Chương 1: TỔNG QUAN VỀ LỰA CHỌN THỊ TRƯỜNG NIÊM YẾT CHỨNG KHOÁN RA NƯỚC NGOÀI 1.1 Lý luận chung về niêm yết chứng khoán và niêm yết chứng khoán ra nước ngoài Niêm yết có tên thông dụng Tiếng Anh là listing. Chào bán chứng khoán là IPO và niêm yết ra nước ngoài là overseas listing hay cross-listing. Phạm vi bài này làm rõ hai khái niệm sau: 1.1 Niêm yết chứng khoán Theo luật chứng khoán năm 2006 “ Niêm yết chứng khoán là việc đưa các chứng khoán có đủ điều kiện vào giao dịch tại Sở giao dịch chứng khoán hoặc Trung tâm giao dịch chứng khoán”.2 Niêm yết chứng khoán ra nước ngoài Là việc đưa các chứng khoán niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán tại nước ngoài.3 Những lợi ích cho doanh nghiệp Việt Nam niêm yết ra nước ngoài Enrico C Perotti và Egbert Cordfunke (1997) chứng minh rằng niêm yết ở thị trường danh tiếng có yêu cầu về minh bạch thông tin cao sẽ nâng cao hình ảnh doanh nghiệp trong nhà đầu tư và một lần nữa khẳng định triển vọng doanh nghiệp. Niêm yết nước ngoài giúp công ty có tầm nhìn quốc tế và danh tiếng sẽ được nhận ra bởi khách hàng và đối tác chiến lược (James C.
Chapman, Wanli Xu, Nixson Peabody, 2008). Durnev và Kim (2004) cho rằng công ty niêm yết ở sàn có qui định chất lượng quản trị công ty tốt, hệ thống pháp luật tốt, bảo vệ nhà đầu tư thiểu số và nhà đầu 5 tư nước ngoài sẽ thu hút nhiều nhà đầu tư từ bên ngoài. Nói cách khác sẽ làm tăng tính thanh khoản cho chứng khoán của họ. Qian Suan, Wilson H.S Tong, Yujun Wu (2007) kết luận công ty niêm yết ngoại có sự gia tăng về tài sản và lợi nhuận, đòn bẩy thấp đi, tính thanh khoản cao hơn so với những công ty niêm yết trong nước.
Những công ty niêm yết ngoại chịu sự giám sát nghiêm ngặt của những nhà đầu tư và đội ngũ quản lý của công ty họ nên bắt buộc phải tập trung vào mục tiêu phát triển dài hạn. Vì thế, trong giai đoạn ngắn hạn sau niêm yết, thường không thể hiện sự cải thiện lợi nhuận ngay lập tức. Những bằng chứng thực nghiệm cho thấy, các công ty niêm yết ngoại có khuynh hướng cạnh tranh hơn và tạo ra những giá trị kinh tế thật sự cho nhà đầu tư. Theo Bernardo Bortolotti, Marcella Fantini và Carlo Scarpa (2000) niêm yết ngoại giúp doanh nghiệp có cơ hội quảng bá doanh nghiệp mình, hấp dẫn nguồn vốn quốc tế và có mối quan hệ liên kết với nền kinh tế thế giới.
Dùng cách này để đánh tiếng sự nhận biết của khách hàng nước ngoài. Anderson và Tychon (1993) niêm yết nước ngoài kích thích những buôn bán giao dịch thị trường trong nước vì đối với nhà đầu tư đây là tín hiệu của sự hoạt động hiệu quả và triển vọng tương lai. Vì thế, công ty niêm yết ngoại thành công có thể làm tăng giá cổ phiếu ở thị trường trong nước. Cổ đông và những người quản lý (người sử dụng vốn) thường có thông tin bất cân xứng nên việc niêm yết nước ngoài ở thị trường có môi trường thông tin tốt hơn, cơ chế giám sát tốt hơn, thị trường trưởng thành hơn sẽ rất có lợi cho cổ đông trong việc giám sát hoạt động sử dụng vốn.
Vậy nên niêm yết ra nước ngoài, người được lợi cũng chính là các cổ đông hiện tại.4 Những thuận lợi và khó khăn khi doanh nghiệp niêm yết ra nước ngoài 1.1 Thuận lợi Chính sách thu hút công ty nước ngoài đến niêm yết vì mục tiêu cạnh tranh của các sàn trên thế giới như các hoạt động về hổ trợ tư vấn pháp lý. Nyse và Nasdaq mở các chi nhánh tại China. HongKong, Singapore, London cũng từng đến Việt Nam tổ chức hội thảo về niêm yết và đưa doanh nghiệp Việt Nam sang thăm các sàn này để biết được cách thức hoạt động và sự mong đợi, kỳ vọng của những nhà đầu tư tại đây. Singapore còn đưa ra chính sách khuyến khích các doanh nghiệp đến gặp trực tiếp họ trước khi nộp đơn chính thức để họ tư vấn và đưa ra những lời khuyên để tránh chi phí không cần thiết và đỡ mất thời gian cho doanh nghiệp.
Thông thường, chính phủ ở các nước có trình độ phát triển thị trường chứng khoán thấp đều khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp mình niêm yết ở sàn phát triển cao hơn như thuận lợi về thủ tục hành chính, thái độ đối xử với doanh nghiệp. Các xu thế toàn cầu như xu thế toàn cầu hoá, hoạt động gia nhập WTO, xu thế đa dạng hoá danh mục đầu tư và nhìn sang thị trường các nước đang phát triển như Việt Nam của các nhà đầu tư quốc tế, xu thế đi tìm đối tác chiến lược của công ty Việt Nam tạo làn sóng cho hoạt động niêm yết ra nước ngoài. Cuối cùng, một nhân tố cực kỳ quan trọng làm nhịp cầu cho hoạt động niêm yết nước ngoài, đó là việc ra đời của sàn giao dịch chứng khoán Thành Phố Hồ Chí Minh. Từ lúc ra đời đến nay thị trường đã hoạt động được 10 năm với sự thiết lập các luật chơi của thị trường.
Nếu không có tiếng rung chuông đầu tiên cách đây 10 năm để khởi đầu giao dịch thị trường thì đến nay sẽ không có khái niệm niêm yết ra nước ngoài. Các qui định pháp luật ban hành đã có nghiên cứu chuyên sâu các qui định của các sàn giao dịch trên thế giới. Vì lẽ đó, doanh nghiệp Việt Nam niêm yết sàn trong nước không còn lạ với vấn đề công bố thông tin như thông tin 7 về doanh nghiệp, các thông tin tài chính, định hướng phát triển doanh nghiệp…và bước đầu xây dựng quan hệ với nhà đầu tư. Tất cả những vấn đề này sẽ giúp doanh nghiệp không bỡ ngỡ khi niêm yết ra nước ngoài.2 Khó khăn Sự e ngại của nhà đầu tư nước ngoài về rào cản ngôn ngữ và văn hoá.
Nhà đầu tư e ngại vấn đề khai thác thông tin công ty, có những thông tin đưa lên website trong nước nhưng lại không công bố hay có sẵn khi chuyển sang ngôn ngữ tiếng nước ngoài nên họ vẫn thích thị trường nội địa hơn, nơi mà có rất nhiều nhà đầu tư trong nước (HKEX, Oct 2007). Mỗi quốc gia trên thế giới đều có hoàn cảnh lịch sử, thể chế, chế độ kế toán, các qui định pháp luật khác nhau và sẽ không tránh khỏi sự chồng chéo các qui định pháp luật. Việc phải tuân thủ các qui định, chuẩn mực kế toán nước ngoài hay chuẩn mực kế toán quốc tế làm các doanh nghiệp tốn kém thời gian và chi phí, buộc các nhà làm luật tại quốc gia có doanh nghiệp muốn niêm yết nước ngoài phải điều chỉnh, cải cách những qui định hiện tại để phù hợp thông lệ quốc tế. Điển hình là Trung Quốc và Nhật Bản đã mất 10-20 năm cho việc cải cách này.
Bản thân doanh nghiệp niêm yết cũng không có đủ am hiểu về các qui định luật pháp ở các sàn nên phải phụ thuộc nhiều vào chuyên gia và cần thời gian chuẩn bị để tuân thủ và hấp thu các luật. Mặt khác, việc chưa có định hướng của chính phủ và hành lang pháp lý cho hoạt động niêm yết nước ngoài sẽ là khó khăn rất lớn với doanh nghiệp đi niêm yết vì doanh nghiệp phải tự mò mẫm con đường, vừa đi, vừa xin ý kiến chỉ đạo. Việc đáp ứng các yêu cầu về số liệu tài chính đòi hỏi doanh nghiệp phải có bộ dữ liệu quá khứ với chi tiết cao, có thể chuyển đổi theo chuẩn nước ngoài. Yêu cầu minh bạch cao và bắt buộc thiết lập tốt quan hệ với nhà đầu tư.
Để làm được 8 những điều này đòi hỏi doanh nghiệp phải có quá trình đầu tư công nghệ thông tin và nó cũng trở nên khó khăn đối với doanh nghiệp chưa đầu tư công nghệ thông tin đúng mực.2 Tiêu chuẩn niêm yết trên thị trường chứng khoán các nước 1.1 Thị trường lớn nhất thế giới NYSE 1.1 Lịch sử hình thành NYSE thành lập vào năm 1792, xuất phát từ thoả thuận thành lập thị trường của 24 nhà môi giới Mỹ dưới gốc cây buttonwood mà bây giờ là số 68 Wall Street. Ban đầu hoạt động phi lợi nhuận. Tính đến nay, NYSE có 218 năm chiều dài lịch sử. Trải qua nhiều giai đoạn phát triển khác nhau, năm 1914 tạm thời đóng cửa vì thế chiến thứ nhất.
Năm 1934 đạo luật chứng khoán được ban hành, SEC ra đời, cơ quan quyền lực quản lý các hoạt động niêm yết tại Mỹ. Về cơ cấu quản lý, NYSE là sàn giao dịch lớn và có cơ cấu phát triển phức tạp. Năm 2006, NYSE sáp nhập với hai sàn giao dịch Pacific Exchange, và Archipelago để trở thành NYSE Group. Năm 2007, NYSE Group tiếp tục sáp nhập với Euronext (bao gồm các sàn Lisbon Exchange, London International Financial Futures And Options Exchange (Liffe), Paris Bourse, Brussels Exchange, Amsterdam Exchange), để thành trở nhóm thị trường tài chính toàn cầu có tên gọi là NYSE Euronext như hiện nay.
NYSE là thị trường lớn nhất thế giới xét theo nhiều chỉ tiêu khác nhau. Theo số liệu thống kê năm 2009 của tổ chức World Federation of Exchanges (WFE), vốn hoá thị trường NYSE chiếm 24.8% (11,838 tỷ USD) trong tổng số 47,783 tỷ USD của tổng vốn hoá thị trường của các sở giao dịch chứng khoán thành viên của tổ chức này (bao gồm thị trường Mỹ, Châu Á-Thái Bình Dương, Châu Âu, Châu Phi và Trung Đông) và đứng số một trên thế giới. Thị trường thu hút 2,327 9 doanh nghiệp niêm yết, trong đó 495 là công ty đến từ nước ngoài, đứng thứ hai trên thế giới (sau LSE London với 613 công ty). NYSE có lịch sử lâu đời nên công ty niêm yết trên NYSE cũng lâu đời.Tuy nhiên, đối với các công ty nước ngoài niêm yết trên NYSE thường có qui mô lớn, mới cổ phần hóa, khuynh hướng xuất khẩu, tỷ lệ tăng trưởng cao, công nghệ cao, hoạt động R&D chuyên sâu.
Xét về qui mô IPO, theo số liệu thống kê năm 2007 của Dealogic, khi so sánh NYSE với Nasdaq, LSE, HKEX, các công ty có qui mô IPO từ 6.4 triệu USD đến 6 tỷ USD, riêng thị trường NYSE có số trung vị về qui mô IPO của các công ty là hơn 200 triệu USD. Một nghiên cứu khác của PWC (2009), cho thấy số trung vị qui mô IPO trên NYSE giai đoạn 2004-2008 từ 212 triệu USD đến 220 triệu USD. Các ngành chính công ty nước ngoài niêm yết thường là dịch vụ kinh doanh, tài chính, năng lượng, công nghiệp. Các công ty có thể niêm yết tại NYSE qua ba hình thức, đó là trực tiếp, SPAC, và ADR.