tổng tài sản của toàn ngành Phương pháp tổng hợp được nhiều nghiên cứu thực nghiệm sử dụng (Barajas và cộng sự, 2000; Claessens và cộng sự, 2001; Claessens và Lee, 2003; Denizer, 2000; Lensink và Hermes, 2004; Lien và cộng sự, 2015; Pham và Nguyen, 2020; Manlagñit, 2011; Shen và cộng sự, 2009; Unite và Sullivan, 2003).

Phương pháp không gian phân bổ đo lường thâm nhập của NHNNg thông qua chỉ số tiếp xúc giữa NHNNg và ngân hàng trong nước. Xu (2011) là người đầu tiên đề xuất phương pháp không gian phân bổ khi xây dựng chỉ số tiếp xúc thay cho phương pháp tổng hợp, vì cho rằng phương pháp tổng hợp chỉ nắm bắt sự hiện diện của NHNNg ở phạm vi tổng thể, không phản ánh mức độ tiếp xúc v ề mặt địa lý của một ngân hàng cụ thể trong nước với NHNNg. Chỉ số tiếp xúc được tính bằng tỷ lệ giữa số chi nhánh NHNNg tại một địa phương với tổng số chi nhánh NHNNg mà một ngân hàng trong nước tiếp xúc. Luo và cộng sự (2017) đã bổ sung cách tính chỉ số tiếp xúc để xác định chính xác mức độ tiếp xúc qua mạng lưới chi nhánh.

Chỉ số tiếp xúc chi nhánh được tính bằng tỷ lệ giữa tổng số chi nhánh NHNNg tại tất cả các địa phương mà một ngân hàng trong n ước có chi nhánh với tổng số chi nhánh NHNNg mà một ngân hàng trong nước tiếp xúc.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ