Chương 1: Đảng bộ tỉnh Hải Dƣơng lãnh đạo thu hút vốn đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài ( FDI) từ năm 1997 đến năm 2000 Chương 2: Đảng bộ tỉnh Hải Dƣơng đẩy mạnh thu hút vốn đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài ( FDI) từ năm 2001 đến năm 2010 Chương 3: Một số nhận xét và kinh nghiệm 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 ĐẢNG BỘ TỈNH HẢI DƢƠNG LÃNH ĐẠO THU HÚT VỐN ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI ( FDI) ( 1997 – 2000) 1.1 Những yếu tố tác động đến công tác thu hút vốn ĐTTTNN ( FDI) ở Hải Dƣơng sau ngày tái lập tỉnh Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài ( FDI) Đầu tư là hoạt động vô cùng quan trọng đối với sự phát triển KT-XH của mỗi quốc gia. Vì vậy mà nó trở thành một trong những vấn đề được mọi quốc gia trên thế giới quan tâm. Từ trước tới nay đã có rất nhiều định nghĩa về đầu tư nhưng chung quy lại nó đều chứa đựng một nội dung cơ bản. Theo Luật Đầu tư được Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 8 thông qua từ ngày 18/10 đến ngày 29/11/ 2005: “ Đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư”.
Đầu tư nước ngoài: Theo điều 2 Luật Đầu tư năm 2005: “ Đầu tư nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác để tiến hành hoạt động đầu tư” [ 50, tr 8]. ĐTNN gồm hai hình thức là đầu tư trực tiếp ( FDI - đầu tư các hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm thu lợi nhuận và các lợi ích khác) và đầu tư gián tiếp ( ODA - cung cấp tín dụng cho vay, đầu tư vào thị trường chứng khoán). Trong đó, FDI được xem là hình thức đầu tư quan trọng nhất. Do FDI đối với nước ta vẫn còn khá mới mẻ bởi hình thức này mới xuất hiện ở Việt Nam sau thời kỳ đổi mới.
Vì vậy, việc đưa ra một khái niệm tổng quát về FDI không phải là dễ. Xuất phát từ nhiều khía cạnh, góc độ, quan điểm khác nhau đã có rất nhiều định nghĩa được đưa ra, phổ biến và thông dụng hơn cả là định nghĩa của các Tổ chức tài chính và kinh tế quốc tế. Theo Quỹ tiền tệ thế giới ( International Moneytary Fund - IMF): “ FDI là đầu tư có lợi ích lâu dài của một doanh nghiệp tại một nước khác ( nước nhận đầu tư), không phải nước mà doanh 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nghiệp đang hoạt động ( nước đi đầu tư) với mục đích quản lý một cách có hiệu quả doanh nghiệp.” Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế ( Organisation for Economic Cooperation and Development – OECD) cũng đưa ra nhận định về FDI tương tự như IMF. Tuy vậy, OECD có quan niệm rất rộng về nhà ĐTNN: “ là cá nhân hoặc tổ chức có thể thuộc cơ quan chính phủ hoặc không thuộc cơ quan chính phủ đầu tư tại nước ngoài” ( theo Wikipedia).
Theo một cách hiểu đơn giản, ĐTTTNN ( FDI) là hình thức đầu tư quốc tế trong đó chủ đầu tư ở một nước đầu tư toàn bộ hay một phần đủ lớn vốn đầu tư của các dự án ở nước khác nhằm giành quyền kiểm soát hoặc tham gia kiểm soát các DN sản xuất hoặc kinh doanh dịch vụ thương mại. Các hình thức FDI chủ yếu Hợp đồng hợp tác kinh doanh Là hình thức được đầu tư ký kết giữa các nhà đầu tư nhằm hợp tác kinh doanh phân chia lợi nhuận, phân chia tài sản mà không thành lập pháp nhân mới [ 50, tr 10] Thời hạn hợp đồng do các bên thỏa thuận. Loại hợp đồng này rất đa dạng lại không đòi hỏi vốn lớn, thời gian hợp đồng thường không dài nên những nhà đầu tư có tiềm năng không lớn thường chọn hình thức này. Doanh nghiệp liên doanh Là loại DN do 2 bên hay nhiều bên phía nước ngoài và nước nhận đầu tư ( nước chủ nhà) hợp tác cùng góp vốn, cùng kinh doanh, cùng hưởng lợi nhuận, cùng chia sẻ rủi ro theo tỷ lệ góp vốn.
Hình thức này thường được các nước chủ nhà ưa chuộng vì thông qua DN này nước chủ nhà có điều kiện tiếp thu kỹ thuật, công nghệ mới, học tập kinh nghiệm quản lý đào tạo đội ngũ lao động và tiếp cận thị trường quốc tế nhưng yêu cầu đặt ra với nước chủ nhà là phải đáp ứng được những yêu cầu về vốn, trình độ quản lý DN cùng với bên nước ngoài thì mới đạt hiệu quả như mong muốn. Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Là DN thuộc sở hữu của nhà ĐTNN, do nhà ĐTNN thành lập tại nước chủ nhà, tự quản lý và tự chịu trách nhiệm về hiệu quả kinh doanh. Hình thức này được phía nước ngoài ưa chuộng vì họ tự mình độc lập ra quyết định quản lý và hưởng lợi nhuận do kết quả đầu tư mang lại sau khi đã làm tròn nghĩa vụ nộp thuế cho nước chủ nhà. Đầu tư theo hợp đồng Hợp đồng BOT là hình thức đầu tư được ký kết giữa cơ quan Nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư để xây dựng, kinh doanh công trình kết cấu hạ tầng trong một thời hạn nhất định.
Sau khi hết thời hạn, nhà đầu tư chuyển giao không bồi hoàn công trình đó cho Nhà nước Việt Nam [50, tr 11]. Hình thức BOT có các dạng thức sau: - Hợp đồng BTO: Là hình thức đầu tư được ký kết giữa cơ quan Nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng. Sau khi xây dựng xong, nhà đầu tư chuyển giao công trình đó cho Nhà nước Việt Nam. Chính phủ dành cho nhà đầu tư quyền kinh doanh công trình đó trong một thời hạn nhất định để thu hồi vốn đầu tư và lợi nhuận [ 50, tr 11].
- Hợp đồng BT: Là hình thức đầu tư được ký kết giữa cơ quan Nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng. Sau khi xây dựng xong, nhà đầu tư chuyển giao công trình đó cho Nhà nước Việt Nam. Chính phủ tạo điều kiện cho nhà đầu tư thực hiện dự án khác để thu hồi vốn đầu tư và lợi nhuận hoặc thanh toán đầy đủ cho nhà đầu tư theo thỏa thuận trong hợp đồng [ 50, tr 11]. Như vậy, dù có nhiều cách định nghĩa khác nhau nhưng về cơ bản, FDI có thể xem là loại hình di chuyển vốn giữa các nước, trong đó chủ sở hữu vốn đồng thời là người trực tiếp quản lý, điều hành hoạt động sử dụng vốn và phải chịu trách nhiệm trực tiếp trước kết quả sản xuất kinh doanh của DN đó.1 Yếu tố tự nhiên Nghiên cứu về tình hình thu hút vốn FDI cho thấy: Điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý, kết cấu hạ tầng, điều kiện phát triển KT-XH khác nhau ở mỗi quốc gia sẽ dẫn đến sự khác biệt về tình hình thu hút FDI.
Trong một quốc gia cũng vậy, mặc 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com dù nằm trong chiến lược chung về thu hút vốn FDI để phát triển kinh tế đất nước, nhưng mỗi địa phương, mỗi tỉnh thành lại có đặc thù riêng của mình, đây chính là lợi thế so sánh nội bộ trong từng quốc gia của các địa phương, ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình hoàn thiện cơ chế thu hút FDI của địa phương đó. Do vậy, để đánh giá được quá trình Đảng bộ tỉnh Hải Dương lãnh đạo thu hút vốn FDI, chúng ta cần phân tích, đánh giá những điều kiện cụ thể của Hải Dương có ảnh hưởng như thế nào đến hiệu quả thu hút FDI. Hải Dương là tỉnh nằm ở trung tâm Đồng bằng Bắc Bộ, với diện tích tự nhiên 1.660, 9km2, thuộc vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc, được tách ra từ tỉnh Hải Hưng ( bao gồm Hải Dương và Hưng Yên hiện nay) vào ngày 01-01-1997. Trong đó: Vị trí địa lý Hải Dương có tọa độ địa lý từ 20°43' đến 21°14' độ vĩ Bắc, 106°03' đến 106°38' độ kinh Đông.
Phía Bắc giáp Bắc Ninh, Bắc Giang và Quảng Ninh; phía Tây giáp Hưng Yên; phía Nam giáp Thái Bình; phía Đông giáp thành phố Hải Phòng. Tỉnh có hai tuyến quốc lộ lớn chạy qua là QL 5 nối Hà Nội với Hải Phòng và QL 18 nối Bắc Ninh với Quảng Ninh. Nằm ở giữa tam giác động lực phát triển kinh tế Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh, có nhiều tuyến giao thông quan trọng và huyết mạch chạy qua thuộc hai trục hành lang kinh tế: Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng và Lạng Sơn – Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh, tỉnh Hải Dương vừa là đầu mối giao lưu kinh tế, thương mại, trung chuyển các luồng hàng hóa qua lại giữa vùng thủ đô Hà Nội với hành lang kinh tế ven biển Hải Phòng – Quảng Ninh, vừa là trung tâm liên kết không gian phát triển kinh tế giữa khu vực nội địa và khu vực ven biển ở Đồng bằng Sông Hồng. Phía Bắc của tỉnh có hơn 20km QL 18 chạy qua, nối sân bay quốc tế Nội Bài với cảng Cái Lân, tạo điều kiện giao lưu hàng hóa từ vùng Bắc Bộ ra biển và giao lưu với các nước trong khu vực và trên thế giới.
Nhờ đó sẽ có cơ hội tham gia vào phân công lao động trên phạm vi toàn vùng và xuất khẩu. 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Với vị trí địa lý thuận lợi, hệ thống giao thông phân bố hợp lý cùng với quá trình hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế đã tạo điều kiện cho tỉnh Hải Dương nhanh chóng tiếp cận được với những tiến bộ khoa học công nghệ mới và phát triển các ngành công nghiệp, đồng thời tỉnh còn có thuận lợi trong việc quy hoạch các KCN và liên kết vùng, tạo môi trường hấp dẫn thu hút vốn đầu tư trong nước và nước ngoài. Khí hậu Hải Dương nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa với hai loại gió chủ yếu là Đông Nam và Đông Bắc, được chia thành 4 mùa rõ rệt. Lượng mưa trung bình hàng năm 1300 - 1700mm, nhiệt độ trung bình 23,3°C, số giờ nắng trong năm 1.524h, độ ẩm tương đối trung bình 85% - 87%.
Khí hậu của Hải Dương khá ổn định, không khắc nghiệt, ít xảy ra thiên tai như hạn hán, bão lụt, rất thuận lợi cho đời sống và sản xuất.