mở đầu và thể thức kết thúc như. trong văn bản hành chính, ở dấu hiệu chữ viết. Bên cạnh tính chỉnh thể, trong văn bản còn có tính liên kết. Đó là những mối quan hệ qua lại chặt chẽ giữa các câu, giữa các đoạn, giữa các phi.
các bộ phận của văn bản. Nhờ vào tính chất này mà văn bản thé hiện trọn vẹn về nội dung và hình thức. Tính liên kết thể. trên cả hai phương điện của văn bản là liên kết nội dung và các phương tiện hình thức của sự liên kết.
Tính liên kết nội dung, mỗi văn bản chỉ có khả năng đề cập đến một đề tải, là nội dung hiện thực khách quan phản ánh trong văn bản. Văn bản ồm nhiêu từ, ngữ, câu, đoạn nhưng những bộ phận này trong văn bản phải tập trung thể hiện để tài văn bản. Sự liên kết về hình thức thể hiện sự liên kết giữa câu với câu, giữa đoạn với đoạn trong văn bản. Các phương tiện liên kết thuộc các phương thức như: phương thức lặp (lấp lại từ ngữ đã xuất hiện), phương thức thế (eó thể thế bằng đại từ, thế bằng từ đồng nghĩa, gân nghĩa.), phương thức liện tưởng (liên tướng đồng loại, liên tướng định vị.), phương thức nối như nối bằng quan hệ từ, kết tỉ " Mỗi văn bản hướng tới một mục tiêu nhất định, đó là mục đích giao tiếp của văn bản.
Mục tiêu của văn bản quy định việc lựa chọn chất liệu nội dung, việc tô chức chất liệu nội dung, việc lựa chọn phương tiện ngôn ngữ và. tô chức văn bản theo một cách thức nhất định (phong cách chức năng). Qua các đặc trưng cơ bản trên có thể nhận định rằng: “văn bản là sản phẩm của hoạt động giao tiếp ngôn ngữ ở dạng viết hoặc dạng nói, thường là tập hợp của các câu, có tính trọn vẹn về nội dung, tính hoàn chỉnh về hình thức, có tính liên kết chặt chẽ và hướng tới một mục tiêu giao tiếp nhất định ” (43, tr. Văn bản nói và văn bản viết Văn bản nói là lời trò chuyện trong đời sống hàng ngày ở gia đình giữa con cháu với bố mẹ, ông bà.
ở nơi công cộng như trường học, nhà #a, bênh viện, cửa hàng. lời phát biểu ở các buổi phỏng vấn trên các phương tiện thông tin đại chúng. là lời giảng bài trong các tiết học. Văn bản viết là văn bản ghỉ bằng chữ viết như thư từ, sách, báo, các văn.
bản hành chính pháp luật,. Văn bản nói và van ban vi có những điểm khác nhau về các phương diệt thất liệu sử dụng, hoàn cảnh sử dụng và các phương tiện trong hệ thống tiếng Việt. Thứ nhất, về chất liệu sử dụng, văn bản nói tồn tại dạng âm thanh, có sự kết hợp ngữ điệu và các phương tiện bên ngoài ngôn ngữ như nét mặt, cử chỉ, điệu bộ. Văn bản viết tổn tại ở dạng viết, được ghi lại bằng.
chữ viết, có hệ thống dấu câu đặc thủ đối với từng loại ngôn ngữ. Thứ hai, về hoàn cảnh sử dụng, văn bản nói có tính chất tức thời, không được dàn dựng trước, không có cơ hội gọt giữa, kiểm tra và có người nghe trực tiếp (mặt đối mặt). Văn bản viết có điều kiện dàn dung, có cơ hội chỉnh sửa và kiểm tra thường không có người nhận trực tiếp. Thứ ba, về các phương tiện trong hệ thống tiếng Việt: 12 ~ Văn bản nói sử dụng đúng và tốt hệ thống ngữ âm tránh phát âm khó nghe, nói lướt.
Văn bản viết phải đảm bảo đúng chuẩn chính tả trừ những trường hợp cần phản ánh những đặc thủ vùng miền, địa phương và thổ ngữ; viết đúng dấu câu, con chữ và tuân thủ những về quy định hình thức của các văn bản pháp quy. ~ Văn bản nói cho phép sử dụng lớp từ ngữ riêng mang phong cách hội thoại, thường là khẩu ngữ như đẹp hết sáy, xả hơi tí, ăn cơm cái đã. Van bản viết tránh dùng những từ ngữ mang phong cách riêng của hội thoại (trừ sáng tác văn học có sử dụng hội thoại), cằn chọn lớp từ ngữ phủ với phong cách chức năng của văn bản. ~ Văn bản nói thường dùng câu ngắn gọn, có thể dùng câu rút gọn, câu đặc biệt.
Văn bản viết thường dùng câu ghép, nhiều bậc, có thể dùng câu tỉnh lược nhưng phải phù hợp phong cách chức năng văn bản, tránh. dùng từ ngữ thừa, lặp lại nhiều lần. Đặc điễm của văn bản viết 'Văn bản viết gồm các đặc điểm cơ bản sau: Thực hiện bằng chữ viết (chép, in, khắc) do đó lưu giữ lâu dài đến phạm vi người đọc rộng lớn. Không có người nghe, không sử dụng âm thanh và các yếu tố phi ngôn ngữ nên văn bản viết có hệ thống dấu câu, kí hiệu quy ước làm cho.
văn bản đầy đủ về ý nghĩa. Dùng để đọc nên văn bản viết có những từ ngữ đặc thù không có trong văn bản nói Do yêu cầu diễn đạt sáng rõ, mạc lạc, văn bản viết có kiểu câu dài, nhiều thành phần được nối kết chặt chẽ bằng các quan hệ từ, văn bản tỉnh. luyện, trau chuốt. Khái quát văn bản viết của học sinh trong chương trình Ngữ văn trung học phổ thông 1.
Vài nết về chương trình và SGK phân môn Làm văn Môn Ngữ văn là môn học có vị trí quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu chung của giáo dục phổ thông góp phần hình thành những con người có trình độ học vấn phổ thông trung học, trang bị cho người học những kiến thức cơ bản hoặc ra đời trở thành người lao động hoặc tham gia các bậc học cao hơn. Môn học này không chỉ giúp HS tiếp xúc rộng rãi và sâu sắc hơn với những giá trị tỉnh thần cao đẹp, đa dạng và phong phú của văn học, mà còn có vai trò to lớn trong việc giáo dục tư tưởng, tình cảm cao đẹp cho HS, giúp các em tiếp nhận hệ thống những giá trị tư tưởng lớn của văn học dân tộc và nhân loại như chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa anh hùng, chủ nghĩa nhân văn.thể hiện ở nhiều khía cạnh và dưới nhiều màu sắc khác nhau, trong những quan hệ đa dạng và phong phú của con người, cũng như trong cuộc đấu tranh cho độc lập, tự do, cho lẽ pÌ sự công bằng, cho hạnh phúc và nhân phẩm. Môn Ngữ văn gồm ba phân môn: Văn học, Tiếng Việt và Làm văn. Phân môn Làm văn có vị trí đặc biệt quan trọng trong việc giảng dạy môn Ngữ văn ở nhà trường phổ thông.
Tỉ lệ số tiết dạy Làm văn trong chương trình khá nhiều, chiếm một phần ba dung lượng của môn Ngữ văn. Cụ thể, trong chương trình cơ bản, lớp 10 có 35 tiết so với 105 tiết một lớp một năm, lớp 11 có 37 tiết so với 123 tiết một lớp một năm, lớp 12 có 31 tiết so với 105 tiết một lớp một năm. Các tiết đạy Làm văn được bố trí xen kẽ với các tiết dạy Tiếng Việt và Văn Học theo chủ trương tích hợp ba phân môn trong môn Ngữ văn. Phân môn Làm văn giúp HS hoàn chỉnh các trì thức về làm văn, những vấn đề lí thuyết và thực hành; rèn luyện củng cố, bổ sung, nâng cao những đơn vị kiến thức đã được học ở cấp tiêu học và 14 THCS.
Học xong lớp 12, học sinh sẽ được trang bị một hệ thống những van dé lí thuyết cơ bản và rèn luyện những kĩ năng chính trong việc tạo lập văn bản. Qua việc thực hành, phân môn Làm văn dần dần nâng cao. năng lực sử dụng ngôn ngữ và nâng cao năng lực tư duy. Đó là việc HS vận dụng vốn ngôn ngữ sẵn có và vốn ngôn ngữ đã tiếp thu cùng với quá trình tư duy lôgie tạo nên một sản phẩm hoàn chỉnh.
Phân môn Làm văn trong trường phổ thông củng cố, năng cao vốn tri thức về sáu kiểu văn bản. Ở lớp 10 chủ yếu ôn lại các kiểu văn bản đã học ở THCS và học thêm một số nội dung mới. Nội dung ôn luyện là các vấn để lí thuyết đã học của bốn kiểu văn: tự sự, miêu tả, biểu cảm, thuyết minh. Nội dung mới cần hình thành và rèn luyện là năng lực liên tưởng, tưởng tượng, khả năng quan sát, thể nghiệm đời sống; iết suy nghĩ, phát hiện vấn để từ đời sống; biết đọc vi lũy kiến thức,.
Ở lớp I1, chương trình tập trung ôn lại và mở rộng, nâng cao các trí thức và kĩ năng về văn bản nghị luận, trọng tâm là giới thiệu và luyện tập các thao tác lập luận như phân tích, so sánh, bác bỏ và bình luận. Ở lớp 12, trọng tâm các nghị luận, luyện tập kết hợp các thao tác và hoàn chỉnh kĩ năng viết bài, đi sâu kĩ lưỡng vào bố cục bài ăn, kĩ năng viết mở bài, thân bài kết bài. Về kiểu văn bản hành chính — cong vụ, học sinh THPT sẽ học một số văn bản hành chính công vụ trên tỉnh thần không lặp lại những gì đã học ở cấp dưới. Như vậy, bài viết HS gồm các kiểu văn bản tự sự, văn bản thuyết minh và văn bản nghị luận là chủ yếu.
Vấn đề phương pháp giảng dạy tạo lập văn bản Về việc dạy lí thuyết, khác với các bộ môn khác lí thuyết phân môn Lam văn là lí thuyết thực hành. Vì vậy, chúng ta cần thông qua phần thực. hành để rút ra lý thuyết, từ thực hành để khẳng định lý thuyết và ngược. lại, lý thuyết cần phải có ví dụ cụ thể đi kèm nhằm mục đích chứng thực.
Mục đích cuối cùng của việc dạy làm văn là giúp HS rèn được kĩ năng tạo lập các loại văn bản đảm bảo các yêu cầu về nội dung, hình thức. Hiện nay ở nhà trường phổ thông, giáo viên thường vận dụng phương pháp truyền đạt trực tiếp các khái niệm, các vấn đề lí thuyết; rèn luyện theo. mẫu để giảng dạy. Phương pháp truyền đạt trực tiếp sẽ giúp cho HS tiếp.
nhận những lí thuyết cần nắm từ giáo viên. Phương pháp này tuy tiết kiệm thời gian nhưng không phủ hợp với đối tượng HS có khả năng tư duy trừu tượng không tốt. Nói đến phương pháp rèn luyện theo mẫu, nhiều người cho rằng đây là phương pháp lạc hậu vì lả bắt chước. iếu tính chủ động và sáng tạo của HS.
Thật ra, văn bản là sản phẩm của hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ. Các văn bản được tạo lập trong hoàn cảnh giao tiếp, mục. đích giao tiếp nhất định, theo một hình thức thể loại nhất định. Vì vậy, trước khi tạo ra lời hay ý đẹp, sự sáng tạo trong mỗi văn bản của mình, HS phải biết cách bắt chước để viết đúng.
Hiện nay, khi dạy theo mẫu, viên thường sử dụng mẫu của sách giáo khoa.