chương 1 Phân tích các yếu tố chủ yếu ảnh hưởng tới QHLĐ. Chƣơng 3: Một số giải ph p ể giải quy t vấn i h inh t trong x y ựng QHLĐ t i DN trong KCN S ng Thần 1, tỉnh Bình Dƣơng. T kết quả ph n t ch được ở chương hai, sẽ thảo luận và đưa ra một số kiến nghị cho doanh nghiệp cùng với việc nhìn nhận những hạn chế của nghiên cứu và đưa ra iến nghị cho các nghiên cứu trong tương lai. 5 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUAN HỆ LAO ĐỘNG NHÌN TỪ GÓC ĐỘ LỢI CH KINH TẾ C A DOANH NGHIỆP 1.
CÁC KHÁI NIỆM VÀ NỘI DUNG VỀ QUAN HỆ LAO ĐỘNG 1. Kh i ni m v qu n h lao ộng Theo Daniel Quinn Mills (1994), “ QHLĐ là mối quan hệ qua lại giữa những con người, các tổ chức, các cấp độ quản lý trong một môi trường công nghiệp” Theo Boivin và Guilbaul 1989) , “QHLĐ là hệ thống quản lý các vấn đề về lao động trong một tổ chức công nghiệp với một đối tượng nghiên cứu đặc biệt. Đó là các xung đột xảy ra do tác động tương hỗ giữa hiệu quả cần đạt của một phương thức quản lý, nhu cầu an toàn trong công ăn việc làm của các cá nhân bị quản lý và các chính sách công của Nhà nước” Theo Loic Cadin và cộng sự 2002),“ QHLĐ nói tới một tập hợp các quy tắc và chính sách thực tế cấu thành nên các mối quan hệ giữa NSDLĐ và NLĐ với sự điều chỉnh và can thiệp về mặt pháp lý của Nhà nước trong một doanh nghiệp, một ngành, một v ng hay trong một quốc gia” Theo Bộ luật Lao động của nước ta năm 2012, “QHLĐ là quan hệ xã hội phát sinh trong việc thuê mướn, sử dụng LĐ, trả lương giữa người lao động NLĐ) và người sử dụng lao động NSDLĐ)”. Ngoài ra, QHLĐ c n được hiểu là mối quan hệ giữa NLĐ hoặc tập thể lao động với NSDLĐ được xác lập qua đối thoại, thương lượng, thỏa thuận theo nguyên tắc tự nguyện, thiện chí, bình đẳng, hợp tác, tôn trọng quy n và i h h p ph p nh u.
QHLĐ giữa NSDLĐ và NLĐ bao gồm QHLĐ cá nhân và QHLĐ tập thể được thể hiện bằng các HĐLĐ cá nhân và T LĐTT. Tóm lại, tác giả cho rằng, QHLĐ tại DN là mối quan hệ giữa NLĐ và NSDLĐ, được thể hiện ở một số điểm chính như sau: - Là mối quan hệ giữa NLĐ và NSDLĐ. 6 - Chịu sự điều chỉnh về mặt pháp lý và những can thiệp trực tiếp của Nhà nước khi cần thiết. - QHLĐ diễn ra trong tất cả các lĩnh vực hoạt động sản xuất-kinh doanh và chủ yếu diễn ra trong môi trường lao động công nghiệp.
C hình thứ biểu hi n v QHLĐ ở Vi t N m QHLĐ gồm có QHLĐ cá nhân và QHLĐ tập thể. Cụ thể: - QHLĐ cá nhân là quan hệ giữa NLĐ với NSDLĐ, cá nhân NLĐ có thể đưa ra quyết định riêng của mình trong quan hệ với NSDLĐ, mối quan hệ này được xác lập bởi hợp đồng lao động HĐLĐ), đây là hình thức pháp lý xác định quan hệ giữa người có sức lao động và người muốn thuê LĐ. HĐLĐ tạo điều kiện cho NLĐ thực hiện quyền làm việc, quyền tự do lựa chọn công việc và nơi làm việc phù hợp với khả năng của mình. HĐLĐ cá nhân phải nằm trong khuôn khổ các quy định pháp luật về lao động của mỗi quốc gia.
HĐLĐ có hai loại đó là HĐLĐ xác định thời hạn và HĐLĐ không xác định thời hạn. - QHLĐ tập thể là quan hệ giữa một tập thể NLĐ và NSDLĐ. Tính tập thể được thể hiện ở hành động mang tính tập thể, quyết định mang tính tập thể và bất cứ quyết định nào cũng tác động đến mọi thành viên của tập thể. Đây là biểu hiện cần phân biệt giữa QHLĐ tập thể khác với một tập hợp của các QHLĐ cá nhân.
Chính vì tính chất tập thể đó qua QHLĐ tập thể nên điều kiện tiên quyết của QHLĐ tập thể là NLĐ phải có một thiết chế để đại diện cho mình, để tiến hành thương lượng và ký kết T LĐTT. Thương lượng là một phương tiện hữu hiệu để điều chỉnh hay giải quyết các mâu thuẩn phát sinh. Thuật ngữ “Thương lượng tập thể chỉ quá trình thảo luận và đàm phán giữa giới sử dụng lao động và Công đoàn tổ chức đại diện cho tập thể NLĐ) nhằm đi đến T LĐTT. Cũng như HĐLĐ cá nhân, T LĐTT là một văn bản pháp lý quan trọng chi phối các mối QHLĐ hàng ngày ở DN.
- Ngoài ra, QHLĐ c n là sự tương tác giữa NLĐ và NSDLĐ chủ yếu tập trung 3 vấn đề: về Công việc mà NLĐ làm thuê phải thực hiện; quyền lợi NLĐ làm thuê được hưởng từ việc thực hiện những công việc đó; điều kiện để thực hiện những công việc đó, quá trình tương tác này được biểu hiện qua 10 hình thức sau đây: 7 + Đối tho i, tr o ổi: Được xem là hình thức tương tác đầu tiên trong QHLĐ. Đối thoại chỉ với mục đích làm cho hai bên hiểu nhau hơn, thông cảm với nhau hơn để giữ cho mối quan hệ được yên bình. + Thƣơng ƣ ng t p thể: Đến một thời điểm nhất định thì một hoặc hai bên có thể sẽ có nhu cầu mặc cả thực sự. Khi đó sẽ xuất hiện hình thức tương tác thứ hai là sự mặc cả hay thương lượng tập thể.
Trong đó, nội dung về những quyền lợi mà NLĐ làm thuê được hưởng thường là phần cốt lõi nhất và cũng là gay cấn nhất của quá trình thương lượng tập thể. + TƢLĐTT: Khi thương lượng tập thể thành công thì hai bên sẽ chuyển sang hình thức tương tác thứ ba là ký T LĐTT. Nội dung trọng tâm vẫn là quyền lợi mà người thuê lao động đồng ý trả cho tập thể NLĐ làm thuê. + TCLĐ là hình thức tương tác thứ tư diễn ra trong QHLĐ tập thể, có thể xảy ra tranh chấp giữa hai bên về quyền hay lợi ích.
Đặc biệt là trong quá trình thương lượng tập thể thì người thuê lao động có thể không đồng ý với yêu sách về lợi ích nào đó của tập thể NLĐ đưa ra, dẫn đến tranh chấp giữa hai bên về lợi ích. + Hòa giải là hình thức tương tác thứ năm diễn ra trong QHLĐ tập thể. Để giải quyết tranh chấp, xét về lý thuyết thì hai bên chuyển sang hình thức tương tác hòa giải. Hai bên có thể tự hòa giải hoặc cũng có thể hòa giải với sự tham gia của bên thứ ba với tư cách là trung gian h a giải.
+ Trọng tài có thể xem là hình thức tương tác thứ sáu diễn ra trong QHLĐ tập thể. Có thể trong một vụ tranh chấp, sau tất cả những nỗ lực đàm phán, h a giải nhưng hai bên vẫn chưa đạt được thỏa thuận, tức tranh chấp chưa được giải quyết thì vụ việc sẽ đưa lên Trọng tài để phán xét. 8 + Tò n o ộng: Trong quá trình tranh chấp có một số vụ việc có thể đưa ra t a án lao động. Quá trình tố tụng có thể được xem là hình thức tương tác thứ bảy diễn ra trong QHLĐ tập thể.
+ Đình ông: Sự tranh chấp có thể dẫn đến việc tập thể NLĐ tổ chức đình công, đình công có thể được xem là hình thức tương tác thứ tám diễn ra trong QHLĐ tập thể. + Giải quy t ình ông: Có đình công xảy ra thì sẽ có giải quyết đình công. Trong bối cảnh ở Việt Nam, khi hầu hết các cuộc đình công đến nay đều không tuân theo trình tự thủ tục pháp luật quy định, thì thực tế đã hình thành nên một quá trình có tên gọi chung là giải quyết đình công, quá trình giải quyết này có thể được xem là hình thức tương tác thứ chín diễn ra trong QHLĐ tập thể. + Tham vấn: Hình thức tương tác thứ mười xảy ra trong suốt quá trình QHLĐ là tham vấn, bao gồm tham vấn hai bên tại nơi làm việc và tham vấn ba bên ở cấp quốc gia và cấp địa phương.
C h thể ấu thành qu n h o ộng Có 3 nhóm chủ thể cấu thành quan hệ lao động: những người lao động và tổ chức đại diện cho quyền lợi của họ; người sử dụng lao động (giới chủ) và tổ chức đại diện cho quyền lợi của họ; Nhà nước.1: C h thể cấu thành quan h o ộng Nguồn: Vũ Việt Hằng 2004) Trong mối quan hệ này, NLĐ và NSDLĐ thương lượng với nhau để đạt tới mục tiêu của mỗi bên, còn Nhà nước thiết lập hệ thống luật pháp và áp dụng các biện pháp để hai chủ thể trên phải tôn trọng luật. Trong quá trình thực hiện các quy định pháp luật của Nhà nước, NLĐ và NSDLĐ có thể phát hiện những điểm bất hợp lý hoặc không còn phù hợp, phản hồi lại để Nhà nước xem xét và kịp thời điều chỉnh. - Ngƣời lao ộng và tổ hứ i i n cho quy n i họ NLĐ là những người tham gia vào một thỏa thuận mà theo đó họ phải thực hiện một công việc nhất định, được cung cấp các phương tiện vật chất cần thiết để làm và được nhận một số tiền nhất định. Công đoàn CĐ) là tổ chức đại diện cho NLĐ trong phạm vi QHLĐ, có cơ cấu chính thức và mục tiêu rõ ràng.
CĐ hoạt động với các chức năng chủ yếu: bảo vệ quyền lợi hợp pháp và chính đáng của NLĐ; giáo dục và giúp NLĐ phát triển ý thức nghề nghiệp, ý thức kỷ luật; tham gia quản lý doanh nghiệp, quản lý Nhà nước để góp phần cải tạo xã hội cho tốt đẹp hơn. Có thể nói, CĐ là biểu 10 tượng cụ thể của sự đoàn kết, của mối liên hệ giữa người với người trong quá trình làm việc. - Ngƣời sử ụng o ộng và tổ hứ i i n ho quy n i họ Trong QHLĐ, khi có NLĐ thì phải có NSDLĐ. Tuy nhiên, NSDLĐ là một khái niệm phức tạp, đôi khi mơ hồ và dễ n h ầ m lẫn.
Theo cách suy nghĩ cổ điển, NSDLĐ là người sở hữu vốn, là người chủ hợp đồng (nên còn được gọi là giới chủ). Nhưng hiện nay lại có quan niệm rằng: không nhất thiết NSDLĐ phải là chủ sở hữu doanh nghiệp, mà chỉ cần họ có quyền tuyển dụng, sa thải lao động hay họ là những người làm cho người khác phải làm việc. Vì vậy, trong Bộ l uật Lao động của một số nước, tất cả những người làm công tác quản lý từ tổng giám đốc đến đốc công) đều được gọi là NSDLĐ.