CHƯƠNG I:TỎNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LUẬN VỀ LỢI THẺ CẠNH TRANH CUA NGAN HANG THUONG MAI TREN THI TRUONG BAN LE CHƯƠNG II: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VA THIET KE LUAN VAN CHƯƠNG III: THỰC TRẠNG XÂY DỰNG LỢI THẺ CẠNH TRANH CỦA NGAN HANG TMCP CONG THUONG VIET NAM CHI NHANH HA NAM TREN THI TRUONG BAN LE CHƯƠNG IV: GIẢI PHÁP XÂY DỰNG LỢI THÊ CẠNH TRANH CỦA NGAN HANG TMCP CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM - CHI NHANH HA NAM TREN THI TRUONG BAN LE CHUONG I: TONG QUAN TINH HINH NGHIEN CUU VÀ CƠ SỞ LUẬN VE XAY DUNG LOI THE CANH TRANH CUA NGAN HANG THUONG MAI TREN THI TRUONG BAN LE 1.1 Tong quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài Lơi thê cạnh tranh (LTCT) trên thị trường ngân hàng bán lẻ (NHBL) là một đề tài nội dung khá rộng, vì vậy có ít nghiên cứu trùng về chủ đê này. Tổng hợp các công trình nghiên cứu, có thể chia thành 3 nhóm: nghiên cứu về lợi thê cạnh tranh nói chung, các nghiên cứu vé loi thé cạnh tranh của các NH trên thị trường, và các nghiên cứu về yếu tô tạo thành công trên thị trường NHBL.1 Các nghiên cứu của nước ngoài về lợi thế cạnh tranh của các ngân hàng hoạt động trên thị trường bán lẻ Theo tìm hiểu của tôi, hiện có rất nhiều các công trình nghiên cứu về để tài xây dựng lợi thê cạnh tranh đôi với các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh nói chung. Các nghiên cứu này đêu đã đồng nhất ở hai vẫn đề khái niệm và tầm quan trọng của LTCT ở việc LTCT là yếu tố thiết yêu để cạnh tranh hiệu quả. Đa số các nghiên cứu đều thông nhất rằng doanh nghiệp đạt được LTCT' khi tạo ra cho khách hàng các giá trị vượt trội hơn so với chi ph doanh nghiệp phải bỏ ra.
UCT là một trong những trọng tâm của chiến lược hoạt động, giúp cho chiến lược cạnh tranh của doanh nghiệp được thực hiện thành công. Tuy nhiên khi nghiên cứu về nguồn hình thành LTCT, các tác giả chia thành các trường phái khác nhau, có thể kế đến như trường phái trọng nguồn lực, trường phái trọng thị trường và trường phái kết hợp. Các kết quả nghiên cứu có thể tóm tắt như sau: * Trường phái trọng nguồn lực (Resource based View) Penrose (1959) cho rằng sự khác biệt trong kết quả cạnh tranh giữa các DN bắt nguôn từ việc sử dụng nguồn lực một cách sáng tạo. DN tạo ra giá trị không chỉ bằng nguồn lực mà họ sở hữu mà còn bang su quan tri đổi mới, hiệu qua cua nha quan tri.
Dierickx va Cool (1989) cho rằng LTCT được tích lũy và phát triển từ bên trong DN thay vì được thu nhận từ thị trường. Trong đó, các yêu tố năng lực của tổ chức quan trọng hơn các yêu tô nguồn lực bởi năng lực sẽ quyết định việc sử dụng các nguôn lực một cách hiệu quả. Các yêu tô năng lực điển hình như năng lực học hỏi và chia sẻ trong tô chức, chiến lược quản trị hiệu quả. Theo Barney (1991); Collis (1994) va Grant (1991), LTCT được tạo ra từ các nguồn lực của DN (bao gồm các tài sản hữu hình và tài sản vô hình), các năng lực (bao gồm các kỹ năng của cá nhân/ nhóm, các quy trình) vả tương tác giữa các yêu tô này.
LTCT bên vững phải xuất phát từ các nguôn lực của DN so với ĐTCT. DN phải khai thác được các nguồn lực thỏa mãn các yếu tô VRIN - có giá trị (Valuable), hiểm (Rare), không thể bắt chước hoàn hảo (Imperfectly Immitable) và không thể thay thế được (non- substitutable). Peteraf (1993) dé xuat 4 diéu kién (4 trụ cột) dé nguồn lực trở thành UTC TT: đó là sự không déng nhat (heterogeneity) vé nguôn lực và năng lực giữa các DN; giới hạn hậu chứng (ex post limit) tạo ra bởi bắt chước không hoàn hảo và thay thế không hoàn hảo; sự di chuyển không hoàn hao (imperfect mobility) lam cho nguén luc không thé di chuyền hoan hao gitta cac DN; gidi han tién luong (e ante limit) chi phí thu tóm nguồn lực không hoàn hảo so với kết quả kỳ vọng từ sử dụng nó. Lý thuyết này có thể xem là một tổng hợp hoản chỉnh cho quan điểm nguồn lực tạo ra LTCT.
Theo Rumelt (1997), dẫn theo Warner (2010), để có LTCT lâu dài, DN cần có cơ chế độc đáo, bao gồm bí kíp kinh doanh, chi phí tìm kiêm và chuyển đổi, học hỏi, các thông tin đặc biệt, thương hiệu, sự bảo hộ, danh tiếng vả rào cản gia nhập. Các nghiên cứu theo trường phái trọng nguồn lực có một số hạn chế như sau: - các nghiên cứu đang tập trung vảo các nguồn lực riêng lẻ, tuy nhiên sự liên kết tổng hợp của một nhóm các nguôn lực này mới tạo ra giá trị cho DN. - Không chỉ ra được tầm quan trọng của các quyết định chiến lược đối với sự thành công của DN, trong khi các lý thuyết về marketing hiện đại cũng đã chỉ rõ DN chỉ thành công khi "bán cái thị trường cần chứ không phải cái mình có". * Trường phái trọng thị trường Ansoff (1965) đã dé xuất chiến lược để tạo LTCT dựa trên sản phẩm va thị trường.
Ông đưa ra 4 chiến lược cơ bản: chiến lược thâm nhập thị trường; chiến lược phát triển sản phẩm; chiến lược phát triển thị trường và chiến lược đa dang hoa. Porter (1985) dé xuat khai niém vé chudi gia tri va cdc diéu kién dé duy tri LTCT lâu dài. Để có lợi thế chi phí thấp, cần có lợi thế nhờ quy mô, mối quan hệ với DN mẹ, mối quan hệ với các nhà cung cấp, học hỏi không ngừng, quy trình công nghệ, tính kịp thời và sự đồng bộ của các hành động chiến lược. Đề có lợi thê khác biệt hóa, cần các nguồn lực độc đáo, lợi thé vé chi phi dé khac biét, nhiéu nguồn khác biệt hóa và chi phí chuyển đổi của KH.
Theo Kotler (1990), LTCT có thể xuất phát từ nội bộ DN hoặc từ môi trường kinh doanh bên ngoài, trong đó môi trường bên ngoài sẽ chỉ dẫn các quyết định quản trị của DN dé dat LTCT. Kotler và Amstrong (2003) cùng quan điểm tiếp cận “từ ngoải vào” để xây dựng LTCT. Từ chiến lược cạnh tranh cơ bản của M. Porter, tác giả đã phát triển thành chiến lược tạo LTCT dựa trên vị trí cạnh tranh của các DN trên thị trường mục tiêu, bao gồm chiến lược của DN dẫn đâu, chiến lược của DN thách thức, chiến lược của DN theo đuổi, và chiến lược thị trường ngách.
Tác giả cũng cho rằng để thành công DN can cân bằng giữa định hướng KH và định hướng DTCT. Zhou, Brown và Dev (2009) nghiên cứu giá trị KH tác động đến định hướng kinh doanh, LTCT va hành vi cua DN dich vu. Néu DN cho rang KH coi trong gia tri su dung, DN sé theo dinh huéng KH va DTCT. Néu DN cho rằng KH nhạy cảm với giá mua, DN sé theo dinh hướng ĐTCT.
Nghiên cứu cũng nhân mạnh LTCT nhờ khác biệt và đối mới sẽ mang đến các kết quả kinh doanh tốt hơn. Nhìn chung, các nghiên cứu về xây dựng LTCT theo trường phái trọng thị trường có chung các điểm hạn chế, bao gồm: - Đặt trọng tâm quá lớn vào việc phân tích ngành và cạnh tranh trong ngành. Trong khi để đánh giá hiệu quả hoạt động của DN, không thể tách rời khỏi yếu tố nguồn lực của DN đó - Trong một môi trường kinh doanh thay đổi chóng mặt, nêu chỉ dựa vào phân tích ngành thì các LTCT của DN cũng sẽ phải liên tục thay đối, và khó có thể tạo ra được các LTCT bên vững. - Xu hướng hiện nay 1 DN thường tham gia vào nhiều ngành kinh doanh khác nhau, nên khó có thể xác định các LTCT nhất quán cho DN nêu việc tìm kiếm LTCT chỉ dựa vào phân tích câu trúc ngành.
* Trường phái kết hợp Rindova và Fombrun (1999) đưa ra quan điểm tạo ra LTCT qua tương tác cấu phần môi trường và công ty. Trong DN có nguồn lực và văn hóa DN. Môi trường kinh doanh gồm thị trường (đâu vào, đầu ra) và văn hóa vĩ mô. Đề có LTCT, công ty phải thiết kế chiến lược để điều khiển nguồn lực và văn hóa vi mô của mình tác động tương ứng vào thị trường và văn hóa vĩ mô.
Crook, Ketchen và Snow (2006) đưa ra mô hình LTCT, cùng với các khái niệm, công cụ và số liệu, sẽ cho người quản lý một bức tranh tổng thể về những việc đang xảy ra bên trong và bên ngoài doanh nghiệp, thông qua việc phân tích ngành,phân tích quốc gia, phân tích các bên liên quan và phân tích doanh nghiệp Al- Debi, Mustafa (2014) va Akroush (2011) déu nghiên cứu về LTCT trong nganh dich vu cua Jordan. Nghién ctru cua Al- Debi va Mustafa (2014) chi ra vai tro cua chiến lược marketing hỗn hợp (7P) trong việc xây dựng LTCT của doanh nghiệp dịch vụ. Cũng trong nghiên cứu về LTCT trong ngành dịch vụ, Akroush (2011) lập luận rằng chiến lược marketing hỗn hợp gồm 7 yêu tô (7P) trong lĩnh vực dịch vụ có thể được thay thế bằng chiến lược 5P trong đó 3 yếu tô mở rộng của ngành dịch vụ có thể thay bằng yêu tố chất lượng phục vụ. Romao va Gomes (2015) cho rang loi thé canh tranh được hình thành không chỉ từ các nguồn vôn cô định mà còn từ các yếu tô vô hình như trí tuệ, kỹ năng của nhân viên, kiến thức và khả năng1và chiến lược của DN.
Tác giả đề xuất sử dụngIthẻ điểm cân bằng như một một công cụ tốt giúp doanh nghiệp đạt được các kết quả kinh doanh vượt trội, cụ thể như giúp nhà quản lý thay duoc tac dong cual viéc đầu tư vào quá trình học hỏi và phát triển (bao gồm đâu tư1vảo nhân viên, hệ thống công nghệ thông tin) đến các kết quả đầu ra của doanh nghiệp.2 Tong quan các công trình nghiên cứu trong nước Các vẫn đề liên quan đến cạnh tranh, năng lực cạnh tranh và NHBL đã được một sé tác giả nghiên cứu trong các luận án tiến sĩ và luận văn thạc sĩ. Có thể kế đến các tác giả và các công trình như: Tác giả Phạm Quốc Khánh (2011), trong luận án tiễn sĩ với để tài “Phân tích ĐTCT tại các NHTM Cổ phần VN” đã hệ thông hóa các lý luận về phân tích cạnh tranh, đánh giá thực trạng phân tích cạnh tranh tại các NH TMCP Việt Nam và thử nghiệm việc phân tích ĐTCT tại một số NH TMCP.