Luận văn thạc sĩ về lãnh đạo phát triển kinh tế và chính sách xã hội huyện Từ Sơn (1999-2008)

Luận văn thạc sĩ phân tích vai trò của Đảng bộ huyện Từ Sơn, Bắc Ninh trong phát triển kinh tế và thực hiện chính sách xã hội giai đoạn 1999-2008.

Trường đại học

Đại học quốc gia Hà Nội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2012

139
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI, VĂN HOÁ CỦA HUYỆN TỪ SƠN

1.1. Điều kiện tự nhiên của huyện Từ Sơn

1.2. Truyền thống văn hoá - lịch sử của huyện Từ Sơn

2. CHƯƠNG 2: CHỦ TRƢƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO PHÁT TRIỂN KINH TẾ, THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH XÃ HỘI Ở TỪ SƠN

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ MỘT SỐ KINH NGHIỆM

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về lãnh đạo phát triển kinh tế huyện Từ Sơn 1999 2008

Huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh, đã trải qua một giai đoạn phát triển kinh tế mạnh mẽ từ năm 1999 đến 2008. Sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện đã đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện các chính sách phát triển kinh tế và xã hội. Giai đoạn này chứng kiến sự chuyển mình mạnh mẽ của huyện, từ một đơn vị hành chính mới tái lập đến một thị xã công nghiệp trọng điểm. Các chính sách phát triển kinh tế được triển khai đồng bộ, tạo ra động lực cho sự phát triển bền vững.

1.1. Điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội huyện Từ Sơn

Huyện Từ Sơn có điều kiện tự nhiên thuận lợi cho phát triển nông nghiệp và công nghiệp. Với diện tích 6140 ha, huyện nằm trong vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng, có khí hậu nhiệt đới, tạo điều kiện cho sự phát triển đa dạng về cây trồng và vật nuôi. Từ Sơn cũng có truyền thống văn hóa lịch sử phong phú, góp phần tạo nên bản sắc riêng cho địa phương.

1.2. Vai trò của Đảng bộ huyện trong phát triển kinh tế

Đảng bộ huyện Từ Sơn đã xác định rõ vai trò lãnh đạo trong việc phát triển kinh tế. Các chủ trương, chính sách được ban hành nhằm thúc đẩy sản xuất, thu hút đầu tư và phát triển hạ tầng. Sự lãnh đạo này đã tạo ra những bước tiến quan trọng trong việc nâng cao đời sống nhân dân và phát triển kinh tế địa phương.

II. Những thách thức trong lãnh đạo phát triển kinh tế huyện Từ Sơn

Mặc dù đạt được nhiều thành tựu, huyện Từ Sơn cũng phải đối mặt với không ít thách thức trong quá trình phát triển. Các vấn đề như ô nhiễm môi trường, thiếu hụt nguồn nhân lực chất lượng cao và sự cạnh tranh từ các khu vực lân cận đã đặt ra nhiều khó khăn cho Đảng bộ huyện.

2.1. Vấn đề ô nhiễm môi trường và phát triển bền vững

Sự phát triển công nghiệp nhanh chóng đã dẫn đến tình trạng ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Đảng bộ huyện cần có các biện pháp hiệu quả để quản lý và bảo vệ môi trường, đồng thời phát triển kinh tế bền vững.

2.2. Thiếu hụt nguồn nhân lực chất lượng cao

Một trong những thách thức lớn nhất là việc thiếu hụt nguồn nhân lực có trình độ cao. Để phát triển kinh tế, huyện cần đầu tư vào giáo dục và đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.

III. Phương pháp lãnh đạo phát triển kinh tế hiệu quả ở Từ Sơn

Đảng bộ huyện Từ Sơn đã áp dụng nhiều phương pháp lãnh đạo hiệu quả trong việc phát triển kinh tế. Các chính sách được xây dựng dựa trên sự tham gia của cộng đồng và sự đồng thuận của nhân dân.

3.1. Chính sách đầu tư và phát triển hạ tầng

Đầu tư vào hạ tầng là một trong những chính sách quan trọng giúp huyện Từ Sơn thu hút đầu tư và phát triển kinh tế. Các dự án hạ tầng được triển khai đồng bộ, tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất và kinh doanh.

3.2. Khuyến khích phát triển doanh nghiệp và hợp tác xã

Đảng bộ huyện đã khuyến khích phát triển doanh nghiệp và hợp tác xã thông qua các chính sách hỗ trợ, tạo điều kiện cho các tổ chức này phát triển và đóng góp vào nền kinh tế địa phương.

IV. Kết quả đạt được trong phát triển kinh tế huyện Từ Sơn 1999 2008

Giai đoạn 1999-2008, huyện Từ Sơn đã đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận trong phát triển kinh tế. Tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt.

4.1. Tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu

Tốc độ tăng trưởng kinh tế của huyện đạt mức cao, với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ. Điều này đã góp phần nâng cao thu nhập bình quân đầu người.

4.2. Cải thiện đời sống xã hội và chính sách an sinh

Các chính sách an sinh xã hội được thực hiện hiệu quả, giúp cải thiện đời sống của người dân. Huyện đã triển khai nhiều chương trình hỗ trợ người nghèo, tạo điều kiện cho họ vươn lên trong cuộc sống.

V. Kinh nghiệm rút ra từ lãnh đạo phát triển kinh tế huyện Từ Sơn

Quá trình lãnh đạo phát triển kinh tế ở huyện Từ Sơn đã rút ra nhiều bài học kinh nghiệm quý báu. Những kinh nghiệm này có thể áp dụng cho các giai đoạn phát triển tiếp theo.

5.1. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng bộ

Sự lãnh đạo chặt chẽ của Đảng bộ là yếu tố quyết định đến thành công trong phát triển kinh tế. Cần tiếp tục phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng bộ trong mọi lĩnh vực.

5.2. Đẩy mạnh sự tham gia của cộng đồng

Khuyến khích sự tham gia của cộng đồng trong quá trình phát triển kinh tế là rất quan trọng. Điều này giúp tạo ra sự đồng thuận và nâng cao hiệu quả của các chính sách.

VI. Tương lai phát triển kinh tế và chính sách xã hội huyện Từ Sơn

Huyện Từ Sơn đang đứng trước nhiều cơ hội và thách thức trong tương lai. Việc tiếp tục phát triển kinh tế gắn với thực hiện các chính sách xã hội là nhiệm vụ quan trọng.

6.1. Định hướng phát triển kinh tế bền vững

Huyện cần xác định rõ định hướng phát triển kinh tế bền vững, chú trọng đến bảo vệ môi trường và phát triển xã hội. Các chính sách cần được điều chỉnh phù hợp với tình hình thực tế.

6.2. Tăng cường hợp tác và liên kết vùng

Tăng cường hợp tác với các địa phương lân cận và các tổ chức kinh tế là cần thiết để phát triển kinh tế huyện Từ Sơn. Điều này sẽ giúp huyện tận dụng được các nguồn lực và cơ hội phát triển.

22/07/2025
Luận văn thạc sĩ ussh đảng bộ huyện từ sơn bắc ninh lãnh đạo phát triển kinh tế và thực hiện một số chính sách xã hội 1999 2008

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm 3 chương, 9 tiết: Chƣơng 1: Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, văn hóa. Chƣơng 2: Chủ trương và sự chỉ đạo phát triển kinh tế, thực hiện chính sách xã hội ở Từ Sơn. Chƣơng 3: Kết quả và một số kinh nghiệm. 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 KHÁI QUÁT ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI, VĂN HOÁ CỦA HUYỆN TỪ SƠN 1.

Điều kiện tự nhiên của huyện Từ Sơn Huyện Từ Sơn là một trong 8 huyện, thị, thành phố của tỉnh Bắc Ninh, nằm ở cửa ngõ phía bắc của thủ đô Hà Nội. Phía Bắc giáp huyện Yên Phong (có dòng sông Ngũ Huyện Khê làm ranh giới; phía Đông giáp huyện Tiên Du; phía Tây và Nam giáp các huyện Đông Anh, Gia Lâm (Hà Nội). Diện tích đất tự nhiên của huyện là 6140 ha, gồm 07 phường: Đình Bảng, Đông Ngàn, Đồng Nguyên, Đồng Kỵ, Châu Khê, Tân Hồng, Trang Hạ và 05 xã: Hương Mạc, Phù Chẩn, Phù Khê, Tam Sơn, Tương Giang Từ Sơn nằm trong vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng, được bồi đắp bởi phù sa của các con sông lớn: sông Hồng, sông Đuống…. Địa hình bằng phẳng, có dòng sông Ngũ Huyện Khê chảy qua vùng phía Tây và Bắc huyện.

Sông Ngũ Huyện Khê có lưu lượng nước vừa phải, rộng khoảng 100 - 150m, là nguồn cung cấp nước cho sản xuất nông nghiệp ở nhiều xã trong huyện. Từ Sơn có những ngọn núi thấp, tiêu biểu là núi Tiêu (còn có tên gọi là núi Bà Tiêu hay Tiêu Sơn). Từ Sơn thuộc vùng khí hậu nhiệt đới, chịu ảnh hưởng rõ rệt của gió mùa với 4 mùa: xuân, hạ, thu, đông; trong đó hai mùa chính là mùa mưa và mùa khô. Mùa mưa kéo dài từ tháng 4 đến tháng 10 (tập trung vào các tháng 7,8,9, chiếm 70% lượng mưa của cả năm.

Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau (trong đó tháng 1 và tháng 2 là thời kỳ mưa phùn ẩm ướt, cộng với giá rét kéo dài do ảnh hưởng của các đợt gió mùa đông bắc). Nhiệt độ trung bình năm 23,30C; độ ẩm trung bình năm 84%, lượng mưa trung bình 1.386,8mm/năm; hướng gió chủ đạo là gió Đông và Đông Bắc, mùa hạ có gió Nam và Đông Nam. Sự phân hoá khí hậu theo mùa đã tạo 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com điều kiện cho huyện phát triển một nền nông nghiệp phong phú, đa dạng về cây trồng, vật nuôi. Huyện Từ Sơn có sông Ngũ Huyện Khê là nhánh của sông Cầu, cách trung tâm huyện 1,5km về phía Tây Bắc, chảy qua khu vực phường Châu Khê, Trang Hạ, Đồng Kỵ, các xã Phù Khê, Hương Mạc.

Từ Sơn có hồ lớn (Loa Hồ - thường gọi là khu Đền Đầm) nằm ở khu vực phường Tân Hồng, rộng khoảng 25 ha. Ngoài ra trên địa bàn huyện còn có nhiều hồ, ao nhỏ nằm rải rác ở các xã trong huyện. Truyền thống văn hoá - lịch sử của huyện Từ Sơn Huyện Từ Sơn được hình thành từ rất sớm, được đánh giá là vùng đất có bề dày văn hoá và lịch sử. Từ thời đại Hùng Vương, vùng đất Từ Sơn đã có nhiều bộ tộc người Việt sinh sống dọc theo bờ sông Tiêu Tương (nay thuộc địa phận phường Đình Bảng, phường Đồng Nguyên, xã Tam Sơn, Tương Giang.

Dưới thời Hùng Vương, nước Văn Lang được chia thành 15 bộ, Từ Sơn nằm trong bộ Vũ Ninh; đời nhà Đường đô hộ, Từ Sơn thuộc địa phận của Long Châu; thời Lê Đại Hành (989 - 1005) gọi là Cổ Pháp, thời nhà Lý (1010 - 1225) đổi thành phủ Thiên Đức; thời Trần (1225 - 1400) được gọi là huyện Đông Ngàn, rồi huyện Từ Sơn. Thời Lê (1428 - 1788) phủ Từ Sơn được thành lập. Đến thời Hồng Đức, Từ Sơn thuộc trấn Kinh Bắc. Huyện Từ Sơn là một vùng quê có truyền thống Nho học và khoa bảng nổi tiếng trong tỉnh Bắc Ninh và cả nước.

Sách Bắc Ninh dƣ địa chí của Đỗ Trọng Vĩ ghi nhận: ở phủ Từ Sơn, từ xưa Đông Ngàn là đất văn hiến hơn cả. Nhưng trong đó bảy tổng Phù Lưu, Tam Sơn, Nghĩa Lập, Mẫn Xá, Dục Tú, Hội Phụ, Hạ Dương có nhiều nhất. Theo sách Thiền Nam lịch triều truyện đăng khoa của Phan Hòa Phủ có ghi chép về số người đỗ đại khoa, bắt đầu từ khoa thi đầu tiên năm 1075 (thời Lý) cho đến năm 1788 (thời Lê Trung Hưng), số người đỗ đại khoa ở xứ Kinh Bắc: 593, phủ Từ Sơn: 282, riêng huyện Đông Ngàn chiếm 138 người đỗ tiến 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com sỹ, trong đó có 4 người đỗ trạng nguyên: Nguyễn Quán Quang (Tam Sơn), Nguyễn Giản Thanh (Hương Mạc), Ngô Miễn Thiệu (Tam Sơn), Nguyễn Xuân Chính (Phù Chẩn). Từ lâu, Từ Sơn nổi tiếng với nhiều ngành nghề truyền thống.

Theo sách “Bắc Ninh phong thổ tạp ký” thì ở vùng Đông Ngàn - Từ Sơn thời kỳ trước cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã nổi tiếng với nhiều ngành nghề thủ công truyền thống, gắn liền với những địa danh như: Nghề thợ mộc, chạm khắc trên gỗ ở các xã Phù Khê, Hương Mạc, Đồng Quang, Tân Hồng; nghề thợ sơn, sơn mài, nhuộm thâm ở xã Đình Bảng, Tân Hồng; nghề rèn sắt ở Đa Hội (Châu Khê); nghề dệt vải, dệt lụa ở Tam Sơn, Tương Giang… Hầu hết các ngành nghề thủ công truyền thống trên gắn với các sản phẩm từ bao đời nay đã nổi tiếng cả nước. Trong đó, nghề mộc, chạm khắc gỗ xuất hiện trên đất Phù Khê có từ bao giờ, đến nay chưa có tài liệu để xác minh, nhưng qua một số công trình kiến trúc có giá trị do những người thợ ở Từ Sơn đặc biệt người Phù Khê làm còn để lại như chùa Tây Phương (Hà Tây - Hà Nội), chùa Bút Tháp (Thuận Thành), chùa Lim (Tiên Du) cho đến đình Diềm Xã, đình Đình Bảng. Có thể thấy nghề mộc - chạm khắc ở đây đã xuất hiện từ khá sớm, đặc biệt vào thời Hậu Lê (thế kỷ XVII - XVIII), làng nghề chạm khắc ở Phù Khê đã nổi tiếng khắp nơi và nó được phát triển sang nhiều địa phương khác quanh vùng như Đồng Kỵ, Hương Mạc, Tam Sơn… Sản phẩm của họ gắn bó từ những đồ gia dụng trong gia đình cho đến đồ thờ cúng, tạc tượng, đặc biệt là những công trình kiến trúc lớn như đình, chùa, miếu, phủ, lăng tẩm chạm khắc rồng, phượng lộng lẫy. Do cần cù, chịu khó, cộng với óc thẩm mỹ tinh tế và đôi bàn tay khéo léo, người dân các địa phương Phù Khê, Hương Mạc, Đồng Kỵ đã phát triển nghề mộc vớí nhiều loại hình như: hàng ngang (làm nhà cửa, đồ gia dụng); hàng chạm (hương án, long khám, long châu, hoành phi, câu đối, tủ, xa lông, tủ chè…).

Ở loại hình nào, người Phù Khê, Hương Mạc, Đồng Kỵ cũng cho ra đời những sản 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com phẩm đạt đến trình độ khéo léo, tinh xảo và thẩm mỹ cao. Nghề mộc, nghề rèn sắt chủ yếu ở Đa Hội (Châu Khê) cũng khá phát triển. Nghề này chuyên cung cấp công cụ lao động và sinh hoạt cho cả một vùng. Không những thế, các sản phẩm của các ngành nghề trên rất được ưa chuộng và được bán ra khắp các thị trường trong huyện, trong tỉnh và trong cả nước, thậm chí xuất khẩu sang một số nước lân cận.

Hiện nay, do nhu cầu của thị trường, các nghề sản xuất này ngày một phát triển. Ngoài ra một số nghề khác như nghề dệt vải, sản xuất gạch ngói… cũng được người dân duy trì và phát triển. Bên cạnh đó, người dân Từ Sơn còn mạnh dạn đầu tư, mở mang thêm một số ngành nghề mới như: sơn mài, làm ghế mây, mành trúc, thảm, tre nan… phục vụ cho việc tiêu dùng và xuất khẩu. Các nghề trên ra đời không chỉ tạo công ăn việc làm mà đã trở thành những nghề sản xuất mang lại thu nhập chính của người dân địa phương, đồng thời nó còn được phát triển rộng rãi sang các vùng lân cận.

Vào những năm đầu của thế kỷ XX, Từ Sơn là một trong những địa phương đã nhạy bén tiếp thu đường lối cách mạng mới do đồng chí Nguyễn Ái Quốc truyền bá thông qua Hội Việt Nam cách mạng thanh niên. Các hội viên ở Từ Sơn đã tích cực hoạt động, nhanh chóng xây dựng cơ sở cách mạng đầu tiên. Chi hội Việt Nam cách mạng Thanh niên được thành lập tại làng Tam Sơn, huyện Từ Sơn là chi hội đầu tiên của tỉnh Bắc Ninh. Đây là “chi hội thử nghiệm” của Ngô Gia Tự về công tác tuyên truyền, vận động các trí thức yêu nước ở nông thôn đi theo con đường cách mạng vô sản.

Từ thành công này, các chi hội đã được phát triển rộng trên địa bàn huyện Từ Sơn và tỉnh Bắc Ninh. Đến tháng 6 - 1927, tỉnh Bắc Ninh có 6 chi hội gồm khoảng 40 hội viên. Tổ chức Hội Việt Nam cách mạng thanh niên tiếp tục phát triển ở huyện Từ Sơn và tỉnh Bắc Ninh. Thời kỳ cách mạng 1930 - 1931 và 1936 - 1939, ở Từ Sơn, các làng Phù Lưu, Cẩm Giang, Trang Liệt… cũng có các tổ chức phường, hội với hàng trăm quần chúng tham gia, có phong trào đọc sách báo 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tiến bộ, phong trào truyền bá chữ quốc ngữ.

Tiêu biểu cho các phong trào này có Đình Bảng, Phù Lưu… Thông qua các hoạt động của Hội Việt Nam cách mạng thanh niên, nhân dân Từ Sơn sớm giác ngộ cách mạng, phát huy nhiệt tình yêu nước. Nhiều quần chúng ở hàng chục làng xóm, phố phường đã tham gia đấu tranh chống thực dân, phát xít, chống phản động thuộc địa, giành quyền dân sinh, dân chủ, đòi tự do, cơm áo, hòa bình. Các tổ chức ái hữu, nghiệp đoàn, hội quần chúng hoạt động công khai hợp pháp [6, tr. Thời kỳ 1939 - 1945 là thời kỳ đấu tranh sôi động nhất của quân và dân Từ Sơn.

Phong trào cách mạng tương đối mạnh, lại ở vị trí thuận lợi, tiếp giáp với Thủ đô Hà Nội, trung tâm chính trị - kinh tế - văn hóa của cả nước, là chiếc cầu nối giữa vùng đồng bằng Bắc Bộ, thủ đô Hà Nội với các tỉnh trung du, miền núi phía Bắc tổ quốc cho nên được Trung ương Đảng và xứ ủy Bắc Kỳ chọn và trực tiếp chỉ đạo các cơ sở cách mạng chuyển vào hoạt động bí mật bất hợp pháp từ cuối năm 1939 như cơ sở cách mạng ở làng Đình Bảng, làng Phù Lưu, Cẩm Giang, Trang Liệt, Phù Khê, Tam Sơn [6, tr.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ