phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm 3 chương, 9 tiết: Chƣơng 1: Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, văn hóa. Chƣơng 2: Chủ trương và sự chỉ đạo phát triển kinh tế, thực hiện chính sách xã hội ở Từ Sơn. Chƣơng 3: Kết quả và một số kinh nghiệm. 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 KHÁI QUÁT ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI, VĂN HOÁ CỦA HUYỆN TỪ SƠN 1.
Điều kiện tự nhiên của huyện Từ Sơn Huyện Từ Sơn là một trong 8 huyện, thị, thành phố của tỉnh Bắc Ninh, nằm ở cửa ngõ phía bắc của thủ đô Hà Nội. Phía Bắc giáp huyện Yên Phong (có dòng sông Ngũ Huyện Khê làm ranh giới; phía Đông giáp huyện Tiên Du; phía Tây và Nam giáp các huyện Đông Anh, Gia Lâm (Hà Nội). Diện tích đất tự nhiên của huyện là 6140 ha, gồm 07 phường: Đình Bảng, Đông Ngàn, Đồng Nguyên, Đồng Kỵ, Châu Khê, Tân Hồng, Trang Hạ và 05 xã: Hương Mạc, Phù Chẩn, Phù Khê, Tam Sơn, Tương Giang Từ Sơn nằm trong vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng, được bồi đắp bởi phù sa của các con sông lớn: sông Hồng, sông Đuống…. Địa hình bằng phẳng, có dòng sông Ngũ Huyện Khê chảy qua vùng phía Tây và Bắc huyện.
Sông Ngũ Huyện Khê có lưu lượng nước vừa phải, rộng khoảng 100 - 150m, là nguồn cung cấp nước cho sản xuất nông nghiệp ở nhiều xã trong huyện. Từ Sơn có những ngọn núi thấp, tiêu biểu là núi Tiêu (còn có tên gọi là núi Bà Tiêu hay Tiêu Sơn). Từ Sơn thuộc vùng khí hậu nhiệt đới, chịu ảnh hưởng rõ rệt của gió mùa với 4 mùa: xuân, hạ, thu, đông; trong đó hai mùa chính là mùa mưa và mùa khô. Mùa mưa kéo dài từ tháng 4 đến tháng 10 (tập trung vào các tháng 7,8,9, chiếm 70% lượng mưa của cả năm.
Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau (trong đó tháng 1 và tháng 2 là thời kỳ mưa phùn ẩm ướt, cộng với giá rét kéo dài do ảnh hưởng của các đợt gió mùa đông bắc). Nhiệt độ trung bình năm 23,30C; độ ẩm trung bình năm 84%, lượng mưa trung bình 1.386,8mm/năm; hướng gió chủ đạo là gió Đông và Đông Bắc, mùa hạ có gió Nam và Đông Nam. Sự phân hoá khí hậu theo mùa đã tạo 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com điều kiện cho huyện phát triển một nền nông nghiệp phong phú, đa dạng về cây trồng, vật nuôi. Huyện Từ Sơn có sông Ngũ Huyện Khê là nhánh của sông Cầu, cách trung tâm huyện 1,5km về phía Tây Bắc, chảy qua khu vực phường Châu Khê, Trang Hạ, Đồng Kỵ, các xã Phù Khê, Hương Mạc.
Từ Sơn có hồ lớn (Loa Hồ - thường gọi là khu Đền Đầm) nằm ở khu vực phường Tân Hồng, rộng khoảng 25 ha. Ngoài ra trên địa bàn huyện còn có nhiều hồ, ao nhỏ nằm rải rác ở các xã trong huyện. Truyền thống văn hoá - lịch sử của huyện Từ Sơn Huyện Từ Sơn được hình thành từ rất sớm, được đánh giá là vùng đất có bề dày văn hoá và lịch sử. Từ thời đại Hùng Vương, vùng đất Từ Sơn đã có nhiều bộ tộc người Việt sinh sống dọc theo bờ sông Tiêu Tương (nay thuộc địa phận phường Đình Bảng, phường Đồng Nguyên, xã Tam Sơn, Tương Giang.
Dưới thời Hùng Vương, nước Văn Lang được chia thành 15 bộ, Từ Sơn nằm trong bộ Vũ Ninh; đời nhà Đường đô hộ, Từ Sơn thuộc địa phận của Long Châu; thời Lê Đại Hành (989 - 1005) gọi là Cổ Pháp, thời nhà Lý (1010 - 1225) đổi thành phủ Thiên Đức; thời Trần (1225 - 1400) được gọi là huyện Đông Ngàn, rồi huyện Từ Sơn. Thời Lê (1428 - 1788) phủ Từ Sơn được thành lập. Đến thời Hồng Đức, Từ Sơn thuộc trấn Kinh Bắc. Huyện Từ Sơn là một vùng quê có truyền thống Nho học và khoa bảng nổi tiếng trong tỉnh Bắc Ninh và cả nước.
Sách Bắc Ninh dƣ địa chí của Đỗ Trọng Vĩ ghi nhận: ở phủ Từ Sơn, từ xưa Đông Ngàn là đất văn hiến hơn cả. Nhưng trong đó bảy tổng Phù Lưu, Tam Sơn, Nghĩa Lập, Mẫn Xá, Dục Tú, Hội Phụ, Hạ Dương có nhiều nhất. Theo sách Thiền Nam lịch triều truyện đăng khoa của Phan Hòa Phủ có ghi chép về số người đỗ đại khoa, bắt đầu từ khoa thi đầu tiên năm 1075 (thời Lý) cho đến năm 1788 (thời Lê Trung Hưng), số người đỗ đại khoa ở xứ Kinh Bắc: 593, phủ Từ Sơn: 282, riêng huyện Đông Ngàn chiếm 138 người đỗ tiến 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com sỹ, trong đó có 4 người đỗ trạng nguyên: Nguyễn Quán Quang (Tam Sơn), Nguyễn Giản Thanh (Hương Mạc), Ngô Miễn Thiệu (Tam Sơn), Nguyễn Xuân Chính (Phù Chẩn). Từ lâu, Từ Sơn nổi tiếng với nhiều ngành nghề truyền thống.
Theo sách “Bắc Ninh phong thổ tạp ký” thì ở vùng Đông Ngàn - Từ Sơn thời kỳ trước cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã nổi tiếng với nhiều ngành nghề thủ công truyền thống, gắn liền với những địa danh như: Nghề thợ mộc, chạm khắc trên gỗ ở các xã Phù Khê, Hương Mạc, Đồng Quang, Tân Hồng; nghề thợ sơn, sơn mài, nhuộm thâm ở xã Đình Bảng, Tân Hồng; nghề rèn sắt ở Đa Hội (Châu Khê); nghề dệt vải, dệt lụa ở Tam Sơn, Tương Giang… Hầu hết các ngành nghề thủ công truyền thống trên gắn với các sản phẩm từ bao đời nay đã nổi tiếng cả nước. Trong đó, nghề mộc, chạm khắc gỗ xuất hiện trên đất Phù Khê có từ bao giờ, đến nay chưa có tài liệu để xác minh, nhưng qua một số công trình kiến trúc có giá trị do những người thợ ở Từ Sơn đặc biệt người Phù Khê làm còn để lại như chùa Tây Phương (Hà Tây - Hà Nội), chùa Bút Tháp (Thuận Thành), chùa Lim (Tiên Du) cho đến đình Diềm Xã, đình Đình Bảng. Có thể thấy nghề mộc - chạm khắc ở đây đã xuất hiện từ khá sớm, đặc biệt vào thời Hậu Lê (thế kỷ XVII - XVIII), làng nghề chạm khắc ở Phù Khê đã nổi tiếng khắp nơi và nó được phát triển sang nhiều địa phương khác quanh vùng như Đồng Kỵ, Hương Mạc, Tam Sơn… Sản phẩm của họ gắn bó từ những đồ gia dụng trong gia đình cho đến đồ thờ cúng, tạc tượng, đặc biệt là những công trình kiến trúc lớn như đình, chùa, miếu, phủ, lăng tẩm chạm khắc rồng, phượng lộng lẫy. Do cần cù, chịu khó, cộng với óc thẩm mỹ tinh tế và đôi bàn tay khéo léo, người dân các địa phương Phù Khê, Hương Mạc, Đồng Kỵ đã phát triển nghề mộc vớí nhiều loại hình như: hàng ngang (làm nhà cửa, đồ gia dụng); hàng chạm (hương án, long khám, long châu, hoành phi, câu đối, tủ, xa lông, tủ chè…).
Ở loại hình nào, người Phù Khê, Hương Mạc, Đồng Kỵ cũng cho ra đời những sản 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com phẩm đạt đến trình độ khéo léo, tinh xảo và thẩm mỹ cao. Nghề mộc, nghề rèn sắt chủ yếu ở Đa Hội (Châu Khê) cũng khá phát triển. Nghề này chuyên cung cấp công cụ lao động và sinh hoạt cho cả một vùng. Không những thế, các sản phẩm của các ngành nghề trên rất được ưa chuộng và được bán ra khắp các thị trường trong huyện, trong tỉnh và trong cả nước, thậm chí xuất khẩu sang một số nước lân cận.
Hiện nay, do nhu cầu của thị trường, các nghề sản xuất này ngày một phát triển. Ngoài ra một số nghề khác như nghề dệt vải, sản xuất gạch ngói… cũng được người dân duy trì và phát triển. Bên cạnh đó, người dân Từ Sơn còn mạnh dạn đầu tư, mở mang thêm một số ngành nghề mới như: sơn mài, làm ghế mây, mành trúc, thảm, tre nan… phục vụ cho việc tiêu dùng và xuất khẩu. Các nghề trên ra đời không chỉ tạo công ăn việc làm mà đã trở thành những nghề sản xuất mang lại thu nhập chính của người dân địa phương, đồng thời nó còn được phát triển rộng rãi sang các vùng lân cận.
Vào những năm đầu của thế kỷ XX, Từ Sơn là một trong những địa phương đã nhạy bén tiếp thu đường lối cách mạng mới do đồng chí Nguyễn Ái Quốc truyền bá thông qua Hội Việt Nam cách mạng thanh niên. Các hội viên ở Từ Sơn đã tích cực hoạt động, nhanh chóng xây dựng cơ sở cách mạng đầu tiên. Chi hội Việt Nam cách mạng Thanh niên được thành lập tại làng Tam Sơn, huyện Từ Sơn là chi hội đầu tiên của tỉnh Bắc Ninh. Đây là “chi hội thử nghiệm” của Ngô Gia Tự về công tác tuyên truyền, vận động các trí thức yêu nước ở nông thôn đi theo con đường cách mạng vô sản.
Từ thành công này, các chi hội đã được phát triển rộng trên địa bàn huyện Từ Sơn và tỉnh Bắc Ninh. Đến tháng 6 - 1927, tỉnh Bắc Ninh có 6 chi hội gồm khoảng 40 hội viên. Tổ chức Hội Việt Nam cách mạng thanh niên tiếp tục phát triển ở huyện Từ Sơn và tỉnh Bắc Ninh. Thời kỳ cách mạng 1930 - 1931 và 1936 - 1939, ở Từ Sơn, các làng Phù Lưu, Cẩm Giang, Trang Liệt… cũng có các tổ chức phường, hội với hàng trăm quần chúng tham gia, có phong trào đọc sách báo 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tiến bộ, phong trào truyền bá chữ quốc ngữ.
Tiêu biểu cho các phong trào này có Đình Bảng, Phù Lưu… Thông qua các hoạt động của Hội Việt Nam cách mạng thanh niên, nhân dân Từ Sơn sớm giác ngộ cách mạng, phát huy nhiệt tình yêu nước. Nhiều quần chúng ở hàng chục làng xóm, phố phường đã tham gia đấu tranh chống thực dân, phát xít, chống phản động thuộc địa, giành quyền dân sinh, dân chủ, đòi tự do, cơm áo, hòa bình. Các tổ chức ái hữu, nghiệp đoàn, hội quần chúng hoạt động công khai hợp pháp [6, tr. Thời kỳ 1939 - 1945 là thời kỳ đấu tranh sôi động nhất của quân và dân Từ Sơn.
Phong trào cách mạng tương đối mạnh, lại ở vị trí thuận lợi, tiếp giáp với Thủ đô Hà Nội, trung tâm chính trị - kinh tế - văn hóa của cả nước, là chiếc cầu nối giữa vùng đồng bằng Bắc Bộ, thủ đô Hà Nội với các tỉnh trung du, miền núi phía Bắc tổ quốc cho nên được Trung ương Đảng và xứ ủy Bắc Kỳ chọn và trực tiếp chỉ đạo các cơ sở cách mạng chuyển vào hoạt động bí mật bất hợp pháp từ cuối năm 1939 như cơ sở cách mạng ở làng Đình Bảng, làng Phù Lưu, Cẩm Giang, Trang Liệt, Phù Khê, Tam Sơn [6, tr.