Chương 1: Đảng bộ tỉnh Nam Hà lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ phát triển nông nghiệp giai đoạn 1965 - 1968 Chương 2: Đảng bộ tỉnh Nam Hà lãnh đạo phát triển nông nghiệp giai đoạn 1968 - 1975 Chương 3: Một số nhận xét và kinh nghiệm 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 ĐẢNG BỘ TỈNH NAM HÀ LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN NHIỆM VỤ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP GIAI ĐOẠN 1965 - 1968 1. Các yếu tố ảnh hƣởng đến kinh tế nông nghiệp của tỉnh Nam Hà và tình hình nông nghiệp của tỉnh trƣớc năm 1965 1. Quá trình hình thành tỉnh Nam Hà Nam Định và Hà Nam vốn là vùng đất lâu đời với bề dày truyền thống lịch sử văn hóa. Thời Hùng Vương, nơi đây thuộc bộ Giao Chỉ.
Các cư dân cùng nhau đoàn kết cải tạo tự nhiên, đấu tranh với thú dữ, phòng chống thiên tai để sinh cơ lập nghiệp. Khi dân cư ngày một đông, diện tích canh tác ngày càng mở rộng, người dân bắt đầu khai hoang xuôi theo triền sông, suối để lập ấp, tạo dựng nơi cư trú. Thời thuộc Đường, Nam Định thuộc huyện Chu Duyên, đời Trần gọi là lộ Thiên Trường. Thời thuộc Minh, vùng đất này chia làm 3 phủ: Trấn Nam, Phụng Hóa, Kiến Bình.
Năm 1469, Lê Thánh Tông đặt thừa tuyên làm đơn vị hành chính, sau đổi thừa tuyên thành xứ, Nam Định thuộc xứ Sơn Nam. Năm 1741, xứ Sơn Nam tách thành Sơn Nam Thượng và Sơn Nam Hạ bao gồm cả phần đất Thái Bình. Năm Minh Mệnh thứ 3 (năm 1822), Sơn Nam Hạ đổi là trấn Nam Định, năm 1831, đổi trấn lập tỉnh với 4 phủ, 18 huyện bao gồm phần đất tỉnh Thái Bình hiện nay. Năm 1890, tỉnh Thái Bình tách thành tỉnh riêng.
Nam Định còn lại 2 phủ và 9 huyện. Từ năm 1926, tỉnh Nam Định có 2 phủ, 7 huyện, 78 tổng, 708 xã [31, tr. Theo dòng chảy lịch sử, địa giới địa danh và địa giới của tỉnh Hà Nam đã trải qua nhiều lần tách và sáp nhập. Sau khi thực dân Pháp đặt ách cai trị, ngày 20/10/1890, toàn quyền Đông Dương quyết định đem toàn bộ phủ Liêm Bình, 17 xã của huyện Vụ Bản và huyện Thượng Nguyên (thuộc tỉnh Nam 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Định) nhập với phủ Lý Nhân (gồm 2 huyện Duy Tiên và Kim Bảng) cùng với 2 tổng Mộc Hoàn, Chuyên Nghiệp (huyện Phú Xuyên, Hà Nội) lập thành tỉnh Hà Nam [32, tr 8].
Ngày 24/10/1908, châu Lạc Thủy của tỉnh Hòa Bình sáp nhập vào tỉnh Hà Nam. Ngày 9/3/1910, đặt tỉnh Hà Nam lệ vào tỉnh Nam Định gọi là Đại lý Hà Nam. Đến ngày 31/3/1923, xóa bỏ Đại lý thành tỉnh Hà Nam gồm các huyện Thanh Liêm, Bình Lục, Lý Nhân, Duy Tiên, Kim Bảng, Lạc Thủy và thị xã Phủ Lý với 44 tổng, 390 xã [32, tr. Đến năm 1953, 7 xã miền thượng huyện Nghĩa Hưng sáp nhập vào huyện Ý Yên, đồng thời 3 huyện Mỹ Lộc, Vụ Bản, Ý Yên nhập vào tỉnh Hà Nam.
Đến tháng 3/1956, 3 huyện này lại tách về tỉnh Nam Định như trước [32, tr. Năm 1957, huyện Lạc Thủy tách khỏi tỉnh Hà Nam nhập vào tỉnh Hòa Bình. Tỉnh Hà Nam lúc này còn lại 5 huyện (Lý Nhân, Kim Bảng, Thanh Liêm, Bình Lục, Duy Tiên) và 1 thị xã Phủ Lý. Ngày 21/4/1965, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội ra Nghị quyết số 103- NQ/TVQH, sáp nhập hai tỉnh Hà Nam và Nam Định thành một đơn vị hành chính mới lấy tên là tỉnh Nam Hà [32, tr.
Tỉnh lỵ đặt tại thành phố Nam Định. Tên Nam Định vẫn tồn tại với tư cách là thành phố Nam Định trực thuộc tỉnh. Lúc này tỉnh Nam Hà có diện tích rộng 2.304km2 có trên 2 triệu dân [70, tr. Đến ngày 27/12/1975, Quốc hội khoá V, kỳ họp thứ hai quyết nghị hợp nhất hai tỉnh Nam Hà và Ninh Bình thành một tỉnh mới lấy tên là Hà Nam Ninh [32, tr.
Tỉnh lỵ đặt tại thành phố Nam Định. 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Ngày 26/12/1991, Quốc hội khoá VIII, kỳ họp thứ 10 ra Nghị quyết chia tỉnh Hà Nam Ninh thành hai tỉnh Nam Hà và Ninh Bình. Tỉnh Nam Hà có 13 đơn vị hành chính, tỉnh Nam Hà tái lập. Thực hiện Nghị quyết của Quốc hội khóa IX, kỳ họp thứ 10 ngày 6/11/1996 về việc chia và điều chỉnh địa giới hành chính một số tỉnh, tỉnh Nam Hà chia thành 2 tỉnh Hà Nam và Nam Định.2 Điều kiện tự nhiên và điều kiện xã hội 1.1 Điềiu kiện tự nhên Nam Hà nằm ở phía Nam đồng bằng Bắc Bộ.
Trên bản đồ hành chính, phía Tây Bắc giáp tỉnh Hà Tây và Hòa Bình, phía Đông Nam giáp vịnh Bắc Bộ, phía Tây Nam giáp tỉnh Ninh Bình, phía Bắc và Đông Bắc giáp tỉnh Thái Bình và Hải Hưng. Tỉnh Nam Hà có diện tích 2.292km2 trong đó diện tích canh tác là 1.442 km2, chiếm 70% tổng diện tích. Theo điều tra dân số tính đến cuối năm 1965, tỉnh có 1.365 người, bình quân là 740 người/km2. Nếu chia theo diện tích canh tác là 2,7 sào/người [62, tr.
Tỉnh Nam Hà gồm có 12 huyện, 1 thành phố và 1 thị xã. Phía Nam của tỉnh gồm 4 huyện: Nghĩa Hưng, Hải Hậu, Xuân Thủy, Nam Ninh. Các huyện này thuộc đồng mùa cấy 2 vụ lúa/năm. Còn lại các huyện ở phía Bắc tỉnh thuộc đồng chiêm trũng, trước đây nhân dân thường chỉ cấy 1 vụ chiêm còn vụ mùa thì bấp bênh hoặc là chỉ gieo trồng ở một số vùng nhất định [62, tr.
Dù là tỉnh đồng bằng nhưng địa hình không bằng phẳng mà mấp mô, lượn sóng. Phía Tây Bắc là khu vực bán sơn địa gồm một phần các huyện Thanh Liêm, Kim Bảng, tiếp đến là khu đồng chiêm trũng và sau là khu đồng màu ven biển. Các huyện giáp với tỉnh Hà Tây cao từ 3-4m, đến sông Châu Giang còn từ 1,5-2m, sang bên kia sông Châu Giang độ cao còn khoảng 1,5m, tiến về phía sông Đào (vùng đồng chiêm) cao từ 0,5 - 1,2m, qua sông Đào là 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 0,8m - 1,0m, đến Nam Trực là từ 1,5m - 2m, ra đến biển còn từ 0,6m - 1m. Khu vực đất trũng đồng chiêm có thể nói là chỗ đựng nước của các nơi đổ đến nhất là vùng núi phía Tây Bắc, làm cho đất bị úng hằng năm.
Diện tích đồng bằng ven biển với bãi cát ven biển là 32. Phía Tây tỉnh Nam Hà có vùng rừng núi nối liền với dãy núi đá vôi Ba Vì thuộc tỉnh Hòa Bình và Hà Tây, có độ cao trung bình là từ 200 - 450m chạy từ huyện Kim Bảng đến giáp huyện Ý Yên, dài 39km với diện tích là 406ha [62, tr. Hai huyện Thanh Liêm và Kim Bảng có 511ha rừng rậm, trong đó có rừng bương gồm hàng triệu cây chưa khai thác. Dưới các triền núi là thung lũng làm nơi chăn nuôi gia súc như trâu, bò, dê.
Hai huyện này còn có 3.609ha đồi trọc trồng các loại cây như chè, trẩu, trong đó có các vùng Đồi Thị, Bồng Lạng, Do Lễ là nổi tiếng hơn cả: Ai về Bồng Lạng, Liên Sơn; Uống chè Đồi Thị ngon hơn chè tầu” [87, tr. Ngoài ra, chiếm một phần diện tích đất đai trên địa bàn tỉnh Nam Hà là khu vực bán sơn địa với diện tích phần nhiều là đồi đất trọc hoặc một số diện tích được người dân canh tác để trồng chè. Khi gió mùa đông bắc tràn về làm nhiệt độ giảm xuống, cùng với ảnh hưởng của núi đá vôi nhiệt độ lại càng xuống thấp hơn, nhất là nơi thung lũng, lòng chảo giam hãm không khí lạnh. Mùa hè thì nóng nực, khô hanh, gây ra thời tiết khô nóng nhất là khu vực đồi trọc.
Địa hình đồi núi phía Tây Bắc có ảnh hưởng lớn đến chế độ mưa.Về mùa hè, khi gió mùa đông nam thổi tới, gặp bức bình phong chắn gió gây ra mưa lớn và thường xuyên có dông, làm cho khu vực đồi núi trở thành trung tâm mưa lớn nhất của tỉnh. Mùa mưa kéo dài tới 7 - 8 tháng [62, tr. Tỉnh Nam Hà có 72km đường ven biển tạo điều kiện cho các huyện phía Nam tỉnh có khí hậu tương đối dễ chịu khi mùa đông trời rét dịu, ấm, mùa hè 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tiết trời mát mẻ. Vùng ven biển có gió đất biển thổi từ biển vào và ban đêm gió từ đất liền thổi ra làm cho không khí dễ chịu [62, tr.
Ngoài ra, địa bàn tỉnh có nhiều sông ngòi, phân bố chằng chịt. Sông lớn là sông Hồng và phân lưu của sông Hồng là sông Đáy cùng các sông phụ lưu khác là sông Ninh Cơ, sông Đào, sông Sắt. Đoạn Sông Hồng chạy qua địa bàn tỉnh Nam Hà dài 114km và trở thành ranh giới tự nhiên ngăn cách Nam Hà với các tỉnh Hải Hưng 1, Thái Bình. “Sông Hồng có hàm lượng phù sa nhiều, tăng màu mỡ cho đất đai, đồng ruộng.
Mùa mưa nước sông dâng cao,đã giải quyết vấn đề nước tưới khá tốt cho đồng ruộng các huyện Duy Tiên, Kim Bảng và 4 huyện phía Nam của tỉnh” [62, tr. Trong khi đó, với các khu vực thuộc đồng chiêm trũng, vấn đề tiêu nước gặp khó khăn do nước đồng thấp hơn nước sông. Mùa khô, nước sông xuống khá thấp. Mực nước trung bình là 0,60m, cao nhất là 1,66m, thấp nhất là 0,24m [62, tr.
Sông Đáy là nhánh của sông Hồng chảy vào tỉnh Nam Hà dài 101km, ngăn cách vùng đồng bằng với vùng bán sơn địa và trở thành ranh giới tự nhiên giữa tỉnh Ninh Bình và tỉnh Nam Hà. Sông Đáy có tác dụng tiêu nước cho các huyện phía Tây tỉnh. Mùa mưa nước chảy xiết, mực nước sông cao hơn đồng nên gây ra úng thủy cho khu vực đồng chiêm trũng. Mực nước trung bình mùa mưa cao nhất là 1,13m, thấp nhất là 0,36m.
Mùa khô, mực nước hạ xuống trung bình 0,40m, do đó việc tưới tiêu cho các cánh đồng gặp nhiều khó khăn [62, tr. Sông Ninh Cơ là chi lưu của sông Hồng dài 54km, mùa mưa có tác dụng phân lũ sông Hồng, mang nước phù sa bồi đắp cho các huyện Nghĩa Hưng, Hải Hậu, tiêu nước cho 2 huyện Nam Ninh, Nghĩa Hưng, tưới nước cho các 1 Tỉnh Hải Hưng nay là 2 tỉnh Hải Dương và Hưng Yên. 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com huyện Xuân Thủy, Hải Hậu, Trực Ninh. Mực nước trung bình 0,49m, cao nhất 1,66m, thấp nhất 0,53 m [62, tr.
Sông Đào do nhân dân góp công sức xây dựng và có tên gọi khác là sông Nam Định. Sông Đào là một phân lưu của sông Hồng và chi lưu của sông Đáy. Sông đưa một phần nước của sông Hồng đổ vào sông Đáy và chảy ra biển Đông.