Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ NGƯỜI NÙNG THÀNH PHỐ LẠNG SƠN, TỈNH LẠNG SƠN 1.1 Điều kiện tự nhiên 1. Vị trí địa lý Thành phố Lạng Sơn là trung tâm kinh tế chính trị văn hóa, và khoa học kỹ thuật của tỉnh Lạng Sơn. Thành phố Lạng Sơn có tổng diện tích tự nhiên 79.185 km2 cách thủ đô Hà Nội 154 km và cách biên giới Việt - Trung (cửa khẩu hữu nghị) 18 km theo quốc lộ 1A. Toàn bộ lãnh thổ cuả thành phố nằm trong ở khoảng 21045’ - 220 vĩ bắc và 106039’ - 107003’ kinh đông thuộc phía đông bắc tỉnh Lạng Sơn.
Thành phố Lạng Sơn nằm trong huyện Cao Lộc, phía bắc giáp xã Thạch Đạn, thụy Hùng – huyện Cao lộc, phía nam giáp xã tân thành,Yên Trạch – huyện Cao lộc và xã Vân thủy huyện Chi Lăng, phía đông giáp thị trấn Cao lộc và các xã Gia cát, Hợp thành, Tân Liên huyện cao Lộc, phía tây giáp các xã Xuân Long, huyện Cao Lộc, và xã Đồng giáp huyện Văn Quan. Thành phố Lạng Sơn là trung tâm của một vùng đất biên cương, là vị trí địa đầu của tổ quốc nằm trên con đường giao thông huyết mạch có từ rất lâu đời, nối liền từ vùng biên ải đến Kinh thành Thăng Long, Đông Đô xưa tức thủ đô Hà Nội ngày nay. Là mảnh đất đầu sóng ngọn gió, đi đầu trong nhiều cuộc chiến đấu ác liệt bảo vệ từng tấc đất của tổ quốc, bảo vệ quê hương và bảo vệ độc lập, chủ quyền thiêng liêng của dân tộc. Ngày nay, sự thay đổi về đường lối, chính sách kinh tế đối ngoại của Đảng và Nhà nước đã giúp cho thành phố Lạng Sơn phát huy được những tiềm năng và thế mạnh về vị trí địa lý của mình để đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế trở thành một thành phố trẻ - thành phố thương mại cửa khẩu đang trên đà phát 13 triển sôi động, là cửa ngõ giao lưu kinh tế - văn hóa của cả nước với nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, là địa bàn quan trọng có mối quan hệ mật thiết với vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ: Hà Nội – Hải Phòng– Quảng Ninh.
Nằm trong khu kinh tế cửa khẩu Đông Đăng – Lạng Sơn, trên hành lang kinh tế Nam Ninh - Lạng Sơn – Hà Nội – Hải phòng với trục giao thông huyết mạch là quốc lộ 1A và tuyến đường sắt liên vận quốc tế Việt Nam – Trung Quốc cách Thủ đô Hà Nội 154 km, cách biên giới Việt - Trung 18 km. Ngoài ra, đi qua thành phố còn có tuyến đường quốc lộ 1B đi Thái Nguyên, đường quốc lộ 4B đi Quảng Ninh đường quốc lộ 4A đi Cao Bằng đã tạo điều kiện rất thuận lợi cho việc thông thương giữa thành phố Lạng Sơn với các đô thị trong vùng và cả nước cũng như với các đô thị của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa. Với vị trí địa lý thuận lợi, cùng với chính sách mở cửa hội nhập, môi trường kinh doanh ngày càng cải thiện đã và đang mở ra cho thành phố Lạng Sơn cơ hội để phát triển nhanh kinh tế - xã hội thu hút đầu tư, khoa học công nghệ, giao lưu kinh tế văn hóa với cả nước và quốc tế trở thành một thành phố hiện đại, giàu đẹp trong tương lai gần. Địa hình Thành phố Lạng Sơn nằm trên một bồn địa bằng có núi rừng bao quanh từ nền đá cổ, được kiến tạo cách đây 280 triệu năm.
Các tầng lớp đất đá tìm thấy ở đây có: tầng đá vôi tinh khiết màu xám sáng, xám xanh, tầng đá vôi không thuần khiết, tầng cát kết màu vàng, tầng đá phun trào riôlít, tầng cát kết màu xám, vàng, tầng cát bột kết màu tím gan gà, tầng cát kết hạt khô. Thành phố Lạng Sơn nằm giữa bồn địa thuộc máng trũng kiến tạo từ trung sinh (Cao Bằng – Thất Khê, Lạng Sơn) có quá trình hình thành do sự hạ thấp mạnh các hồ sau đó được lấp đầy trầm tích tạo nên vùng đất bằng có độ cao trung bình 255 m, bao quanh là các đồi diệp thạch có cao độ trung bình là 350m và được chia thành các dạng như sau: Khu Chi Lăng: Có địa hình bằng phẳng và tương đối thấp, cao độ nền từ +(256 - 258)m 14 Khu vực tương đối cao có địa hình + 258m như khu nhà thờ thành phố, khu Uỷ ban nhân dân tỉnh, Tỉnh ủy, khu Quân đội. Khu vực thấp nhất ở đây là khu vực sông Kỳ Cùng có cao độ nền từ +(255 - 256)m. Độ dốc địa hình khu Chi Lăng đạt từ 0,004 – 0,006 tương đói thuận lợi cho việc thoát nước.
Khu phía tây chân núi tiên có địa dốc hơn, độ dốc từ 0,02 – 0,04. Toàn bộ địa hình dốc về phía sông Kỳ Cùng theo hướng Nam – Bắc. Khu Kỳ Lừa: khu Kỳ Lừa có địa hình tương đối cao, có cao độ nền +258m, như khu vực chợ Kỳ Lừa có cao độ nền +260m, đặc biệt là khu đồi quân sự phía bắc thành phố. Địa hình khu kỳ Lừa dốc về suối Lao Lý là con suối giữa hu Kỳ Lừa và khu Đông Kinh đổ vào sông Kỳ Cùng.
Nền địa hình dốc từ 0,05 – 0,10. Khu Đông Kinh nằm ở phía Đông Nam thành phố Lạng Sơn có địa hình dốc về hai phía. Suối Lao Lý và sông Kỳ Cùng là những dải đất trũng có cao độ nền từ +(256 - 257)m. Riêng khu vực gần đường sắt phía đông thành phố có địa hình tương đối cao, cao độ nền từ +(258 - 260)m.
Nhìn chung địa hình khu Đông Kinh có hướng dốc từ đông sang tây và từ bắc xuống nam về suối Lao lý và sông Kỳ Cùng. Khu Tam Thanh – Nhị Thanh khu vực có núi, các hang động Tam Thanh, Nhị Thanh là các hang động tương đối hẹp, kỳ thú và là một trong những điểm tham quan du lịch của tỉnh. Xung quanh hai ngọn núi này là khu trũng thấp có cao độ nền từ +(254 - 254)m lại có nhiều ao hồ lặt vặt. Nhìn chung địa hình khu vực Tam Thanh và Nhị Thanh có hướng dốc từ bắc xuống nam và dốc về phía sông Kỳ Cùng.
Xung quanh thành phố là các quả đồi có cao độ từ +(300 - 500)m là các đồi núi có độ cao trung bình thấp thuộc các xã Hoàng Đồng, Hợp Thành, Mai Pha, Tân Liên, Yên trạch, Quảng Lạc như núi Nà Kẻo (382,8m), núi Khau Ngàn (479m), núi Pò Tắm (392,8m), núi Pò Pó (328,2m). Chính các quả đồi xung quanh này đã tạo cho thành phố Lạng Sơn trở thành một thung lũng thuộc thung lũng sông Kỳ Cùng. 15 Nhìn chung, địa hình thành phố tương đối bằng phẳng, nền địa chất khá ổn định, không sụt lún là điều kiện thuận lợi cho việc xây dựng các công trình đô thị lớn, các nhà máy, xí nghiệp và tổ chức không gian sản xuất nông nghiệp. Các kiểu địa hình: kiểu địa hình xâm thực bóc mòn chủ yếu ở khu vực phía đông, đông bắc, tây nam thị xã.
Kiểu địa hình tích tụ do sông Kỳ Cùng tạo nên gồm 3 bậc thềm: bậc 1 khu vực bệnh viện tỉnh Lạng Sơn, đường đi bản Loỏng; bậc 2 là sân bay Mai Pha; bậc 3 là bờ sông Kỳ Cùng. Địa lý tự nhiên * Thổ nhưỡng Có 12 loại đất chính: đất andehit phoóc phia, đất feralit phát triển trên đá mắc ma axít, đất feralit vàng, vàng nhạt phát triển trên đá trầm tích phiến thạch, đất feralit vàng nâu phát triển trên đá mẹ là sa phiến, đất feralit vàng nhạt phát triển trên đá mẹ, đất phù sa cổ ở dọc sông Kỳ Cùng, đất feralit phát triển do sản phẩm phong hoá của đá vôi, đất phù sa mới được bồi đắp hàng năm của sông Kỳ Cùng, đất phù sa cũ, đất feralit biến đổi do trồng lúa nước, đất thung lũng, đất lầy thụt. Nhìn chung các loại đất ở thị xã Lạng Sơn đều thích hợp cho việc trồng cây lương thực, thực phẩm, cây ăn quả và cây công nghiệp, lâm nghiệp. * Khí hậu Thành phố Lạng Sơn nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa và có những nét đặc thù của khí hậu á nhiệt đới, một năm chia thành hai mùa rõ rệt, mùa nóng ẩm có mưa từ tháng 5 đến tháng 9 mùa đông khô hanh từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau.
Nằm ở vị trí địa đầu phía bắc, lại là thung lũng lòng chảo được bao quanh bởi các dãy núi các dãy núi cao tạo thành phễu hút gió mùa đông bắc làm cho thnahf phố trở thành một trong những nơi rét nhất toàn quốc vào mùa đông. Gió mùa đông bắc chiếm ưu thế suốt từ tháng 9 đến tháng 3 năm sau, những đợt gió cuối mùa vẫn ảnh hưởng khá lớn với các đợt không khí lạnh tràn về kèm theo giông, gây gió mạnh và mưa rào. 16 Do vị trí địa đầu phía bắc, lại là thung lũng lòng chảo án ngữ bởi 3 dãy núi cao: dãy Công Sơn - Mẫu Sơn có đỉnh cao 1541m, dãy núi Khau Kheo cao 811m và núi Khau Nựa cao 800m trở về phía tây và phía đông của thành phố Lạng Sơn, nên tạo thành phễu hút gió mùa đông bắc, làm cho Lạng Sơn trở thành một trong những nơi rét nhất toàn quốc. Gió mùa đông bắc chiếm ưu thế suốt tháng 9 đến tháng 3 năm sau, những đợt gió cuối mùa vẫn ảnh hưởng khá lớn tới giá rét, không khí lạnh tràn về kèm theo giông, gây gió lạnh và mưa rào.
Tốc độ gió bình quân là 1. Vào mùa nóng ẩm, nhiệt độ không khí bình quân 21,40C, nhiệt độ cao nhất có hôm lên tới 390C. Mùa đông nhiệt độ trung bình 170C, tháng rét nhất xuống tới 130C, ngày rét nhất có thể xuống tới 20C. Nhiệt độ trung bình năm là 210C.
Độ ẩm không khí mùa nóng là 81%, mùa rét 67%. Lượng mưa bình quân cả năm là 1439 mm, chia làm 2 mùa: mùa khô, lượng mưa chiếm 75% so với cả năm; mùa khô lượng mưa chiếm 25% so với cả năm. Tháng 1 có lượng mưa thấp nhất trong năm, bình quân khoảng 22 mm, có năm xuống tới 6 mm.Vào tháng 1 thường xuất hiện sương muối, có 2 loại sương muối : sương muối bức xạ và sương muối bình lưu. Với những đặc điểm như vậy, nhìn chung khí hậu thành phố Lạng Sơn thuận lợi cho phát triển cây nông nghiệp, đặc biệt là các loại cây thực phẩm có nguồn gốc á nhiệt đới, cây dược liệu.
* Sông ngòi Thành phố Lạng Sơn có sông Kỳ Cùng chảy qua địa phận dài 19 km. Lòng sông rộng trung bình 100m, mức nước giữa 2 mùa mưa và mùa khô chênh lệch ít, chỉ khi có mưa to, bão lũ thì nước dâng lên khá đột ngột, nhưng rút cũng nhanh. Lưu lượng trung bình trong năm là 2.