PHẦN MỞ ĐẦU 1. Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu 2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 9 z 3. Câu hỏi nghiên cứu 4.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5. Phương pháp nghiên cứu 6. Nội dung nghiên cứu 7. Tổng quan về lĩnh nghiên cứu 8.
Đóng góp của đề tài 9. Kết cấu của đề tài 10 z CHƢƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ LỢI NHUẬN TỪ DỊCH VỤ PHI TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.1 Khái niệm và đặc điểm của dịch vụ phi tín dụng ngân hàng thƣơng mại 1.1 Khái niệm dịch vụ phi tín dụng của ngân hàng thƣơng mại Theo tài liệu dự án Khảo sát và đánh giá dịch vụ phi tín dụng ngân hàng Việt Nam” của tổ chức Deloitte Touche Tohmatsu: Dịch vụ phi tín dụng là bất cứ dịch vụ hoặc sản phẩm nào cung cấp bởi ngân hàng hoặc tổ chức tài chính mà không phải là những dịch vụ tín dụng. Dịch vụ phi tín dụng là dịch vụ được ngân hàng cung cấp tới khách hàng đáp ứng nhu cầu về tài chính, tiền tệ của khách hàng nhằm trực tiếp hoặc gián tiếp đem lại cho ngân hàng một khoản thu nhập nhất định, không bao gồm dịch vụ tín dụng". Để làm rõ và phân biệt khái niệm dịch vụ phi tín dụng với các dịch vụ khác của NHTM, cần làm rõ các khải niệm liên quan theo định nghĩa trên, bao gồm: - Dịch vụ ngân hàng: Dịch vụ ngân hàng là các nghiệp vụ ngân hàng cung cấp cho khách hàng những tiện ích theo nhu cầu của khách hàng như nhận tiền gửi, cho vay, thanh toán, các dịch vụ về ngoại hối, bảo lãnh, tư vấn… (Phạm Anh Thủy, 2013) - Dịch vụ tín dụng ngân hàng: Cấp tín dụng của ngân hàng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác.
Tóm lại, một sản phẩm dịch vụ được gọi là dịch vụ phi tín dụng nếu thảo mã những đặc điểm sau: - Là dịch vụ ngân hàng; - Không phải phí dịch vụ liên quan đến cấp tín dụng của ngân hàng như: chiết khấu, bảo lãnh, bao thanh toán. - Là các dịch vụ không làm phát sinh các nghiệp vụ liên quan việc cung cấp và thu hồi tín dụng đối với khách hàng, do tổ chức tín dụng cung cấp và được khách hàng trực tiếp sử dụng. 11 z - Là các dịch vụ gắn liền với việc thu phí do các NHTM thực hiện, thông qua việc cung cấp dịch vụ ngân hàng cho các doanh nghiệp, các tổ chức, cá nhân nhằm thu được lợi nhuận, điển hình là các dịch vụ: thanh toán, ngân hàng điện tử, dịch vụ kinh doanh ngoại tệ, vàng bạc đá quý… 1.2 Phân loại và đặc điểm của hoạt động dịch vụ phi tín dụng ngân hàng thƣơng mại - Dịch vụ thanh toán Là việc cung ứng phương tiện thanh toán, thực hiện giao dịch thanh toán trong nước và quốc tế. * Thanh toán trong nƣớc: Thanh toán trong nước là việc NHTM thực hiện việc thanh toán theo lệnh của khách hàng qua đó NHTM thay mặt khách hàng chuyển trả tiền cho người thụ hưởng bằng việc trích tài khoản tiền gửi của khách hay khách hàng nộp tiền để ghi có cho người hưởng và NHTM thu được một khoản phí thanh toán.
Mặc dù dịch vụ này thông thường có mức phí trên một giao dịch không cao nhưng do số lượng giao dịch lớn, số tiền phí thu được chiếm một tỷ trọng khá cao trong tổng thu phí dịch vụ các NHTM. Ngoài ra, nhờ có dịch vụ thanh toán trong nước mà các ngân hàng thương mại còn khai thác được số dư tiền gửi các khách hàng với chi phí khá thấp. Ngân hàng, với mạng lưới hoạt động rộng khắp cùng với sự hoạt động được quản lý, giám sát của ngân hàng trung ương, đã chứng minh lợi thế và uy tín của mình trong việc làm trung gian thanh toán cho các khách hàng của mình. Hoạt động thanh toán trong nước qua ngân hàng của cá nhân, doanh nghiệp vì thế mà đơn giản và rẻ hơn rất nhiều do ngân hàng có khả năng chia sẻ chi phí về mạng lưới, thiết bị, tiền lương của mình cho một số lượng khổng lồ các giao dịch chuyển tiền trong nước được thực hiện thông qua hệ thống ngân hàng.
Mặc dù dịch vụ này thông thường có mức phí trên một giao dịch không cao nhưng do số lượng giao dịch lớn, số tiền phí thu được chiếm một tỷ trọng khá cao trong tổng thu phí dịch vụ các NHTM. Ngoài ra, nhờ có dịch vụ thanh toán trong nước mà các ngân hàng thương mại còn khai thác được số dư tiền gửi các khách hàng với chi phí khá thấp. Các NHTM sử dụng nhiều phương thức thanh toán để đáp ứng nhu cầu của khách hàng như thanh toán bù trừ, thanh toán qua ngân hàng đại lý, thanh toán qua tài 12 z khoản tiền gửi tại NHNN, thanh toán thu hộ, chi hộ giữa các ngân hàng, thanh toán liên hàng. qua việc sử dụng nhiều công cụ thanh toán như: Thanh toán sec, thanh toán bằng uỷ nhiệm chi, uỷ nhiệm thu, chuyển khoản thanh toán tự động định kỳ…, mỗi một phương thức thanh toán lại có một lợi ích khác nhau và cách thức thực hiện khác nhau: Thanh toán sec: Đây là phương tiện thanh toán do chủ tài khoản ký phát theo mẫu in sẵn, lệnh cho ngân hàng quản lý tài khoản trả vô điều kiện một số tiền nhất định cho người thụ hưởng có tên trên sec hoặc người cầm séc (séc vô danh), đây là hình thức thanh toán khá phổ biến trong thanh toán tiền dịch vụ, hàng hóa hoặc rút tiền mặt tại các NHTM với nhiều lại như: séc ký danh, séc vô danh, séc rút tiền mặt, séc bảo chi.
Thanh toán bằng ủy nhiệm thu hoặc nhờ thu: trên cơ sở khối lượng hàng hóa đã giao, dịch vụ đã cung ứng mà khách hàng đã thực hiện trước đó, người thụ hưởng lập ủy nhiệm thu ủy nhiệm nhờ NHTM thu hộ tiền. Ủy nhiệm thu được dùng để thanh toán hàng hóa, dịch vụ giữa các chủ thể mở tài khoản tại cùng một NHTM hoặc tại các chi nhánh NHTM cùng hệ thống hoặc khác hệ thống trên cơ sở có thỏa thuận bằng hợp đồng về điều kiện thu hộ giữa bên trả tiền và bên thụ hưởng. Thanh toán bằng ủy nhiệm chi hoặc lệnh chi: ủy nhiệm chi là lệnh chi tiền của chủ tài khoản yêu cầu NHTM phục vụ mình trích ra một số tiền nhất định từ tài khoản của mình để trả cho người thụ hưởng có tên trên ủy nhiệm chi. Ủy nhiệm chi được áp dụng trong thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ, nộp thuế, trả nợ hoặc chuyển tiền của người sử dụng dịch vụ thanh toán tại một chi nhánh NTHM hoặc giữa các chi nhánh NHTM cùng hoặc khác hệ thống trong phạm vi cả nước.
Dịch vụ trả lương tự động: các NHTM cung cấp dịch vụ này gắn liền với việc sử dụng tài khoản các nhân của khách hàng tại ngân hàng và sử dụng công cụ thanh toán hiện đại là thẻ thanh toán cùng với sự hỗ trợ của hệ thống máy rút tiền tự động ATM. * Thanh toán quốc tế: Khách hàng khi tham gia quá trình mua bán với các đối tác nước ngoài thông thường sẽ sử dụng các dịch vụ thanh toán quốc tế của ngân hàng như các bảo lãnh của 13 z ngân hàng để có thể mua hàng trả chậm từ bạn hàng nước ngoài, ngân hàng cũng tham gia rất nhiều vào các hoạt động thanh toán của các các doanh nghiệp nhằm mang lại các tiện ích an toàn thuận tiện cho khách hàng của mình như các hình thức thanh toán chuyển tiền, nhừ thu, tín dụng bộ chứng từ (L/C) thông qua việc tham gia này, các ngân hàng cũng thu được các loại phí từ khách hàng và nâng cao uy tín của mình đối với các đối tác nước ngoài. Có nhiều phương thức thanh toán quốc tế như: thanh toán chuyển tiền, thanh toán nhờ thu, thanh toán tín dụng chứng từ… Thanh toán chuyển tiền: là phương thức thanh toán trong đó người chuyển tiền yêu cầu NHTM phục vụ mình thông qua ngân hàng đại lý hay chi nhánh ở nước ngoài chuyển trả một số tiền nhất định cho người thụ hưởng. Các bên tham gia phương thức thanh toán chuyển tiền: người chuyển tiền (người có nhu cầu chuyển tiền cho người thụ hưởng ở nước ngoài); ngân hàng chuyển tiền (nhận được chỉ thị chuyển tiền của người chuyển tiền); người thụ hưởng (người nhận chuyển tiền); ngân hàng đại lý (ngân hàng phục vụ cho người thụ hưởng và có quan hệ đại lý với ngân hàng chuyển tiền).
Thanh toán nhờ thu: là phương thức thanh toán trong đó người xuất khẩu sau khi hoàn thành nghĩa vụ giao hàng hoặc cung ứng dịch vụ tiến hành ủy thác cho NHTM phục vụ mình thu hộ tiền từ người nhập khẩu dựa trên cơ sở hối phiếu và chứng từ do người xuất khẩu lập ra. Các bên tham gia phương thức thanh toán nhờ thu: người ủy nhiệm thu (người xuất khẩu); ngân hàng thu hộ (ngân hàng phục vụ người xuất khẩu) ngân hàng xuất trình (ngân hàng xuất trình chứng từ cho người trả tiền- ngân hàng đại lý cho ngân hàng thu hộ; người trả tiền (người nhập khẩu). Thanh toán tín dụng chứng từ: là phương thức thanh toán trong đó một ngân hàng thương mại theo yêu cầu của khách hàng, phải cam kết trả một số tiền nhất định cho người thụ hưởng hoặc chấp nhận hối phiếu do người này ký phát trong phạm vi số tiền đó nếu người này xuất trình được bộ chứng từ thanh toán phù hợp với những quy định nêu ra trong thư tín dụng. Các bên tham gia vào phương thức tín dụng chứng từ: người xin mở thư tín dụng 14 z (người nhập khẩu hàng hóa); ngân hàng mở thư tín dụng (ngân hàng phục vụ người nhập khẩu); người thụ hưởng (người xuất khẩu); ngân hàng thông báo thư tín dụng (ngân hàng đại lý cho ngân hàng mở L/C và phục vụ người thụ hưởng).
Trong hình thức thanh toán các công cụ thường được sử dụng là: * Hối phiếu: là tờ mệnh lệnh vô điều kiện do một người ký phát để đòi tiền ngưới khác bằng việc yêu cầu người này khi nhìn thấy hối phiếu hoặc tới một ngày nhất định; hoặc tới một ngày có thể xác định trong tương lai phải trả một số tiền nhất định cho người hưởng lợi quy định trên hối phiếu; hoặc theo lệnh của người này trả cho người khác; hoặc trả cho người cầm phiếu.