Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về thực hiện xây dựng nông thôn mới ở huyện Đan Phượng Chương 2: Đảng bộ huyện Đan Phượng lãnh đạo xây dựng nông thôn mới từ năm 2008 đến năm 2014 Chương 3: Một số nhận xét và kinh nghiệm 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1: NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN CÔNG CUỘC XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở HUYỆN ĐAN PHƢỢNG 1. Khái quát điều kiện tự nhiên, tình hình kinh tế-xã hội và thực trạng nông thôn huyện Đan Phƣợng trƣớc năm 2008 1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội Đan Phượng là huyện ngoại thành nằm phía Tây của Thủ đô Hà Nội, cách trung tâm Thủ đô gần 20km, có vị trí địa lý: phía Bắc giáp huyện Mê Linh (ranh giới tự nhiên là bãi, sông Hồng), phía Nam giáp huyện Hoài Đức; phía Đông giáp huyện Đông Anh (ranh giới tự nhiên là bãi, sông Hồng) và quận Bắc Từ Liêm; phía Tây giáp huyện Phúc Thọ, là huyện có truyền thống thâm canh trong nông nghiệp, năng suất lúa đạt 7 tấn/ha đầu tiên của Miền Bắc.Tổng diện tích tự nhiên 7.657,11 ha, trong đó: Đất nông nghiệp đang khai thác, sử dụng: 3838,21 ha (50,12%); Đất chuyên dùng: 989,44 ha (12,92%); Đất ở: 787,65 ha (10,29%); Đất chưa sử dụng, sông suối: 2041,81 ha (26,68%). Địa hình của Đan Phượng được chia làm 4 vùng: Vùng bãi sông Hồng gồm các xã: Phương Đình, Trung Châu, Thọ Xuân, Thọ An, là vùng đất phù sa, màu mỡ, thích hợp cho các loại cây rau, màu, chăn nuôi gia súc và đại gia súc, nuôi thủy sản.
Vùng ven sông Đáy gồm các xã, thị trấn: Thị trấn Phùng, Đan Phượng, Song Phượng, Đồng Tháp, là vùng đất phù sa cổ, màu mỡ, thích hợp trồng cây ăn quả, cây rau, màu, chăn nuôi gia súc và gia cầm, thủy sản. Vùng Tiên Tân gồm các xã Liên Trung, Liên Hà, Liên Hồng, Hồng Hà: có địa hình cao, đất cát pha thịt nhẹ màu mỡ, thuận lợi trồng lúa, rau, màu, cây ăn quả và chăn nuôi. 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Vùng Đan Hoài gồm các xã: Tân Hội, Tân Lập, Hạ Mỗ, Thượng Mỗ, là vùng đất thịt nhẹ pha sét nhẹ, hàng năm được tưới bằng nước phù sa sông Hồng, qua hệ thống thủy nông Đan Hoài, thích hợp trồng lúa, cây màu, cây ăn quả có chất lượng quả ngon, chăn nuôi. Đặc điểm chia thành các vùng rõ rệt tạo điều kiện cho huyện trong việc định hướng, quy hoạch phát triển kinh tế cho phù hợp với đặc điểm, điều kiện tự nhiên của từng vùng, khiến cho nền kinh tế, văn hóa xã hội phát triển đa dạng, mỗi cụm lại mang một đặc trưng riêng.
Đan Phượng nằm trên vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng nên đất đai màu mỡ, điều kiện về thủy văn thuận lợi nên kinh tế nông nghiệp, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, làng nghề, thương mại, dịch vụ ở đây sớm phát triển. Chính sự phát triển của kinh tế đã tạo điều kiện cho Đan Phượng phát triển văn hóa, xã hội và đặc biệt là xây dựng nông thôn mới. Nền khí hậu nhiệt đới ẩm, chịu ảnh hưởng của gió mùa. Mùa hè nóng ẩm, nhiệt độ trung bình trên 23 độ C, mùa đông khô và lạnh với nhiệt độ trung bình 15 – 16 độ C.
Độ ẩm tường đối trung bình từ 83 – 85% (tháng ẩm nhất thường là tháng 3 và 4). Nắng trong vùng mang tính chất chung của vùng Bắc Bộ. Gió theo mùa, mùa đông thường là Đông Nam – Tây Bắc đến Đông Bắc, tốc độ gió trung bình 4m/s; mùa hè thường là Đông Nam – Tây và Tây Bắc, tốc độ gió trung bình 2,5 – 3m/s. Bão úng thường xẩy ra vào tháng 5 đến tháng 8 trong năm.
Lượng mưa trung bình từ 1600 – 1800 mm, mưa lớn tập trung trong tháng 7, 8, 9. Tháng 1 đến tháng 4 thường có mưa phùn. Nhìn chung khí hậu và thời tiết thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp, đa dạng các loại cây trồng. Toàn huyện có dân số 162.373 người trong đó số người trong độ tuổi lao động là 97.592 người chiếm tỷ lệ 61,65% Trong những năm gần đây, cùng với việc quy hoạch mở rộng các khu sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nghiệp, ngành nghề sản xuất các sản phẩm hàng hóa nông nghiệp tăng nhanh, tỷ lệ lao động chuyển sang lĩnh vực sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và thương mại – dịch vụ tăng nhanh (ước tính mỗi năm tăng 1 – 1,5%).
Chất lượng lao động nhìn chung có trình độ văn hóa cao, có khả năng tiếp thu và vận dụng nhanh các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, thích ứng nhanh với cơ chế thị trường. Thu nhập bình quân đầu người năm 2005 đạt 5 117 000. Huyện có 16 đơn vị hành chính cấp xã, gồm 1 thị trấn và 15 xã với 49 tổ chức cơ sở đảng, trong đó có 16 đảng bộ xã, thị trấn; 7 đảng bộ cơ quan, 26 chi bộ trực thuộc với 5. Là huyện có hệ thống giao thông đường thuỷ, bộ thuận lợi cho phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, làng nghề, thương mại, dịch vụ; đất đai màu mỡ, nhân dân có truyền thống yêu nước, kiên cường cách mạng, cần cù, sáng tạo trong lao động sản xuất.
Huyện đang trong quá trình đô thị hóa nhanh, môi trường đầu tư thuận lợi cùng với sự năng động, sáng tạo của cấp ủy, chính quyền, MTTQ, các ban, ngành đoàn thể các cấp và sự đồng thuận cao trong nhân dân. Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt, sáng tạo của Huyện ủy, sự giám sát của HĐND, sự tập trung điều hành sáng tạo, dứt điểm, hiệu quả của chính quyền và sự nỗ lực của cả hệ thống chính trị các cấp, do đó đã hoàn thành các nhiệm vụ chính trị, phát triển kinh tế xã hội, an ninh, quốc phòng mà nghị quyết đại hội đảng bộ các cấp đề ra trong đó, một trong những kết quả quan trọng đó là việc xây dựng nông thôn mới. Huyện Đan Phượng ở gần nội thành Hà Nội và các khu công nghiệp, đây là thị trường rộng lớn cho các sản phẩm hàng hóa của Đan Phượng, từ các sản phẩm lương thực, rau quả, gia súc, gia cầm đến các sản phẩm công nghiệp, làng nghề được tiêu thụ với số lượng lớn ở nội thành. Cùng với sự phát triển của Thủ Đô, nhu cầu về sản phẩm nông sản ngày càng lớn, thị 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com trường tiêu thụ hàng hóa của huyện sẽ được mở rộng đồng thời Đan Phượng sẽ là cơ sở gia công các mặt hàng cho các xí nghiệp của thủ đô.
Thêm vào đó, Đan Phương có nhiều làng nghề truyền thống nổi tiếng như: làng nghề chế biến lâm sản Liên Trung; Mộc xã Liên Hà;chế biến thực phẩm giò chả xã Tân Hội; nấu rượu, làm đậu xã Hạ Mỗ. Đây là tiềm năng lớn để phát triển sản xuất, kinh doanh, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động. Với đặc điểm trên, Đan Phượng là huyện ven đô, có điều kiện tự nhiên thuận lợi để phát triển kinh tế nói chung và kinh tế nông nghiệp nói riêng. Đất đai màu mỡ, tưới tiêu thuận lợi, có kinh nghiệm thâm canh nông nghiệp, có khả năng tiếp thu và ứng dụng nhanh các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, thích ứng nhanh với cơ chế thị trường; Hạ tầng nông nghiệp cơ bản đáp ứng yêu cầu phục vụ sản xuát và tiêu thụ sản phẩm.
Nhân dân trong huyện có truyền thống yêu nước, kiên cường cách mạng, cần cù, sáng tạo trong lao động sản xuất lại có trình độ dân trí khá cao lại luôn có sự đoàn kết, đồng thuận, nhất trí nên thuận lợi cho việc xây dựng nông thôn mới của huyện. Trên địa bàn huyện, chỉ thuần nhất có dân tộc Kinh và có 3 tôn giáo chính là Đạo Phật, đạo Tin Lành, Đạo Thiên Chúa, tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn huyện ổn định. Do đó, đây là một điều kiện thuận lợi cho quá trình xây dựng nông thôn mới. Những điều kiện về vị trí địa lý, tự nhiên, dân cư trên là một lợi thế của Đan Phượng và có tác động lớn thúc đẩy sự quá trình xây dựng nông thôn mới của huyện.
Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi cơ bản đó cũng còn tồn tại những khó khăn nhất định đó là: từ năm 2008, tình hình kinh tế xã hội thế giới cũng như trong nước có nhiều biến động, sự suy thoái kinh tế kéo theo hàng loạt ảnh hưởng về chính trị, văn hóa, xã hội. Mặc dù từ năm 2008 đến 2014, nền 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com kinh tế đang thoát dần khỏi khủng hoảng song vẫn còn tồn tại những khó khăn nhất định. Thực trạng đó tác động không nhỏ tới sự phát triển của huyện Đan Phượng trong đó trực tiếp nhất là nguồn thu ngân sách gặp nhiều khó khăn nên nguồn vốn đầu tư cho xây dựng nông thôn mới còn hạn chế. Quá trình đô thị hóa, phát triển công nghiệp - làng nghề làm cho diện tích đất nông nghiệp của huyện dần bị thu hẹp, lao động thiếu việc làm sau thu hồi đất, đời sống của một bộ phận nhân dân khó khăn; Năng suất lao động thấp, phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên, giá phân bón, thuốc trừ sâu tăng dẫn đến thu nhập của nhân dân khó khăn cùng với đó là vấn đề ô nhiễm môi trường ở các làng nghề.
Hệ thống cơ chế, chính sách, pháp luật chưa đồng bộ, chậm được hướng dẫn, bổ sung, sửa đổi như chính sách đầu tư, chính sách đất đai, giải phóng mặt bằng.đã ảnh hưởng đến việc huy động nguồn vốn trong xây dựng nông thôn mới. Cơ chế chính sách cho phát triển nông nghiệp chậm đổi mới chưa có sức thu hút đầu tư của xã hội và nhà nước. Một số cơ chế, chính sách, pháp luật chưa đồng bộ, chậm được hướng dẫn, sửa đổi. Quy hoạch phát triển nông nghiệp chậm, thiếu ổn định, đầu tư cho nông nghiệp thấp.
Đa số người dân nông thôn vẫn còn khó khăn về vốn đầu tư phát triển nông nghiệp hàng hóa chất lượng cao, chưa mạnh dạn xây dựng mô hình sản xuất nông nghiệp quy mô lớn và phát triển mạnh các ngành phi nông nghiệp để tạo việc làm và nguồn thu nhập. Những thuận lợi và khó khăn của điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội là cơ sở quan trọng quyết định đến quá trình xây dựng nông thôn mới của huyện Đan Phượng. Những thuận lợi trên là động lực, là đòn bẩy quan trọng của huyện trong việc xây dựng nông thôn mới. 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Thực trạng nông thôn huyện Đan Phượng trước năm 2008 Trước năm 2008, Đan Phượng là huyện thuần nông với cơ cấu kinh tế nông nghiệp chiếm tỷ lệ chủ yếu.