CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN, PHƯƠNG PHÁP VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 1. TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Lễ hội không đơn thuần chỉ là một thành tố của văn hóa tộc người, mà nó hàm chứa, phản ánh nhiều chiều cạnh như lịch sử, văn hóa, nghệ thuật, tôn giáo, tâm lý. của các cộng đồng, của các tộc người; vì vậy lễ hội luôn chiếm một vị trí quan trọng trong các nền văn hóa. Đó cũng là lý do tại sao ở Việt Nam, trong các công trình nghiên cứu khoa học xã hội về văn hóa, các nghiên cứu về chủ đề lễ hội chiếm một tỷ lệ đáng kể.
Có thể phân chia các công trình được công bố liên quan đến lễ hội nói chung và lễ hội vùng ven biển Thừa Thiên Huế nói riêng thành 2 nhóm: Nhóm các công trình nghiên cứu trong nước và nhóm các công trình nghiên cứu nước ngoài. Đối với nhóm nghiên cứu các công trình nghiên cứu trong nước có thể chia thành 2 nhóm vấn đề: Nhóm nghiên cứu về lý luận và các loại hình lễ hội của Việt Nam trong lịch sử; Nhóm nghiên cứu lễ hội của cư dân vùng ven biển ở Việt Nam nói chung và ở vùng ven biển Thừa Thiên Huế nói riêng. Các công trình nghiên cứu ở trong nước 1. Các nghiên cứu về lý luận và các loại hình lễ hội của Việt Nam trong lịch sử Trước hết, liên quan đến lễ hội ở Việt Nam phải kể đến các tác phẩm từ Việt điện u linh của Lý Tế Xuyên (2012), Lĩnh Nam chích quái của Vũ Quỳnh - Kiều Phú (2012), Ô châu cận lục của Dương Văn An đến các bộ sử như Đại Nam nhất thống chí, Gia Định thành thông chí, Lịch triều hiến chương loại chí.
đã ghi chép những dòng ngắn gọn về các phong tục, tục lệ, các trò chơi, lễ tết của cư dân ở Việt Nam. Tiếp đến là các tác giả, như Phan Kế Bính (2001), Việt Nam phong tục, đã viết về việc thờ thần, tế tự, cầu an của người Việt [16]. Đào Duy Anh với Việt Nam văn hoá sử cương (2000), cũng đã đề cập đến phong tục tập quán cổ truyền của dân tộc ở Việt Nam trong phần “Tín ngưỡng và tế tự”, “Hội hè đình đám” [5]. Văn Tân, Nguyễn Linh, Lê Văn Lan (1973), trong tác phẩm Thời đại Hùng Vương đã có nhiều bài viết miêu tả một số trò diễn xướng như đánh trống đồng, đánh cồng, nhảy múa và ca hát, giã cối và bơi [93].
Tác giả Đinh Gia Khánh (1993) với Lễ hội truyền thống trong xã hội hiện đại đã phân tích các vấn đề lý luận liên qua đến lễ hội, như bản chất, khái niệm, vai trò, chức năng và các giá trị đặc trưng của lễ hội truyền thống; trên cơ sở đó, tác giả nêu lên những thay đổi đáng suy ngẫm của loại hình văn hóa này trong xã hội hiện nay, như tính thương mại hóa, hoạt động vì ganh đua, toan tính của các nhóm xã hội [32]. Công trình 60 Lễ hội truyền thống của Thạch Phương, Lê Trung Vũ (1995) đã đề cập đến một số vấn đề lý luận về lễ hội, như lễ hội truyền thống là một 7 bảo tàng phong phú về đời sống tinh thần - văn hóa của dân tộc, mà sức lan tỏa cùng tác động của nó diễn ra liên tục và mạnh mẽ đến tâm hồn, tư tưởng, tình cảm, cốt cách của bao nhiêu thế hệ người; đồng thời “lễ hội bao giờ cũng hướng tới một đối tượng thiêng cần suy tôn: các vị tiên, Phật, thần thánh - những nhiên thần và nhân thần mà xét đến cùng cội rễ đó chính là hình ảnh hội tụ những phẩm chất cao đẹp nhất của những anh hùng khai phá và xây dựng, những anh hùng chống ngoại xâm, những người có công dạy dỗ truyền nghề, chống thiên tai, trừ ác thú, chữa bệnh cứu người…” [89, tr. Tiếp đến, các tác giả đã chọn 60 lễ hội lớn và tiêu biểu của người Việt và các dân tộc anh em để trình bày một cách khá chi tiết về thời gian, nghi thức và giới thiệu một số trò chơi dân gian thường được lồng ghép trong các lễ hội đó. Với tác giả Ngô Thị Kim Doan (1996), Những lễ hội Việt Nam tiêu biểu, đã tiếp cận vấn đề phân loại và giới thiệu khá chi tiết về một số lễ hội chính ở các vùng miền trên đất nước Việt Nam, như tết Nguyên đán, lễ hội Giỗ tổ Hùng Vương, lễ hội Gióng, lễ hội Chùa Hương, lễ hội Gò Đống Đa, lễ hội đua Voi… [23].
Trong công trình Kho tàng lễ hội cổ truyền Việt Nam của Nhiều tác giả (2000), sau khi trình bày một số nội hàm liên quan đến khái niệm lễ hội, nhóm tác giả đã phân các loại lễ hội ở Việt Nam theo từng vùng miền khác nhau và trình bày một số lễ hội tiêu biểu trong phạm vi cả nước [83]. Tác giả Nguyễn Quang Lê (Cb) (2001), Khảo sát thực trạng văn hóa lễ hội truyền thống của người Việt ở đồng bằng Bắc bộ, đã nêu lên tổng quan về thiên nhiên và dân cư vùng đồng bằng Bắc Bộ và hệ thống hóa các loại hình lễ hội của người Việt, như lễ hội lịch sử văn hóa, lễ hội tôn giáo, lễ hội nghề nghiệp, lễ hội làng [66]. Theo đó, Hoàng Lương (2002), Lễ hội truyền thống các dân tộc Việt Nam, đã giới thiệu sơ qua 54 dân tộc trên đất nước Việt Nam và trình bày các lễ hội tiêu biểu của từng dân tộc, như người Việt có lễ hội Gióng, lễ hội Đền Hùng, lễ hội chùa Hương, người Thái là lễ hội Cầu mùa, Cầu mưa, lễ hội Hoa ban, lễ hội Xên bản, Xên mường, lễ hội Hạn khuống… [76]. Tác giả Đặng Văn Lung (2005) với tác phẩm Lễ hội và nhân sinh, lại tiếp cận lễ hội ở vai trò chức năng của nó đối với các cộng đồng dân cư trên đất nước Việt Nam; theo tác giả, lễ hội có vai trò rất to lớn trong việc giáo dục nhân cách, truyền dạy tri thức, cố kết cộng đồng, cũng như thực hiện các chức năng văn hóa tín ngưỡng tôn giáo.
Từ đó tác giả khẳng định lễ hội có một vai trò rất to lớn trong đời sống các dân tộc trên đất nước Việt Nam. Nó cần phải được bảo tồn lưu giữ và phải được phát huy [75]. Công trình Lễ hội Việt Nam của Lê Trung Vũ, Lê Hồng Lý (đồng chủ biên) (2005); tại đây, các tác giả đã nêu lên vai trò của lễ hội trong đời sống con người; lễ hội là dịp để con người giao lưu, cộng cảm và trao truyền những đạo lý, tình cảm, mỹ 8 tục và khát vọng cao đẹp; là cầu nối giữa quá khứ và hiện tại, củng cố tinh thần cố kết cộng đồng, tình yêu quê hương đất nước và lòng tự hào về gốc gác của mình. Tiếp đến các tác giả đã phân loại các đối tượng nghiên cứu của lễ hội thành “Lễ, Hội, Lễ hội”, tùy theo tính chất của từng đối tượng nghiên cứu cụ thể.
Có những đối tượng là đúng nghĩa lễ hội theo cách nhìn nhận phổ quát vừa có lễ, vừa có hội theo thuật ngữ festival; có những đối tượng xem là lễ nhưng cũng có phần hội và cũng có những đối tượng là hội nhưng cũng có phần lễ trang nghiêm, long trọng và cũng có những đối tượng chỉ là hội thông thường chỉ mang tính chất trò chơi, trò diễn truyền thống [131]. Đây cũng là luận cứ để chúng tôi tiến hành nghiên cứu, khảo sát các lễ hội truyền thống của cư dân ven biển Thừa Thiên Huế trong luận án của mình. Các tác giả Ngô Đức Thịnh, Nguyễn Xuân Kính, Lê Ngọc Canh (1989), Văn hóa dân gian - những lĩnh vực văn hóa lại tiếp cận vấn đề theo hướng phân tích lý thuyết và phân loại lễ hội; các tác giả cho rằng, trên thế giới, lễ hội thường được phân theo các vùng địa lý, hoặc phân theo thời đại, còn ở Việt Nam, theo các tác giả, nên phân lễ hội thành các hệ thống sau đây: lễ hội vùng sinh thái (vùng sinh thái núi, sinh thái đồng bằng, sinh thái biển…), lễ hội nghề nghiệp (lễ hội chu kì nương rẫy, ruộng nước, ngư nghiệp…), lễ hội văn hóa (lễ hội vật, lễ hội chọi trâu…), lễ hội văn hóa lịch sử (lễ hội đền Hùng, lễ hội Gióng, lễ hội Hai Bà Trưng. Tác giả Lê Hồng Lý (2008), Sự tác động của kinh tế thị trường vào lễ hội, tín ngưỡng, lại tiếp cận vấn đề dưới góc độ quản lý văn hóa; sau khi điểm qua một số sinh hoạt văn hóa nổi trội của cộng đồng cư dân ven biển, tác giả cho rằng trong nền kinh tế thị trường, các yếu tố trong lễ hội truyền thống cư dân ven biển Việt Nam đang dần dần biến đổi theo cả hai hướng tích cực và tiêu cực; từ đó tác giả đề xuất một số giải pháp nhằm bảo tồn, phát huy giá trị lễ hội nói riêng, văn hóa cư dân ven biển nói chung và dự báo các xu hướng phát triển của văn hóa dân gian ven biển, bao hàm cả lễ hội, phong tục tập quán, trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam có giá trị tham khảo cho các nhà quản lý văn hóa [77].
Gần đây, liên quan vấn đề lý luận về lễ hội cũng có những ý kiến chưa đồng thuận khi sử dụng khái niệm lễ hội; tiêu biểu ý kiến đó là quan điểm của Tô Ngọc Thanh cho rằng, trước đây ở Việt Nam chỉ có hội, không có lễ hoặc lễ hội; ngày xưa trong tiếng Việt không có từ “Lễ”, chỉ có từ “Hội” thôi, người ta thường nói “làng tôi mở hội”, “làng tôi đóng đám”, “làng tôi vào đám” hay “hội làng tôi mở vào ngày này, tháng này” chứ không ai nói lễ hội. Như vậy, theo ý kiến của nhà nghiên cứu Tô 9 Ngọc Thanh, người Việt nhận thức hội làng như một tổng thể, tức là trong hội làng đã bao gồm phần lễ là một thủ tục bắt buộc là phải có rồi3. Các nghiên cứu liên quan đến lễ hội của cư dân vùng ven biển ở Việt Nam nói chung và ở Thừa Thiên Huế nói riêng Đời sống tín ngưỡng, lễ hội của cư dân ven biển ở Việt Nam được đề cập đến trong một số công trình cuối thế kỷ XIX song chỉ là những ghi chép tản mạn, chủ yếu về tín ngưỡng thờ cá Voi ven biển. Những tác phẩm đầu tiên có thể kể đến là Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức, Đại Nam nhất thống chí - phần tỉnh Thừa Thiên của Quốc sử quán triều Nguyễn có đề cập đến vai trò quan trọng của cá Voi trong đời sống ngư dân Trung Bộ và Nam Bộ, vì thế mà được tôn sùng, kính trọng.