Chương 1: Những yếu tố tác động đến quá trình lãnh đạo xây dựng nông thôn mới của Đảng bộ huyện Ba Vì. Chương 2: Chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ huyện Ba Vì về xây dựng nông thôn mới từ năm 2008 đến năm 2015. Chương 3: Một số nhận xét và kinh nghiệm chủ yếu 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1: NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUÁ TRÌNH LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI CỦA ĐẢNG BỘ HUYỆN BA VÌ 1. Điều kiện tự nhiên 1.
Vị trí địa lý Ba Vì là huyện tận cùng phía Tây Bắc của Hà Nội, trên địa bàn huyện có một phần lớn của dãy núi Ba Vì chạy qua phía Nam huyện, phía Đông giáp thị xã Sơn Tây, phía Đông Nam giáp huyện Thạch Thất. Phía Nam giáp các huyện Lương Sơn (về phía Đông Nam huyện) và Kỳ Sơn của Hòa Bình (về phía Tây Nam huyện). Phía Bắc giáp thành phố Việt Trì, Phú Thọ, với ranh giới là sông Hồng (sông Thao) nằm ở phía Bắc. Phía Tây giáp các huyện Lâm Thao, Tam Nông, Thanh Thủy của Phú Thọ.
Phía Đông Bắc giáp huyện Vĩnh Tường tỉnh Vĩnh Phúc, ranh giới là sông Hồng. Huyện Ba Vì là một huyện bán sơn địa, diện tích tự nhiên là 428,0 km², lớn nhất Thủ đô Hà Nội Trước khi sáp nhập vào Hà Nội, toàn huyện Ba Vì có 1 thị trấn và 31 xã. Hiện tại, huyện Ba Vì có 1 thị trấn là Tây Đằng (huyện lỵ) và 30 xã: Ba Trại, Ba Vì, Cẩm Lĩnh, Cam Thượng, Châu Sơn, Chu Minh, Cổ Đô, Đông Quang, Đồng Thái, Khánh Thượng, Minh Châu, Minh Quang, Phong Vân, Phú Châu, Phú Cường, Phú Đông, Phú Phương, Phú Sơn, Sơn Đà, Tản Hồng, Tản Lĩnh, Thái Hòa, Thuần Mỹ, Thụy An, Tiên Phong, Tòng Bạt, Vân Hòa, Vạn Thắng, Vật Lại, Yên Bài. Ba Vì có một hệ thống đường giao thông thuỷ bộ rất thuận lợi nối liền các tỉnh Tây Bắc, Việt Bắc với toàn bộ đồng bằng Bắc Bộ, trong đó có thủ đô Hà Nội - Trung tâm kinh tế, chính trị, văn hoá của cả nước.
Từ Trung tâm huyện lỵ theo quốc lộ 32 đi Sơn Tây về Hà Nội và các tỉnh đồng bằng Bắc bộ hoặc ngược Trung Hà đi Tây Bắc, Việt Bắc. Đồng thời cũng từ trung tâm huyện lỵ theo sông Hồng ngược Trung Hà theo sông Lô, sông Thao lên Tây Bắc, hoặc theo sông Đà đi Hoà Bình - cửa ngõ Tây Bắc của Tổ quốc. Ngoài ra trên địa bàn huyện còn có một số tuyến đường Tỉnh lộ như 411A, B, C; 412, 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 413, 414, 415 và các đường liên huyện, đê sông Hồng, sông Đà. thông thương giữa các vùng, miền, các tỉnh, huyện bạn.
Với những lợi thế về giao thông đường thủy, đường bộ, Ba Vì có điều kiện khá thuận lợi trong giao lưu kinh tế, văn hóa với bên ngoài, tiếp thu những tiến bộ khoa học - kỹ thuật để phát triển kinh tế với cơ cấu đa dạng: nông nghiệp, dịch vụ, du lịch, công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp. Những tài nguyên chủ yếu của Huyện Tổng diện tích đất tự nhiên của toàn Huyện là 42.402,69 ha trong đó: - Đất nông nghiệp: 29183,72 ha, chiếm 68,83% tổng diện tích đất tự nhiên, trong đó diện tích đất trồng cây hàng năm là 11.513 ha; diện tích đất trồng cây lâu năm là: 5. Theo số liệu thống kê năm 2008, diện tích rừng toàn huyện có 10.724,9 ha, trong đố rừng sản xuất 4.400,4 ha, rừng phòng hộ 78,4 ha và 6.246 ha rừng đặc dụng [58]. Diện tích rừng tự nhiên tập trung chủ yếu ở vùng núi Ba Vì từ độ cao 400m trở lên.
Rừng tự nhiên được phủ xanh bằng các loại thảm thực vật phong phú, đa dạng, trong đó có nhiều loại cây đặc trưng của rừng nhiệt đới thuộc phạm vi Vườn quốc gia Ba Vì. - Đất phi nông nghiệp là: 11241, 81 ha, chiếm 26,51 % tổng diện tích đất tự nhiên. - Đất chưa sử dụng là: 274,13 ha, chiếm 0,65 % tổng diện tích đất tự nhiên. - Đất trong khu dân cư là: 1.703,03 ha chiếm 4,02 % tổng diện tích đất tự nhiên [58].
Động thực vật Ba Vì rất đa dạng, phong phú. Hiện nay các nhà thực vật học Việt Nam ước khoảng 2. Gồm thực vật nhiệt đới, á nhiệt đới bước đầu kê được 812 loài thực vật bậc cao với 88 họ thực vật, 270 loài bậc cao gồm nhiều loại gỗ quý hiếm như lát hoa, sồi, dẻ gai. Hai loại cây rất quý được ghi vào "Sách đỏ Việt Nam" là Bách xanh và Thông đỏ đang được bảo 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com vệ nghiêm ngặt.
Động vật cú 44 loài thú, 104 loại chim, 15 loại bò sát, 9 loại lưỡng cư (tài liệu quy hoạch Vườn quốc gia Ba Vì). Đây là nguồn tài nguyên rừng quý hiếm được bảo vệ nghiêm ngặt. Trên địa bàn huyện có 2 sông chính chảy qua và một sông tiêu thoát nước nội địa: Sông Đà, Sông Hồng, Sông Tích. Có 01 Hồ lớn (Hồ Suối Hai) và 24 hồ đập nhỏ tập trung chủ yếu ở các xã vùng núi và đồi gò.
Trong đó hồ Suối Hai có dung tích 46 triệu m3 nước. Các công trình hồ đập trong huyện có tác dụng cung cấp nước, phòng chống lũ nội địa và các khu vực lân cận. Tài nguyên nhân văn và yếu tố nguồn nhân lực: Ba Vì là vùng đất địa linh nhân kiệt, có truyền thống văn hóa lâu đời, độc đáo, đặc trưng bởi 3 dân tộc Kinh, Mường, Dao với những phong tục tập quán, nét văn hóa riêng biệt. Núi Ba Vì là cái nôi của huyền thoại Sơn Tinh, Thuỷ Tinh - Thần Tản Viên và thần Sông nước (sông Đà).
Xung quanh núi Ba Vì có nhiều nơi thờ Sơn Tinh - vị thánh đứng đầu trong Tứ bất tử mà điển hình là: Đền Thượng, Đền Trung, Đền Hạ, Đình Tây Đằng (Bắc Cung), Đền Và - Sơn Tây (Đông Cung), Đền Bố - Tản Lĩnh (Nam Cung)… Đến năm 2008 huyện Ba Vì có 63 di tích lịch sử - văn hoá được xếp hạng, được phân bố đều khắp ở cả 3 vùng trong huyện. Những di tích lịch sử này phần lớn có kiến trúc độc đáo gắn liền với tên tuổi các vị anh hùng của dân tộc, danh nhân văn hoá. Nhiều di tích có tầm cỡ quốc gia như: Đình Tây Đằng, Đình Chu Quyến là 2 di tích được xếp hạng đặc biệt quan trọng cấp quốc gia, Đình Thụy Phiêu được các nhà khoa học đánh giá là một trong những ngôi đình cổ nhất Việt Nam có niên đại 1531- thời Nhà Mạc, Đền thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh trên đỉnh núi Ba Vì, Khu di tích K9. Nhân dân Ba Vì vốn hiếu học, cần cù, sáng tạo trong lao động, kiên cường, bất khuất trong chống giặc ngoại xâm nhất là trong hai cuộc kháng chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược.
Trong thời kỳ đổi mới, 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Đảng bộ, nhân dân huyện Ba Vì tiếp tục phát huy truyền thống quê hương, phát triển mạnh mẽ và vững chắc, góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH, HĐH đất nước. Ba vì có trên 26 vạn người với 3 dân tộc sinh sống (Kinh, Mường, Dao). Do là huyện thuần nông nên lao động nông nghiệp chiếm chủ yếu (70% lao động trong độ tuổi). Lao động qua đào tạo chiếm 18% tổng lao động toàn Huyện.
Đây là nguồn lực to lớn tạo tiền để, đảm bảo cho sự phát triển của Huyện. Thế mạnh du lịch nghỉ dưỡng là một trong những tài nguyên tự nhiên mà thiên nhiên ưu đãi cho Ba Vì, với lợi thế vùng núi rừng có cảnh quan thiên nhiên đẹp hấp dẫn, khí hậu mát mẻ của vùng núi Ba Vì thu hút khách du lịch trong và ngoài nước tới tham quan, nghỉ dưỡng. Các khu du lịch nghỉ dưỡng thiên nhiên đang từng bước được đầu tư và phát triển. Các doanh nghiệp du lịch hoạt động kinh doanh chủ yếu trên địa bàn miền núi, bên cạnh một số doanh nghiệp và khu du lịch hoạt động đã có nề nếp, kinh doanh có hiệu quả như: Du lịch Ao Vua, Khoang Xanh,Thác Đa, Thiên Sơn - Thác Ngà, Vườn Quốc gia, Tản Đà Resort.
còn một số khu vực và đơn vị đang từng bước đầu tư và chuẩn bị đầu tư tại khu vực sườn Tây núi Ba Vì (Du lịch Suối Cái xã Minh Quang, Suối Bóp xã Khánh Thượng và một số địa điểm hấp dẫn khác.) nằm trong quy hoạch du lịch sườn Tây, hứa hẹn cho một vùng du lịch giàu tiềm năng phát triển trong tương lai gần, tạo điều kiện về việc làm, phân công lao động trên địa bàn các xã theo hướng tăng dịch vụ, thương mại đồng thời tác động tích cực việc tiêu thụ nông lâm sản, nâng cao giá trị sản xuất hàng hóa cho nông dân. Là một huyện với vị trí tương đối thuận tiện trong việc giao lưu với các huyện và tỉnh lân cận, đồng thời có nhiều tiềm năng về tài nguyên đất, nước, khí hậu và con người, đây là những tiền đề quan trong giúp cho Huyện Ba Vì phát triển kinh tế nói chung và thực hiện xây dựng nông thôn mới theo chủ trương của Đảng và Nhà nước. 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Tình hình kinh tế - xã hội và thực trạng nông thôn ở huyện Ba Vì trƣớc năm 2008.
Hạ tầng kinh tế, xã hội Hệ thống mạng lưới hạ tầng giao thông phần nào thể hiện bộ mặt của địa phương, phản ánh đời sống xã hội của nhân dân. Theo rà soát trong đề án xây dựng NTM của UBND huyện Ba Vì tính đến hết năm 2008 trên toàn Huyện có: - Đường trục xã, liên xã: tổng số 302,48 km có bề rộng mặt đường từ 3m – 5m, lề rộng đường từ 1- 2m , Tải trọng thiết kế từ 5 -10 tấn. Cụ thể: + Đã được nhựa hóa 54,76 km (18,1 %) trong đó 22,64 km đường chất lượng tốt và 32,12 km đường xuống cấp, cần nâng cấp [58]. + Còn lại 109, 75 km đường đất (36,3 %), cần nâng cấp - Đường liên thôn, trục thôn: tổng số có 529,70 km với bề rộng mặt đường từ 2-5 m, tải trọng thiết kế từ 1- 5 tấn.
+ Đã trải nhựa 0,77km (0,15 %) chất lượng tốt. + Bê tông hóa: 197,23 km (37, 23 %), trong đó 159,61 km, đường còn tốt và 37,62 km đường xuống cấp, cần nâng cấp + Đường đất: 325,56 km (61,46 %), cần được nâng cấp, cải tạo bê tông [58]. - Đường ngõ xóm: tổng số 701,51 km, bề rộng 1- 4m, tải trọng thiết kế <1 tấn, trong đó: + Đã được bê tông 231,83 km (33,05 %), trong đó có 179,53 km đường cất lượng tốt và 52,30 km đường xuống cấp, cần nâng cấp cải tạo. + Đường đất 325,56 km (61,46 %) cần nâng cấp cải tạo.