phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và ba chƣơng với các nội dung nhƣ sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận, phƣơng pháp nghiên cứu và số liệu, dữ liệu sử dụng trong luận văn Chƣơng 2: Khái quát khu vực nghiên cứu Chƣơng 3: Kết quả nghiên cứu 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN, PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ SỐ LIỆU, DỮ LIỆU SỬ DỤNG TRONG LUẬN VĂN 1. Một số khái niệm dùng trong luận văn 1. Biểu hiện và tác động của BĐKH Biến đổi khí hậu, là sự thay đổi của khí hậu đƣợc quy định trực tiếp hay gián tiếp là do hoạt động của con ngƣời làm thay đổi thành phần của khí quyển toàn cầu và đóng góp thêm vào sự biến động khí hậu tự nhiên trong các thời gian có thể so sánh đƣợc.
Biến đổi khí hậu xác định sự khác biệt giữa giá trị trung bình dài hạn của một tham số hay thống kê khí hậu; trong đó, trung bình đƣợc thực hiện trong khoảng thời gian xác định, thƣờng là vài thập kỷ (United Nations, 1992; Viện Khoa học Khí tƣợng Thủy văn và Môi trƣờng, 2010; Bộ Tài nguyên và Môi trƣờng, 2012). Kịch bản biến đổi khí hậu, là giả định cơ sở khoa học và tính tin cậy về sự tiến triển trong tƣơng lai của các mối quan hệ giữa kinh tế - xã hội, phát thải khí nhà kính, BĐKH và mực nƣớc biển dâng (Viện Khoa học Khí tƣợng Thủy văn và Môi trƣờng, 2010, 2012; Bộ Tài nguyên và Môi trƣờng, 2012, 2014b). Nước biển dâng, là sự dâng mực nƣớc của đại dƣơng trên toàn cầu, trong đó không bao gồm: triều, nƣớc dâng do bão… Nƣớc biển dâng tại một vị trí nào đó có thể cao hơn hoặc thấp hơn so với trung bình toàn cầu vì có sự khác nhau về nhiệt độ của đại dƣơng và các yếu tố khác (Viện Khoa học Khí tƣợng Thủy văn và Môi trƣờng, 2010, 2012; Bộ Tài nguyên và Môi trƣờng, 2012, 2014b). Ứng phó với biến đổi khí hậu, là các hoạt động của con ngƣời nhằm thích ứng và giảm nhẹ các tác nhân gây ra biến đổi khí hậu (Viện Khoa học Khí tƣợng thủy văn và Môi trƣờng, 2012; Bộ Tài nguyên và Môi trƣờng, 2014b).
Thích ứng với biến đổi khí hậu, là sự điều chỉnh hệ thống tự nhiên hoặc con ngƣời đối với hoàn cảnh hoặc môi trƣờng thay đổi, nhằm mục đích giảm khả năng bị tổn thƣơng do dao động và biến đổi khí hậu hiện hữu hoặc tiềm tàng và tận dụng các cơ hội do nó mang lại (Hội Bảo vệ thiên nhiên và Môi trƣờng Việt Nam, 2011; Viện Khoa học Khí tƣợng thủy văn và Môi trƣờng, 2012; Bộ Tài nguyên và Môi trƣờng, 2014b). 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Quy hoạch sử dụng đất Hiện nay có rất nhiều định nghĩa về quy hoạch sử dụng đất (QHSDĐ) khác nhau, từ đó đƣa đến những việc phát triển quan điểm và phƣơng pháp đƣợc sử dụng trong QHSDĐ cũng khác nhau. Theo Fresco và cộng sự (1992), quy hoạch sử dụng đất là một hình thức quy hoạch vùng, trực tiếp cho thấy việc sử dụng hợp lý đƣợc xem là tốt nhất về đất đai trên quan điểm chấp nhận những mục tiêu, và những cơ hội về môi trƣờng, xã hội và những vấn đề hạn chế khác.
Trong khi đó, Dent (1988, 1993) lại định nghĩa quy hoạch sử dụng đất là phƣơng tiện giúp cho nhà quản lý quyết định hình thức sử dụng đất đai thông qua việc đánh giá có hệ thống để lựa chọn mô hình sử dụng đất đai phù hợp, mà trong sự chọn lựa này sẽ đáp ứng với những mục tiêu riêng, phù hợp với từng mô hình, và từ đó hình thành nên chính sách và chƣơng trình cho mục đích sử dụng đất đai Theo quan điểm tổng hợp, quy hoạch sử dụng đất đƣợc quan niệm: "là một tiến trình xây dựng những quyết định để đƣa đến những hành động trong việc phân chia đất đai cho sử dụng để cung cấp những cái có lợi bền vững nhất” (FAO, 1995). Với cái nhìn về quan điểm khả năng bền vững thì chức năng của Quy hoạch sử dụng đất là hƣớng dẫn sự quyết định trong sử dụng đất đai để làm sao trong nguồn tài nguyên đó đƣợc khai thác có lợi cho con ngƣời, nhƣng đồng thời cũng đƣợc bảo vệ cho tƣơng lai. Cung cấp những thông tin tốt liên quan đến nhu cầu và sự chấp nhận của ngƣời dân, tiềm năng thực tại của nguồn tài nguyên và những tác động đến môi trƣờng có thể có của những sự lựa chọn là một yêu cầu đầu tiên cho tiến trình quy hoạch sử dụng đất đai thành công. Trong quy hoạch sử dụng đất, đánh giá đất giữ vai trò quan trọng nhƣ công cụ để đánh giá thực trạng sử dụng đất đai cho mục đích riêng biệt (FAO, 1976), hay nhƣ một phƣơng pháp để định nghĩa hoặc dự đoán tiềm năng sử dụng đất đai (Van Diepen và cộng sự, 1988).
Theo hƣớng này, quy hoạch sử dụng đất đai có thể đƣợc hiểu: “.là sự đánh giá tiềm năng quốc gia có hệ thống, tính thay đổi trong sử dụng đất và những điều kiện kinh tế - xã hội để chọn lọc và thực hiện các lựa chọn sử dụng đất đai hợp lý nhất. Đồng thời quy hoạch sử dụng đất đai cũng là chọn lọc và 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đưa vào thực hiện những mục đích sử dụng đất đai phải phù hợp với yêu cầu cần thiết của con người về bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên trong tương lai”. Do đó, trong quy hoạch cần thể hiện đƣợc: 1) Những sự cần thiết phải thay đổi; 2) Những cần thiết cho sự việc cải thiện quản lý; hay 3) Những cần thiết cho kiểu sử dụng đất đai hoàn toàn khác nhau trong các trƣờng hợp cụ thể khác nhau. Các loại sử dụng đất đai bao gồm: đất ở, nông nghiệp (thủy sản, chăn nuôi,…) đồng cỏ, rừng, bảo vệ thiên nhiên và du lịch đều phải đƣợc phân chia một cách cụ thể theo thời gian đƣợc quy định.
Do đó trong quy hoạch sử dụng đất đai phải cung cấp những hƣớng dẫn cụ thể để có thể giúp cho các nhà quyết định có thể chọn lựa trong các trƣờng hợp có sự mâu thuẫn giữa đất nông nghiệp và phát triển đô thị hay công nghiệp hóa bằng cách là chỉ ra các vùng đất đai nào có giá trị nhất cho đất nông nghiệp và nông thôn mà không nên sử dụng cho các mục đích khác. Biến đổi sử dụng đất Thực tế, sử dụng đất thƣờng đƣợc hiểu đơn giản là các hoạt động làm thay đổi bề mặt trái đất phục vụ các lợi ích của con ngƣời. Trong khi đó, khái niệm của quá trình chuyển đổi sử dụng đất đề cập đến bất kỳ sự thay đổi trong hệ thống sử dụng đất từ một trạng thái này sang một trạng thái khác (Lambin E. Theo các tác giả này, sử dụng đất hiện nay diễn ra theo hai xu hƣớng: thứ nhất là các quá trình thay đổi dần dần ở quy mô rộng lớn và thứ hai là sự chuyển đổi đột ngột để ứng phó với các sự kiện quan trọng ở cấp cộng đồng địa phƣơng hoặc cá nhân.
Quá trình biến đổi sử dụng đất có liên quan tới sự thay đổi trong sự cung cấp hàng hóa và dịch vụ sinh thái mà xã hội con ngƣời phụ thuộc.Sự đa dạng lớn trong bối cảnh địa lý và lịch sử có liên quan tới biến đổi sử dụng đất và rất nhiều sự phức tạp trong cả hai hệ thống sinh thái và xã hội. Theo các tác giả Eric F. Lambin, Patrick Meyfroidt(Lambin E. 2010), hai yếu tố mang tính lực đẩy ảnh hƣởng tới quyết định sử dụng đất nói chung là: (i) lực đẩy sinh thái – xã hội; và (ii) lực đẩy kinh tế - xã hội.
Trong đó, lực đẩy sinh thái – xã hội là động lực nội sinh gồm: sự phát triển có giới hạn của nguồn tài nguyên thiên nhiên; sự thiếu hụt đất đai và thâm canh nông nghiệp; điều chỉnh sử dụng đất mang tính địa phƣơng, xuất hiện khi sản phẩm và dịch vụ đƣợc cung cấp bởi các hệ sinh thái tự nhiên bị suy giảm nghiêm trọng, khiến chúng buộc 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com phải làm chậm hoặc thậm chí đảo ngƣợc sự biến đổi sử dụng đất. Lực đẩy kinh tế - xã hội là các động lực ngoại sinh (gồm: sự hiện đại hóa kinh tế, thuê đất và tiếp cận thị trƣờng, chế độ sở hữu đất đai, thƣơng mại toàn cầu, sự phổ biến của các ý tƣởng bảo vệ môi trƣờng toàn cầu), bắt nguồn từ cấp độ tổ chức cao hơn, từ khu vực lân cận, hoặc từ các cuộc cải cách địa phƣơng, dẫn đến sự chuyển dịch từ mở rộng sử dụng đất sang phục hồi hệ sinh thái tự nhiên ở quy mô quốc gia. Liên quan tới biến đổi sử dụng đất, dựa trên 320 nguồn tài liệu từ sách báo, tạp chí trong các lĩnh vực kỹ thuật, vật lý, khoa học xã hội, có những từ “sử dụng đất”, “biến đổi sử dụng đất”, “biến đổi lớp phủ và sử dụng đất” hoặc “biến đổi lớp phủ đất” trong tiêu đề hoặc từ khóa (có sự giới hạn đối với một khái niệm rộng lớn hơn của các lĩnh vực có sự tham gia của phƣơng pháp tiếp cận quản lý nhân chủng học/môi trƣờng kết hợp với các chủ đề nhƣ: cải cách đất đai, quyền sử dụng đất, quản lý đất đai và quyền sở hữu, tái định cƣ, và quan điểm cộng đồng về đất đai), các tác giả B.R ,2006) cho rằng có các xu hƣớng nghiên cứu về biến đổi sử dụng đất nhƣ sau: - Nguyên nhân của sự biến đổi sử dụng đất thƣờng đƣợc cho là do kết hợp lại các động lực đƣợc xác định một cách rộng rãi. -Việc nghiên cứu về nguyên nhân của sự thay đổi hƣớng tới tiếp cận các động lực biến đổi mang tính toàn cầu hoặc khu vực.
- Biến đổi sử dụng đất thƣờng đƣợc coi nhƣ là kết quả của các quá trình khác (chính trị, kinh tế, môi trƣờng), đóng vai trò nhƣ một điều kiện cho những quá trình ở quy mô địa phƣơng và toàn cầu, thay vì là một quá trình đƣợc thành lập bởi mối quan hệ quyền lực địa phƣơng, khu vực, và quốc gia. - Các tài liệu có xu hƣớng hƣớng tới nghiên cứu các hộ gia đình (sử dụng phƣơng pháp tiếp cận hệ thống – gợi nhắc phƣơng pháp tiếp cận văn hóa sinh thái tới tƣơng tác con ngƣời - môi trƣờng) và kết quả mô hình hóa.