Chương 1 ĐẢNG BỘ TỈNH BẮC NINH LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN KHU CÔNG NGHIỆP TỪ NĂM 2000 ĐẾN NĂM 2005 1. Yêu cầu khách quan phát triển khu công nghiệp ở tỉnh Bắc Ninh từ năm 2000 đến năm 2005 1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò khu công nghiệp * Khái niệm khu công nghiệp Cuộc cách mạng công nghiệp bùng nổ vào thế kỷ XVIII tại Anh đã tạo ra một bước chuyển biến mới trong nền kinh tế và lao động máy móc đã thay thế lao động chân tay. Với sự bùng nổ của cuộc cách mạng công nghiệp, các KCN đã được hình thành và phát triển ở các nước tư bản vào những năm cuối của thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX.
Các KCN đầu tiên được thành lập ở Manchester (Anh) vào năm 1896, ở Ý thành lập KCN Napoli vào năm 1940. Cho đến nay KCN đã xuất hiện ở hầu hết các nước trên thế giới và ở cả Việt Nam. Về khái niệm KCN trên thế giới đã có nhiều khái niệm khác nhau. Ở mỗi khu vực, mỗi quốc gia đều có khái niệm riêng về KCN, khu chế xuất của mình: Ở Thái Lan cho rằng KCN tương tự như một thành phố công nghiệp, một cộng đồng hoàn chỉnh.
Mỗi KCN được quy hoạch đầy đủ các tiện nghi đa dạng, hệ thống nước thải, hệ thống kết cấu hạ tầng hoàn hảo, thương mại, thông tin liên lạc, bệnh viện, trường học và khu chung cư dành cho công nhân. Tổ chức phát triển công nghiệp liên hợp quốc (UNIDO) quan niệm: Khu chế xuất là khu vực được giới hạn về hành chính, có khi về địa lý, được hưởng một chế độ thuế quan cho phép tự do nhập trang thiết bị và sản phẩm nhằm mục đích sản xuất sản phẩm xuất khẩu, chế độ thuế quan được ban 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hành cùng với những quy định luật pháp ưu đãi, chủ yếu về thuế nhằm thu hút đầu tư nước ngoài. Còn ở Việt Nam, KCN được đề cập đến từ khi miền Bắc xây dựng khu gang thép Thái Nguyên, miền Nam khi Mỹ nguỵ xây dựng KCN Biên Hoà. Quy chế KCN, khu chế xuất, KCNC ban hành kèm theo Nghị định số 36/CP ngày 24 – 4 - 1997 của Chính phủ xác định khái niệm về KCN: KCN là khu tập trung các doanh nghiệp công nghiệp chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống, do Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập.
Trong KCN có thể có các doanh nghiệp chế xuất.[10] Tuỳ theo mục đích, tính chất có thể phân chia KCN thành các loại hình cơ bản: Khu chế xuất là KCN tập trung các doanh nghiệp chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, thực hiện các dịch vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu, có ranh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống; do Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập. Khu chế xuất là một loại hình khá thích hợp với những quốc gia mới thực hiện nền kinh tế mở cửa như Việt Nam. Nó là cầu nối nền kinh tế trong nước với nền kinh tế thế giới, là vùng đệm có tác dụng thúc đẩy nền kinh tế phát triển. KCNC thường được xây dựng trên cơ sở viện nghiên cứu khoa học, trường đại học lớn, hệ thống các công xưởng và khu thử nghiệm hỗ trợ.
KCNC có vai trò to lớn, phát triển công nghệ kỹ thuật cao, thu hút công nghệ cao của nước ngoài, chuyển giao công nghệ cao và nâng cao năng lực nội sinh của các ngành công nghệ cao trong nước. Mục tiêu phát triển của các KCNC thường 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hướng tới các ngành công nghiệp mũi nhọn: điện tử, sản xuất phần mềm, công nghệ sinh học, vi điện tử… KCN thông thường là một khu vực lãnh thổ giới hạn, được chuẩn bị chu đáo về kết cấu hạ tầng, trong đó tập trung các doanh nghiệp chuyên sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống. Đặc khu kinh tế có đặc điểm là tổng hợp tất cả các hoạt động sản xuất kinh doanh toàn diện, công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ, du lịch, tài chính, ngân hàng, nghiên cứu và ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ trong một vùng lãnh thổ riêng biệt, có diện tích lớn hơn nhiều so với KCN thông thường và khu chế xuất. Đặc khu kinh tế đóng vai trò là cửa ngõ giao lưu KT- XH của nước chủ nhà với thế giới bên ngoài.
Theo Thạc sỹ Vũ Đức Quyết - Trưởng ban BQL các KCN Bắc Ninh đã đưa ra quan niệm về KCN dựa trên hoạt động thực tiễn tại các KCN Bắc Ninh: KCN là một tổ chức không gian KT - XH được xác định bởi những giới hạn nhất định, trong đó có những điều kiện thuận lợi về hạ tầng (gồm hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội), cơ chế chính sách và cơ chế quản lý nhằm tạo ra lợi thế thu hút đầu tư phát triển các doanh nghiệp sản xuất hàng công nghiệp, các hoạt động kinh doanh dịch vụ và nghiên cứu chuyển giao đạt hiệu quả cao.8] Dù theo hình thức nào, KCN đều là một khu vực có ranh giới địa lý xác định, có những thuận lợi về tự nhiên, xây dựng kết cấu hạ tầng về xã hội và nhân văn để thu hút, tập trung các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp và dịch vụ, hoạt động theo một phương thức quản lý và được áp dụng những cơ chế, chính sách ưu đãi nhất định nhằm đạt hiệu quả kinh tế cao. * Đặc điểm khu công nghiệp 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Từ năm 1986 đến nay, các KCN được xây dựng theo quy định thống nhất trên toàn quốc. Là khu vực tập trung các doanh nghiệp công nghiệp, có ranh giới xác định, sử dụng chung kết cấu hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội. Các doanh nghiệp trong KCN được hưởng một số quy chế ưu đãi riêng của Nhà nước và địa phương, có BQL thực hiện quản lý nhà nước thống nhất theo Nghị định 36/CP.
KCN có môi trường đầu tư thông thoáng hơn các vùng khác. KCN được Nhà nước dành cho những ưu đãi trong chính sách thuế, tài chính, thủ tục hải quan, hành chính, giá thuê đất…Các KCN chủ yếu là hoạt động kinh tế hướng ngoại, bao gồm sản xuất công nghiệp, chế biến phục vụ sản xuất, hoạt động xuất khẩu và kinh doanh dịch vụ. Các KCN thường nằm ở vị trí thuận lợi về giao thông, có điều kiện phát triển sản xuất thương mại. KCN là khu vực tập trung tương đối nhiều xí nghiệp công nghiệp trong một khu vực có ranh giới rõ ràng, có hàng rào ngăn cách với xung quanh.
Hầu hết các doanh nghiệp KCN Việt Nam được hình thành trong thời kỳ đổi mới cơ chế quản lý nền kinh tế từ bao cấp sang cơ chế thị trường có sự định hướng và quản lý của Nhà nước và ngày càng tiến sâu vào hội nhập khu vực, quốc tế nên các KCN được xây dựng ngày càng hoàn chỉnh hơn. Chất lượng công trình hạ tầng ngày một cao. Các KCN đang được hoàn chỉnh nhằm đáp ứng đa dạng nhu cầu đầu tư trong nước và nước ngoài, thích ứng các loại hình công nghệ sản xuất. * Vai trò khu công nghiệp Xây dựng phát triển KCN ở Việt Nam là một giải pháp nhằm sử dụng và phát huy vai trò, tác dụng to lớn của hình thức kinh tế tư bản chủ nghĩa nhà nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội từ một nước có nền kinh tế chậm phát triển.
Lênin coi chủ nghĩa tư bản nhà nước là một mắt xích trung gian giữa sản xuất nhỏ và chủ nghĩa xã hội “Phải biết nghĩ đến những mắt 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com xích trung gian có thể tạo điều kiện thuận lợi cho bước chuyển từ chế độ gia trưởng, từ nền tiểu sản xuất lên chủ nghĩa xã hội”[39, tr. Phát triển kinh tế tư bản nhà nước sẽ giúp chúng ta hình thành một hệ thống kiểm kê kiểm soát toàn bộ nền kinh tế quốc dân “Hiện nay, thực hiện chủ nghĩa tư bản nhà nước có nghĩa là thực hiện chế độ kiểm kê kiểm soát mà trước đây các giai cấp tư bản đã thực hiện”[40, tr. Nó tạo cơ sở cho việc đẩy lùi và ngăn chặn những tiêu cực trong các cơ sở kinh tế nhất là kinh tế nhà nước. Trong khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, kinh tế tư bản nhà nước không chỉ đem lại nguồn vốn, chuyển giao công nghệ, mà thậm chí còn quan trọng hơn là đem vào cách quản lý kinh tế thị trường hiện đại.
Sử dụng hình thức kinh tế tư bản nhà nước chẳng những chúng ta thu hút được tư bản nước ngoài, mà còn thu hút được tư bản trong nước bằng cách cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước, hùn vốn liên doanh và qua đó thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, ở Việt Nam phải xây dựng “…nền kinh tế xã hội chủ nghĩa với công nghiệp và nông nghiệp hiện đại, khoa học và kỹ thuật tiên tiến”[44, tr. Thực hiện mục tiêu đó ta phải tiến hành công nghiệp hoá là một yêu cầu khách quan. Người còn chỉ rõ: “Muốn cho chủ nghĩa cộng sản thực hiện được, cần phải có kỹ nghệ…”[41, tr.
Người cũng khẳng định những điều kiện ấy chúng ta vẫn chưa có đủ. Do vậy, Việt Nam phải phát triển khoa học - công nghệ, tận dụng những thành tựu khoa học của các nước tiên tiến, hợp tác giao lưu với các nước phát triển trên thế giới. Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Nước Việt Nam sẵn sàng thực thi chính sách mở cửa và hợp tác trong mọi lĩnh vực: a) Nước Việt Nam dành sự tiếp nhận thuận lợi cho đầu tư của các nhà tư bản, nhà kỹ thuật nước ngoài trong tất cả các ngành kỹ nghệ của mình. b) Nước Việt Nam sẵn sàng mở rộng các cảng, sân bay, đường xá giao thông cho việc buôn bán và quá cảnh quốc tế.470] 19 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Hồ Chí Minh luôn bày tỏ quan điểm mong muốn được hợp tác với các nhà tư bản nước ngoài trên tinh thần bình đẳng, hai bên cùng có lợi, vừa xây dựng mối quan hệ hữu nghị, vừa tranh thủ sự giúp đỡ của họ để phát triển kinh tế: “Chúng tôi bao giờ cũng mong muốn kiến thiết lại nước chúng tôi với sự giúp đỡ của tư bản và các nhà chuyên môn Pháp để mưu lợi ích chung cho cả hai dân tộc [43, tr.
Muốn vậy chúng ta phải xây dựng các KCN, tạo môi trường thông thoáng nhằm thu hút các nhà tư bản bỏ vốn đầu tư vào Việt Nam.