Chương 1 ĐẢNG BỘ HUYỆN VŨ THƯ LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG NGHIỆP TỪ NĂM 1996 ĐẾN NĂM 2000 1. Những yếu tố ảnh hưởng đến kinh tế nông nghiệp của huyện Vũ Thư và thực trạng kinh tế nông nghiệp huyện trước năm 1996 1. Đặc điểm tự nhiên và KT - XH Vũ Thư là một huyện nằm ở phía tây nam của tỉnh Thái Bình, được thành lập ngày 17-6-1969 theo Quyết định số 93/CP của Chính phủ, trên cơ sở sáp nhập 28 xã của huyện Thư Trì và 14 xã của huyện Vũ Tiên. Với vị trí nằm ở cửa ngõ của tỉnh, một phía giáp huyện Kiến Xương, ba phía còn lại được bao bọc bởi sông Hồng và sông Trà Lý với hơn 70 km đê.
Không chỉ có giao thông đường thủy thuận lợi, Vũ Thư còn có quốc lộ 10 chạy qua, là điều kiện thuận lợi cho việc tiếp xúc, giao lưu với nhiều địa bàn rộng lớn, nhất là hai trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa - Thành phố Thái Bình và Thành phố Nam Định. Vũ Thư có diện tích rộng 195 km2, là một trong số rất ít huyện ở miền Bắc không có đồi núi, địa hình chung tương đối bằng phẳng nhưng tiểu địa hình phức tạp cao thấp xen kẽ nhau, hầu hết đều theo nếp sóng và lòng chảo cục bộ. Cao trình mặt ruộng sản xuất so với mặt biển cao nhất là 3 m; trung bình 1,5 m; thấp nhất 0,4 m; ảnh hưởng không ít đến úng trong mưa, hạn cục bộ vụ đông xuân và địa bàn cơ giới hóa khâu làm đất. Nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, khí hậu mang tính đặc trưng của vùng là nóng ẩm với nhiệt độ trung bình trong năm là 23-240C.
Lượng mưa trung bình 1.900 mm, độ ẩm lớn 85-90% được phân làm 2 mùa rõ rệt: mùa mưa ít và mùa mưa (gần trùng với mùa lạnh và mùa nóng). Do nằm ở vị trí gần biển lại không có đồi núi nên khí hậu của huyện có sắc thái riêng hơi khác với đặc điểm chung của toàn vùng, khí hậu tương đối điều hòa ít phân theo lãnh thổ, các yếu tố bất thuận với nông nghiệp, đây là điều kiện thuận lợi cho thâm canh tăng vụ và gieo trồng quanh năm. Là huyện hầu hết được bao bọc bởi các con sông lớn 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com cộng với khí hậu nóng ẩm, lượng mưa nhiều nên Vũ Thư có nguồn nước tưới dồi dào, chất lượng nước có tác dụng tốt cho thâm canh cải tạo đất, khả năng tưới tiêu tự chảy trên diện rộng. Về đất nông nghiệp, màu mỡ phì nhiêu, có điều kiện và khả năng tạo nền thâm canh để đạt năng suất cây trồng cao và ổn định.
Đất làm nông nghiệp được phân bổ ở các ven sông nên được bồi hàng năm, đây là thế mạnh cơ bản trong việc phát triển nông nghiệp của huyện. Đất phù sa mới của hệ thống sông Hồng chiếm 95,5% diện tích đất canh tác, hàm lượng mùn đạm, lân tổng số từ trung bình đến giàu chiếm 55%, độ chua từ trung bình đến ít chua chiếm 63%, đất hạng 1 (rất tốt) và đất hạng 2 (tốt) chiếm 61%; đất hạng 3 (trung bình) chiếm 28%, đất hạng 4 (xấu) chiếm 11% so với tổng diện tích đất canh tác. Đây là điều kiện thuận lợi cho phát triển nông nghiệp, đất đai chủ yếu được bồi tụ do phù sa bởi 2 hệ thống sông Hồng và sông Trà Lý, tỷ lệ đất phèn và đất cát ít chỉ chiếm 6% nên không ảnh hưởng nhiều đến sản xuất. Dân cư đông đúc, với trên 223.000 người, nguồn nhân lực dồi dào, cần cù, chịu khó, có nhiều kinh nghiệm trong sản xuất thâm canh và ngành nghề truyền thống - đây là điều kiện cơ bản, là nguồn vốn to lớn trong phát triển sản xuất nông nghiệp.
Bên cạnh những thuận lợi căn bản trên, việc phát triển kinh tế nông nghiệp của huyện cũng gặp phải những khó khăn, phức tạp nhất định. Vì có nhiều sông lớn bao bọc, thời tiết thay đổi, mưa bão xảy ra thường xuyên gây ngập úng nghiêm trọng ảnh hưởng đến năng suất và sản lượng thóc cả năm. Sông ngòi tuy nhiều, nhưng quanh co, khúc khuỷu và bị bồi lắng. Mặt khác, việc tiêu nước, tưới nước chịu ảnh hưởng của nước thủy triều lên, xuống từng mùa.
Lượng mưa giữa các mùa trong năm chênh lệch nhau khá lớn. Trong một năm, thời kỳ mưa ít từ tháng 11 đến tháng 4 với lượng mưa trung bình chỉ chiếm từ 1/5 đến 1/6 cả năm; tháng 7, 8, 9 thường mưa lớn, có những trận mưa chỉ trong một vài ngày tới 300 - 400 mm. Thời gian mưa nhiều và có lượng mưa lớn 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com lại là thời gian nước thượng nguồn to đổ về, hoặc gặp bão, nước biển dâng cao, gây khó khăn cho việc tiêu nước. Sâu bệnh thường phát sinh, phát triển quanh năm, phá hoại mùa màng.
Do đất chật, người đông nên không có bãi chăn nuôi trâu bò sinh sản, sức kéo quá thiếu, chăn nuôi gia súc, gia cầm khó phát triển. Đảng bộ và nhân dân huyện Vũ Thư nhận thức rõ những đặc điểm của huyện mình, chủ động tìm ra những giải pháp nhằm tận dụng lợi thế để phát triển KT - XH nói chung và phát triển kinh tế nông nghiệp nói riêng. Tình hình kinh tế nông nghiệp huyện Vũ Thư trước năm 1996 và những yêu cầu đặt ra Từ năm 1986 đến năm 1990, trải qua 5 năm thực hiện đường lối đổi mới theo tinh thần Nghị quyết của Đảng, Đảng bộ và nhân dân Vũ Thư cũng như khắp mọi miền cả nước bước đầu đạt được những thành tựu chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội vô cùng quan trọng. Tuy vậy, đất nước ta vẫn chưa thoát khỏi khủng hoảng về kinh tế - xã hội.
Rất nhiều vấn đề đặt ra cần được giải quyết như: lao động không có việc làm, không ít cơ sở sản xuất kinh doanh còn đình đốn, thua lỗ, lạm phát đã giảm nhưng còn ở mức cao, đời sống một bộ phận nhân dân nhất là những người hưởng lương, hưởng trợ cấp xã hội còn gặp nhiều khó khăn… Trong khi đó tình hình trong nước và thế giới có nhiều diễn biến phức tạp, đặc biệt là sau khi Liên Xô sụp đổ. Các thế lực thù địch, cơ hội lợi dụng đưa ra nhiều chính sách mang tính chất mị dân, đòi đa nguyên chính trị, âm mưu xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và những thành tựu cách mạng của đất nước. Đáp ứng yêu cầu mới của lịch sử đặt ra, Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng Cộng sản Việt Nam đã tiến hành từ ngày 24 đến ngày 27-6-1991 tại Ba Đình, Hà Nội. Đại hội VII của Đảng có nhiệm vụ trọng đại không chỉ tổng kết rút ra những bài học kinh nghiệm trong việc thực hiện đường lối đổi mới từ Đại hội VI mà còn thông qua cương lĩnh vạch ra hệ thống những quan điểm và phương 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hướng cơ bản của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, thông qua chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội.
Thực hiện Chỉ thị số 59-CT/TW ngày 22-5-1990 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa VI), Thông tri số 01 ngày 16-7-1991 của Ban Bí thư Trung ương Đảng ( khóa VII) và Kế hoạch của Tỉnh ủy Thái Bình, Đại hội Đại biểu Đảng bộ huyện Vũ Thư khóa X được diễn ra vào ngày 27-3-1991. Trên mặt trận sản xuất nông nghiệp, Đại hội chỉ rõ: Kể từ khi thực hiện Nghị quyết số 10 của Bộ Chính trị, đã có bước phát triển tương đối khá ở cả trồng trọt và chăn nuôi. Người dân Vũ Thư từ chỗ thiếu ăn nay đã đủ ăn và không ít người có lương thực dự trữ. Nhưng bên cạnh đó, trong “Khoán 10” cũng đã và đang đặt ra nhiều vấn đề cần phải giải quyết, trong đó nổi lên hết sức nóng bỏng, gay gắt là vấn đề đất đai.
Chính vì vậy mà sau khi Thủ tướng Chính phủ có Quyết định số 292 về đo đạc, hoàn thiện hồ sơ hành chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, UBND tỉnh Thái Bình đã có quyết định số 16- QĐ/UB quy định về cấp và sử dụng đất vào việc xây dựng cơ bản và làm nhà ở của nhân dân. Về phương hướng cơ bản của sản xuất nông nghiệp trong những năm 1991-1995, Đại hội thống nhất: “Tiếp tục coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu, chú ý phát triển nông nghiệp toàn diện và chuyển mạnh sang sản xuất hàng hóa, lấy hiệu quả kinh tế - xã hội làm tiêu chuẩn để chỉ đạo sản xuất nông nghiệp. Kết hợp chặt chẽ việc phát triển nông nghiệp với việc giải quyết đồng bộ về vấn đề nông dân và nông thôn” [9, tr. Hướng trọng tâm là sản xuất lương thực, chú ý tăng cả sản lượng thóc và sản lượng màu bằng biện pháp thâm canh, luân canh mở rộng diện tích.
Tập trung khai thác thế mạnh về năng suất vụ xuân, nâng dần năng suất lúa mùa, phấn đấu năng suất cả năm ổn định ở mức 86-90 tạ/ha. Tiếp tục mở rộng diện tích vụ đông lên từ 40-50% diện tích canh tác. Tăng diện tích màu lương thực như ngô, khoai lang, khoai tây, chú trọng thâm canh 3 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com vụ ngô trong năm, mở rộng thêm diện tích ngô đông trên diện tích hai lúa, phấn đấu đến năm 1995 đạt sản lượng 15-17 ngàn tấn màu quy thóc, coi trọng nhu cầu thị trường và hiệu quả kinh tế của từng loại cây vụ đông để có hướng bố trí và khoanh vùng chuyển hướng nếu thấy hiệu quả hơn. Cây công nghiệp ổn định khoảng 2.700 ha, tùy theo hiệu quả trong từng thời kỳ để bố trí loại cây cho phù hợp.
Cần phát triển diện tích dâu, phát triển nghề nuôi tằm để có sản lượng kén từ 600-650 tấn/năm. Đẩy mạnh nuôi lợn, trâu bò, gia cầm và cá. Tập trung giải quyết có hiệu quả vấn đề con giống, thú y và thị trường tiêu thụ. Cũng giống như nhiều địa phương khác trong tỉnh, nông nghiệp của Vũ Thư luôn chịu tác động nặng nề bởi yếu tố thời tiết.
Vụ lúa chiêm xuân năm 1991 đã bị ảnh hưởng lớn. Vào vụ này, thời tiết bất thường hoàn toàn không thuận lợi cho cây lúa nên năng suất bình quân toàn huyện chỉ đạt 22,2 tạ/ha - mức thấp nhất trên 20 năm trở lại đây. Song, đến vụ mùa thời tiết khá thuận lợi với quyết tâm “lấy mùa bù chiêm” của Đảng bộ và nhân dân nên năng suất thu hoạch tương đối khá, đạt 50,8 tạ/ha. Do đó, tổng diện tích lúa cả năm gần 17.500 ha đã cho tổng sản lượng 64.139 tấn, thấp hơn năm 1990 là 9.