phần mở đầu, bài luận văn gồm có 5 chương lần lượt như sau: Chƣơng 1: Tổng quan nghiên cứu. Chƣơng 2: Cơ sở lý thuyết về lợi ích kế toán của ERP và sự hài lòng của ngƣời sử dụng ERP Chƣơng 3: Phƣơng pháp nghiên cứu. Chƣơng 4: Kết quả nghiên cứu và bàn luận. Chƣơng 5: Kết luận và kiến nghị.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1.1 Các nghiên cứu nƣớc ngoài Trong các nghiên cứu liên quan trƣớc đây, có những nghiên cứu tập trung vào sự tƣơng tác giữa hệ thống ERP và công tác kế toán. Spathis và Constantinides (2004) cho thấy rằng ba động cơ quan trọng nhất dẫn đến việc áp dụng ERP là tăng nhu cầu về tốc độ xử lý thông tin, tạo ra thông tin để ra quyết định và cần thiết để tích hợp các ứng dụng. Những lợi ích quan trọng nhất đối với kế toán do ứng dụng ERP là tăng tính linh hoạt trong việc phát sinh thông tin, tăng cƣờng sự tích hợp của các ứng dụng kế toán, cải thiện chất lƣợng của báo cáo, cải thiện các quyết định dựa trên các thông tin kế toán kịp thời và đáng tin cậy và giảm thời gian cho việc trình bày kế toán hàng năm. Nghiên cứu đã tập trung vào những lợi ích thu đƣợc từ việc áp dụng ERP đã chỉ ra rằng việc triển khai các hệ thống này thƣờng theo sau là những cải tiến quá trình ra quyết định và tăng tính tích hợp trong doanh nghiệp nhƣ Colmenares (2009).
Tƣơng tự, nhiều nghiên cứu cũng phát hiện rằng hệ thống ERP cải thiện quá trình ra quyết định trong một tổ chức nhƣ Spathis (2006); Kanellou và Spathis (2007). Các lợi ích khác có nguồn gốc từ việc triển khai ERP là báo cáo kế toán chính xác hơn và cải thiện dịch vụ kế toán trong công tác kế toán nhƣ Velcu (2007); Colmenares (2009). Gattiker và Goodhue (2004) đã phân tích những lợi ích mà một công ty triển khai hệ thống ERP đã trải qua. Họ chỉ ra rằng hệ thống ERP mang đến nhiều lợi ích cho các tổ chức nhƣ cải tiến trong việc điều phối trong các doanh nghiệp, và giảm bớt các báo cáo cũng nhƣ các công việc nhập dữ liệu.
Chang (2006) lƣu ý rằng các ứng dụng ERP liên kết các chức năng kinh doanh truyền thống nhƣ tài chính, sản xuất, lƣu kho và bán hàng vào một hệ thống tích hợp duy nhất dựa trên một cơ sở dữ liệu đƣợc chia sẽ, loại bỏ nhập dữ liệu trùng. Olhager và Selldin (2003) cho rằng công ty áp dụng hệ thống ERP hoạt động hiệu quả hơn từ thông tin dự báo. Họ giải thích rằng việc triển khai ERP sẽ cải thiện tính sẵn có của TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 thông tin, tích hợp các quy trình và chức năng kinh doanh và nâng cao chất lƣợng thông tin. Theo các nghiên cứu gần đây, việc triển khai hệ thống ERP ảnh hƣởng đến quy trình kế toán và vai trò của kế toán viên.
Booth et al. (2000) đã kiểm tra việc mở rộng phạm vi ứng dụng của một hệ thống ERP có thể dẫn đến việc áp dụng quy trình kế toán mới trong một doanh nghiệp. Tác giả thấy rằng các hệ thống ERP tạo nên nguồn dữ liệu cho quy trình kế toán mới và có thể hỗ trợ quy trình này. Cụ thể hơn, Rom và Rohde (2006) thấy rằng hệ thống ERP có thể hỗ trợ việc thu thập dữ liệu và mở rộng quản trị kế toán của tổ chức.
Điều này đƣợc khẳng định thêm bởi Järvenpää (2007), tác giả đã lƣu ý rằng hệ thống nhƣ vậy có thể giúp việc quản trị kế toán hoạt động thƣờng xuyên có hiệu quả hơn, xử lý các cơ sở dữ liệu lớn một cách nhanh chóng hơn báo cáo nhanh hơn và theo nhiều cách linh hoạt hơn. Granlund và Malmi (2002) cũng đã cố gắng để khám phá những ảnh hƣởng của việc tích hợp hệ thống thông tin toàn doanh nghiệp đến việc quản trị trong kế toán và vai trò của kế toán viên quản trị. Phát hiện của họ chỉ ra rằng lợi ích quan trọng nhất của ERP liên quan đến kế toán là xử lý khối lƣợng văn bản, trong đó cung cấp cho kế toán viên quản trị nhiều thời gian hơn để tập trung vào phân tích và hỗ trợ quá trình kinh doanh. Những phát hiện này cũng phù hợp với kết quả nghiên cứu của Scapens và Jazayeri (2003), ngƣời phát hiện ra rằng công việc của kế toán viên quản trị đã bị thay đổi do việc triển khai ERP từ vai trò truyền thống (tập trung vào các hoạt động kế toán) đến vai trò nghệ thuật hơn và đã đƣa kế toán viên lên vị trí chuyên gia tƣ vấn và các nhà phân tích.
Những phát hiện của một nghiên cứu khác Hyvönen et al (2008), trong đó trình bày sự phát triển của hệ thống kiểm soát kế toán quản trị, đã đề xuất rằng các giải pháp kế toán kết hợp với IT sẽ không chỉ buộc kế toán nghiên cứu tính logic của các giải pháp, mà còn để tìm ra cách kết hợp kế toán và tính hợp lý trong quản lý. Newman và Westrup (2005) cũng vậy, các tác giả sử dụng bằng chứng thực nghiệm chứng minh rằng mặc dù mối quan hệ của các kế toán và công nghệ nhƣ ERP đã trở nên ngày càng gắn bó với nhau, nhƣng kế toán tiếp tục sử dụng vị trí của mình để thay đổi và nâng cao chuyên môn nghiệp vụ TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 của họ. Grabski et al. (2011) lƣu ý rằng hệ thống ERP là một nguồn lực biến đổi trong nghề kế toán và các tổ chức luôn muốn tìm hiểu làm thế nào để sử dụng các hệ thống này và thu đƣợc các giá trị từ chúng, sẽ có một sự thay đổi đáng kể trong vai trò của các kế toán quản trị, cũng nhƣ nhiệm vụ mà họ cần thực hiện và yêu cầu về các kỹ năng của họ.
O'Leary (2004) đã cố gắng phân tích và đo lƣờng lợi ích hệ thống ERP và xem xét liệu có sự khác nhau giữa các ngành hay không. Những lợi ích đƣợc liệt kê mà tác giả đã sử dụng và việc phân loại các lợi ích hữu hình và vô hình mà tác giả áp dụng đƣợc phát triển bởi nghiên cứu Deloitte Consulting (1998). Nghiên cứu của O'Leary (2004) thêm một số lợi ích bổ sung vào danh sách đó là việc giảm hàng tồn kho, giảm vòng quay tài chính, giảm nhân sự, cải tiến quản lý, giảm chi phí IT, giao hàng kịp thời, thông tin, tầm nhìn, tính tích hợp, linh hoạt, ra quyết định tốt hơn, kiểm soát tài chính. Trong một nghiên cứu của Shang và Seddon (2002) đã phân loại lợi ích ERP vào năm hƣớng: hoạt động, quản lý, chiến lƣợc, cơ sở hạ tầng IT và tính tổ chức.
Phân tích của tác giả cho thấy lợi ích ERP theo các hƣớng đƣợc kết nối với nhau và các nhà quản lý nên nhận thức các lợi ích này nhƣ một chu kỳ liên tục theo thời gian triển khai ERP. Một số lợi ích đã đƣợc kiểm tra bởi Esteves (2009) là giảm chu kỳ thời gian, giảm chi phí, nâng cao chất lƣợng, cải thiện việc ra quyết định, hỗ trợ thay đổi của tổ chức, tăng cƣờng năng lực IT và hoạt động kinh doanh linh hoạt. Spathis (2006) cũng đã thông qua việc phân loại lợi ích của Shang và Seddon (2002) để phân loại và kiểm tra lợi ích kế toán thu đƣợc từ việc áp dụng ERP. Spathis (2006) đã phân loại hệ thống lợi ích doanh nghiệp thành: lợi ích của tổ chức, lợi ích hoạt động, lợi ích quản lý và lợi ích IT.
Trong phân tích của ông, ông giải thích rằng những lợi ích kế toán có thể đƣợc giải thích bởi các biến số sau: số lƣợng các lý do triển khai hệ thống doanh nghiệp, số lƣợng các phân hệ, chi phí của TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 việc triển khai - là tỷ lệ phần trăm của doanh thu và tổng tài sản của công ty. Theo khảo sát này, lợi ích kế toán quan trọng nhất mà một công ty có đƣợc là do các bộ phận kế toán trong hệ thống ERP đƣợc tăng tính linh hoạt trong hệ thống thông tin, tăng cƣờng sự tích hợp của các ứng dụng, cải thiện chất lƣợng của báo cáo, nâng cao khả năng ra quyết định dựa trên các thông tin kế toán kịp thời và đáng tin cậy và giảm thời gian cho việc đóng tài khoản hàng năm. Những kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Spathis và Ananiadis (2005) và Kanellou và Spathis (2007). Ông cũng đã đo bốn chỉ số triển khai ERP và một trong số chúng là “Kiểu phân hệ đƣợc triển khai”.
Ông phân loại các phân hệ thành hai loại: phân hệ chính và phân hệ hỗ trợ. Các kết quả nghiên cứu của ông chỉ ra rằng các loại phân hệ triển khai có ảnh hƣởng đến hiệu quả tài chính sau khi triển khai ERP. Mặc dù lợi ích ERP đã đƣợc kiểm tra phân tích trong các nghiên cứu trƣớc đây nhƣng các nghiên cứu này chỉ tìm hiểu những lợi ích tổng thể của doanh nghiệp và chƣa có nghiên cứu tập trung khám phá những lợi ích kế toán có đƣợc từ việc ứng dụng ERP. Ngoài ra khi nghiên cứu những cảm nhận về lợi ích giữa những đối tƣợng sử dụng, một số nghiên cứu cũng có đƣợc những kết quả khác nhau.
Nhƣ Freeman (1984) đã cố gắng để trình bày và phân tích lý thuyết các bên liên quan (Stakeholder theory) và cho rằng việc xem xét sự ảnh hƣởng đến các bên liên quan của tổ chức là cần thiết. Các nhà nghiên cứu đã ghi nhận tầm quan trọng của việc kiểm tra tính hiệu quả hay thành công của IT từ nhiều quan điểm đánh giá trong các tổ chức nhƣ Hamilton và Chervany (1981). Myers et al (1997). Hamilton và Chervany (1981) lập luận rằng việc đánh giá hiệu quả hệ thống thông tin “là một nhiệm vụ khó khăn TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 do tính đa chiều của chúng, các khía cạnh định tính và định lƣợng thƣờng đa dạng theo các quan điểm đánh giá khác nhau.
Trong các nghiên cứu gần đây, có những nghiên cứu nhƣ Dechow và Mouritsen (2005), Quattrone và Hopper (2005) góp phần vào lĩnh vực này dựa trên lý thuyết Actor-Network để minh chứng cho nhiều ngƣời chịu những ảnh hƣởng bởi việc áp dụng ERP. Quattrone và Hopper (2005) đã cố gắng để tìm hiểu sâu việc ERP loại bỏ khoảng cách và mối quan hệ của nó với việc kiểm soát quản lý. Để đáp ứng mục đích nghiên cứu, tác giả đã phỏng vấn nhân viên tại các địa điểm khác nhau và thu thập tài liệu có liên quan.