phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung của Luận văn đƣợc chia thành 3 chƣơng: - Chƣơng 1. Cơ sở lý luận về thiết chế, sự tác động của Liên minh nghiên cứu toàn cầu đến chuyển giao công nghệ - Chƣơng 2. Thực trạng các thiết chế tác động đến hiệu quả chuyển giao công nghệ tại Việt Nam - Chƣơng 3. Hình thành thiết chế tham gia Liên minh nghiên cứu toàn cầu tại Việt Nam - Từ kinh nghiệm của Australia 16 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THIẾT CHẾ, SỰ TÁC ĐỘNG CỦA LIÊN MINH NGHIÊN CỨU TOÀN CẦU ĐẾN CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ 1.
Khái niệm thiết chế Thiết chế là một khái niệm phức tạp và đƣợc xem xét dƣới những góc độ khác nhau: - Theo Fichter, J. (1958): Thiết chế là một hình trạng hoặc một sự phối hợp những khuôn mẫu tác phong được đa số chấp nhận và tập trung vào sự thỏa mãn một nhu cầu cơ bản của cộng đồng.1 Theo đó, thiết chế bao gồm các chuẩn mực và giá trị, tạo thành một hệ thống các quan hệ ổn định, một khuôn mẫu xã hội biểu hiện sự thống nhất đƣợc xã hội thừa nhận nhằm mục địch thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của xã hội. - Theo Roger Friedland A. Robertson (1992): Thiết chế là một tập hợp bền vững các giá trị, chuẩn mực, vị thế, vai trò và nhóm vận động xung quanh một nhu cầu cơ bản của xã hội.2 Khái niệm thiết chế đôi khi đƣợc coi nhƣ khái niệm thể chế.
Một số khái niệm thể chế nhƣ: thể chế có thể đƣợc hiểu là cái tạo thành khung khổ trật tự cho các quan hệ của con ngƣời, định vị cơ chế thực thi và giới hạn của các quan hệ giữa các bên tham gia tƣơng tác; là ý chí chung của cộng đồng xã hội trong việc xác lập trật tự, những quy tắc, những ràng buộc và các chuẩn mực, giá trị chung đƣợc mọi ngƣời chia sẻ. Theo Douglass Cecil North (1990): Thể chế là những giới hạn được vạch ra trong phạm vi khả năng và hiểu biết của con người hình thành nên mối quan hệ qua lại của con người. Parochial school: Asociological study. Notre Dame, IN: University of Notre Dame Press.
2 Roger Friedland and A. Robertson (1992), The Sociology of Economic Life, Boulder, CO: Westview Press, 1992 3 Douglass Cecil North (1990), Institutions, Institutional Change and Economic Performance, Cambridge University Press, 1990 17 Theo Stephen H. Haber, Douglass Cecil North, Barry R. Weingast (2008): Thể chế là những luật lệ của cuộc chơi trong xã hội.
Nói cách khác, đó là những ràng buộc do con người tạo ra để để điều chỉnh và định hình cho những tương tác giữa người với người. 4 Thể chế bao hàm ba nội dung quan trọng nhất, đó là luật chơi, cơ chế thực thi và tổ chức. Cách tiếp cận chính sách từ thiết chế (institution) xã hội, thiết chế xã hội là một khái niệm xã hội học. Fichter5, “Thiết chế là một phần của văn hoá, một đoạn đã được khuôn mẫu” hoá trong nếp sống của một dân tộc”, “.
những khuôn mẫu tác phong công khai và tiềm ẩn tự biến thành những vai trò xã hội do những con người đảm nhiệm và nhiều loại tương quan khác nữa giữa những con người với nhau, đứng đầu những tương quan đó là những diễn tiến xã hội”. Fichter còn viết: “Những tương quan xã hội và những vai trò xã hội hợp thành những yếu tố chủ yếu của thiết chế”. Cuối cùng Fichter khẳng định thiết chế là một “hình trạng hoặc một sự phối hợp những khuôn mẫu tác phong được một đa số chấp nhận và tập trung vào sự thoả mãn một nhu cầu cơ bản của cộng đồng”. Về các yếu tố cấu thành thiết chế, Gidden A.6 xác định rõ: “Thiết chế bao gồm những chuẩn mực và những giá trị”.
Theo Nguyễn Trần Bạt (2011): Thể chế là tập hợp các quy tắc điều chỉnh xã hội và là kết quả của những thỏa thuận xã hội. Thể chế, do đó, mang tính bản chất và là một đối tượng có tính sở hữu rõ ràng; nó thể hiện một cách sâu sắc khuynh hướng chính trị mà đảng cầm quyền đã lựa chọn. Haber, Douglass Cecil North, Barry R. Weingast (2008), Political Institutions and Financial Development, Stanford University Press 5 Fichter J., Xã hội học (Bản dịch tiếng Việt của Trần Văn Đĩnh), Nxb Hiện đại, Sài Gòn, 1974 (In lần thứ hai) 6 Gidden A., Sociology, Polity Press, Cambridge, 1990, p.
7 Nguyễn Trần Bạt (2011), Thể chế và Thành tích, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, 5.2011 18 Quan niệm của tác giả Luận văn: Luận văn sử dụng khái niệm thiết chế bao gồm các chuẩn mực và giá trị, tạo thành một hệ thống các quan hệ ổn định, một khuôn mẫu xã hội biểu hiện sự thống nhất đƣợc xã hội thừa nhận nhằm mục địch thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của xã hội. Trong đó chuẩn mực là tập hợp những mong đợi, yêu cầu, quy tắc đối với hành vi của các thành viên trong xã hội. Chuẩn mực quy định cho mỗi thành viên những việc nào nên làm, không nên làm và cần xử sự nhƣ thế nào cho đúng trong mỗi tình huống xã hội. Khái niệm chính sách Chính sách là thuật ngữ đƣợc sử dụng rộng rãi trong đời sống kinh tế - xã hội.
Các khái niệm chính sách đƣợc thể hiện khác nhau, do có nhiều cách tiếp cận để xem xét khái niệm chính sách, nhƣ tiếp cận chính trị học, tiếp cận nhân học và nhân học xã hội, tiếp cận tâm lý học, tiếp cận kinh tế học, tiếp cận đạo đức học, tiếp cận hệ thống, tiếp cận khoa học pháp lý, tiếp cận tổng hợp… Chính sách là tập hợp các chủ trƣơng và hành động về phƣơng diện nào đó của Chính phủ, nó bao gồm các mục tiêu mà Chính phủ muốn đạt đƣợc và cách làm để thực hiện các mục tiêu đó. Những mục tiêu này bao gồm sự phát triển toàn diện trên các lĩnh vực kinh tế - văn hóa - xã hội - môi trƣờng. Chính sách là sách lƣợc và kế hoạch cụ thể nhằm đạt một mục đích nhất định, dựa vào đƣờng lối chính trị chung và tình hình thực tế mà đề ra. Có thể kể đến một số khái niệm chính sách nhƣ sau: - Theo Robinson : Chính sách là những chỉ dẫn cho việc làm quyết định hoặc đưa ra quyết định và thể hiện những tình huống lặp lại có tính chu kỳ.
- Theo James Anderson: Chính sách là một quá trình hành động có mục đích mà một cá nhân hoặc một nhóm theo đuổi một cách kiên định trong việc giải quyết vấn đề. - Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam: Chính sách là những chuẩn tắc cụ thể để thực hiện đường lối, nhiệm vụ. Chính sách được thực hiện trong một thời gian nhất định, trên những lĩnh vực cụ thể nào đó. 19 Theo Vũ Cao Đàm:8 Chính sách là một tập hợp biện pháp được thể chế hóa, mà một chủ thể quyền lực, hoặc chủ thể quản lý đưa ra, trong đó tạo sự ưu đãi một hoặc một số nhóm xã hội, kích thích vào động cơ hoạt động của họ nhằm thực hiện một mục tiêu ưu tiên nào đó trong chiến lược phát triển của một hệ thống xã hội.
Khái niệm “hệ thống xã hội” đƣợc hiểu theo một ý nghĩa khái quát, đó có thể là một quốc gia, một khu vực hành chính, một doanh nghiệp, một nhà trƣờng… Cũng theo Vũ Cao Đàm, từ các cách tiếp cận trên đây, khi nói đến một chính sách là nói đến những yếu tố sau đây: - Chính sách là tập hợp những biện pháp mà chủ thể quyền lực hoặc chủ thể quản lý đƣa ra, đƣợc thể chế hoá thành những quy định có giá trị pháp lý, nhằm thực hiện chiến lƣợc phát triển của hệ thống theo mục đích mà chủ thể quyền lực mong đợi. - Chính sách bao giờ cũng tạo ra một sự phân biệt đối xử của chủ thể quyền lực hoặc chủ thể quản lý đối với các nhóm xã hội khác nhau. Trong sự phân biệt đối xử đó, chủ thể quyền lực có sự ƣu đãi đối với một (hoặc một số) nhóm xã hội nào đó. - Các biện pháp ƣu đãi phải có tác dụng kích thích động cơ hoạt động của nhóm đƣợc ƣu đãi, là nhóm có vai trò then chốt trong việc thực hiện các mục tiêu phát triển hệ thống, nhằm thực hiện mục tiêu phát triển của hệ thống theo chiến lƣợc mà nhóm chủ thể quyền lực hoặc chủ thể quản lý đƣa ra.
- Chính sách luôn tạo ra một bất bình đẳng xã hội, rất có thể, đồng thời khắc phục một bất bình đẳng xã hội đang tồn tại, rất có thể khoét sâu thêm những bất bình đẳng vốn có, nhƣng cuối cùng phải nhằm mục đích tối thƣợng, là thoả mãn những nhu cầu cơ bản của mục tiêu phát triển toàn hệ thống (hệ thống xã hội). - Toàn bộ những biện pháp đó phải đạt đến một kết quả là tạo ra một đòn ứng phó với một tình huống của cuộc chơi, có khi là rất bất lợi cho chủ thể quyền lực hoặc chủ thể quản lý. 8 Vũ Cao Đàm (2010), Giáo trình Khoa học chính sách, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội. 20 Nhƣ vậy, có thể hiểu chính sách theo những khía cạnh nhƣ sau: - Chính sách là một tập hợp biện pháp; - Chính sách là một tập hợp biện pháp được thể chế hoá dƣới dạng các văn bản quy phạm pháp luật; - Chính sách phải tác động vào động cơ hoạt động của các cá nhân và nhóm xã hội; - Chính sách phải hƣớng động cơ của các cá nhân và nhóm xã hội nói trên vào một mục tiêu nào đó của hệ thống xã hội.
Tất nhiên, khi nói sử dụng tiếp cận tổng hợp để xem xét một chính sách, không nhất thiết phải xem xét đủ mọi hƣớng tiếp cận nhƣ trên, mà chỉ có thể một vài cách tiếp cận trong đó. Quan niệm của tác giả Luận văn: Từ những phân tích trên đây, Luận văn sử dụng khái niệm: “Chính sách là một tập hợp biện pháp được thể chế hoá, mà một chủ thể quyền lực, hoặc chủ thể quản lý đưa ra, trong đó tạo sự ưu đãi một hoặc một số nhóm xã hội, kích thích vào động cơ hoạt động của họ, định hướng hoạt động của họ nhằm thực hiện một mục tiêu ưu tiên nào đó trong chiến lược phát triển của một hệ thống xã hội”. Chính sách khoa học và công nghệ - Theo UNESCO: Chính sách KH&CN là tập hợp các biện pháp lập pháp và hành pháp được thực hiện để nâng cao, tổ chức và sử dụng tiềm lực KH&CN với mục tiêu đạt được mục đích quốc gia.