phần mở đầu, kết luận, danh mục các tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm 3 chƣơng (6 tiết). NỘI DUNG CỦA LUẬN VĂN CHƢƠNG 1: ĐẢNG BỘ TỈNH BẮC GIANG LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2005. CHƢƠNG 2: CÔNG NGHIỆP BẮC GIANG PHÁT TRIỂN DƢỚI SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH TỪ NĂM 2006 ĐẾN NĂM 2010. CHƢƠNG 3: NHẬN XÉT VÀ MỘT SỐ KINH NGHIỆM.
8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1: ĐẢNG BỘ TỈNH BẮC GIANG LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2005 1. Những điều kiện ảnh hƣởng đến phát triển công nghiệp tỉnh 1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, truyền thống lịch sử Bắc Giang là 1 tỉnh nằm trong vùng trung du miền núi phía Bắc, nằm giữa 2108 và 21038 vĩ độ Bắc, 105050 và 10703 kinh độ Đông. Phía Bắc và Đông Bắc giáp với tỉnh Lạng Sơn, phía Tây và Tây Bắc giáp Hà Nội, Thái Nguyên, phía Nam và Đông Nam giáp tỉnh Bắc Ninh, Hải Dƣơng và Quảng Ninh.
Bắc Giang có diện tích tự nhiên là 3. Dân số năm 2010 là 1.557 ngƣời [12,Tr.26] với 26 dân tộc anh em sinh sống, trong đó đồng bào dân tộc ít ngƣời chiếm 12,4% dân số của tỉnh. Về tổ chức hành chính, toàn tỉnh có 09 huyện (huyện Yên Thế, Tân Yên, Việt Yên, Hiệp Hoà, Yên Dũng, Lạng Giang, Lục Ngạn, Lục Nam) và 01 thành phố (thành phố Bắc Giang) [38, Tr. Vị trí địa lý của Tỉnh tƣơng đối thuận lợi.
Trung tâm tỉnh chỉ cách Hà Nội 50 km, cách cửa khẩu quốc tế Đồng Đăng 110 km, cách sân bay Quốc tế Nội Bài 60 km, cách cảng nƣớc sâu Cái Lân 70 km và cách cảng Hải Phòng 140km; nằm cận kề khu vực tam giác kinh tế trọng điểm Hà Nội-Hải Phòng-Quảng Ninh có hệ thống giao thông thuận tiện cho giao lƣu kinh tế. Hơn nữa Bắc Giang còn nằm trên trục đƣờng xuyên Á, hành lang kinh tế Nam Ninh - Lạng Sơn - Hà Nội - Hải Phòng và gần hành lang Côn Minh - Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng. Những yếu tố trên tạo thuận lợi cho việc mở rộng giao lƣu kinh tế, thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội nói chung và phát triển công nghiệp nói riêng của tỉnh Bắc Giang trong tƣơng lai. Về tự nhiên, diện tích của Bắc Giang có 70% là đồi núi, trong đó vùng núi cao chiếm diện tích nhỏ, đa phần Bắc Giang là vùng đồi núi thấp, thuận lợi cho trồng cây ăn quả và phát triển các cây công nghiệp.
Ngoài diện tích trồng cây lƣơng thực, Bắc Giang còn là tỉnh có trang trại phát triển mạnh, đã hình thành vùng cây ăn 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com quả tập trung lớn nhất miền Bắc, có ngành chăn nuôi phát triển, có tài nguyên rừng phong phú, có nhiều loại khoáng sản… thuận lợi cho ngành công nghiệp khai khoáng, chế biến nông lâm sản, thực phẩm phát triển. Bắc Giang có khí hậu nhiệt đới gió mùa. Nhìn chung, khí hậu Bắc Giang tƣơng đối thuận lợi cho việc phát triển một hệ sinh thái đa dạng và bền vững, thuận lợi cho phát triển ngành nông lâm nghiệp đa dạng với nhiều loại cây trồng, vật nuôi, là nguồn nguyên liệu phục vụ cho ngành công nghiệp chế biến nông, lâm sản và thực phẩm. Bắc Giang là tỉnh nằm trọn trong lƣu vực của hệ thống sông Thái Bình.
Toàn tỉnh có 3 con sông lớn chảy qua là sông Cầu, sông Thƣơng và sông Lục Nam. Ba sông trên chảy hết địa phận tỉnh Bắc Giang hợp lại thành sông Thái Bình. Đất đai của Bắc Giang đa dạng, gồm 2 nhóm đất chính là nhóm đất hình thành do hoang hoá từ đá mẹ và nhóm đất bồi tụ. Đất đai Bắc Giang chỉ có khoảng 1/3 là tƣơng đối màu mỡ, còn lại là đất trung bình, đất xấu và nghèo dinh dƣỡng.
Khoáng sản Bắc Giang đa dạng, nhƣng trữ lƣợng nhỏ, đủ khả năng phát triển công nghiệp địa phƣơng. Đặc biệt Bắc Giang có tiềm năng lớn về khoáng sản sét sử dụng làm gạch ngói và sét làm gạch chịu lửa, với 16 mỏ và điểm mỏ có tổng trữ lƣợng khoảng 350 triệu m3) [44, Tr. Hệ động thực vật Bắc Giang đa dạng, đan xen cả các loài nhiệt đới, á nhiệt đới và ôn đới. Khí hậu, đất đai cho phép trồng các loài rau màu phục vụ trong nƣớc và xuất khẩu.
Về nguồn nhân lực, Bắc Giang có lƣợng lao động khá dồi dào. Số lao động trong độ tuổi năm 2010 là 1.019,4 nghìn ngƣời, chiếm 65% tổng dân số. Số lao động đang tham gia hoạt động kinh tế là 973,9 nghìn ngƣời chiếm 62,1% dân số. Số lao động trong độ tuổi ở khu vực thành thị có 105,2 nghìn ngƣời chiếm 8,6 %; ở khu vực nông thôn có 1.111,3 nghìn ngƣời, chiếm 91,4% tổng số lao động trong độ tuổi.
Số lao động trung bình tăng thêm hàng năm khoảng 25.000 ngƣời [39, Tr. 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Tuy nhiên, chất lƣợng lao động chƣa cao. Trên địa bàn tỉnh còn diễn ra tình trạng lao động theo trình độ đào tạo nhiều bất cập về cơ cấu, chủ yếu là đào tạo ngắn hạn, trình độ sơ cấp và lao động đơn giản. Ngƣời lao động đƣợc đào tạo ở trình độ này chƣa đáp ứng đƣợc nhu cầu phát triển sản xuất và dịch vụ.
Các cơ sở dạy nghề chƣa đáp ứng đƣợc nhu cầu lao động theo trình độ so với trình độ công nghệ. Số học sinh thi đỗ vào các trƣờng cao đẳng, đại học rất cao nhƣng số học sinh tốt nghiệp đại học, cao đẳng ra trƣờng trở về làm việc tại Bắc Giang rất ít. Đây là một bài toán về thu hút, sử dụng nguồn nhân lực của tỉnh. Nếu tăng cƣờng công tác đào tạo và có chính sách hợp lý thu hút nguồn nhân lực chất lƣợng cao sẽ là một lợi thế cho phát triển kinh tế xã hội nói chung và công nghiệp của tỉnh nói riêng trong tƣơng lai.
Về tình hình kinh tế - xã hội trước năm 2001, Bắc Giang đƣợc tái lập (năm 1997) với điểm xuất phát kinh tế thấp, GDP bình quân đầu ngƣời 170 USD/năm, nền kinh tế thuần nông, cơ cấu kinh tế lạc hậu, tỷ trọng nông, lâm nghiệp chiếm 55%, công nghiệp còn nhỏ bé; cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội yếu kém; lao động trong nông nghiệp chiếm tới gần 90%, tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo lớn. Sau 4 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XIV, kinh tế Bắc Giang đã có bƣớc phát triển khá; cơ cấu sản xuất chuyển biến tích cực, tỷ trọng sản xuất nông nghiệp giảm dần, tỷ trọng sản xuất công nghiệp tăng lên. Giá trị tổng sản phẩm trong tỉnh (GDP) thời kỳ 1997 - 2000 tăng bình quân hàng năm 6,9%; trong đó nông nghiệp tăng 7,2%, công nghiệp - xây dựng cơ bản 3,8%, dịch vụ 6,3%. GDP bình quân đầu ngƣời năm 2000 đạt 208 USD [52, Tr.
Sự chuyển biến trong kinh tế - xã hội của tỉnh Bắc Giang sau tái lập còn nhỏ bé nhƣng có bƣớc phát triển, đƣợc Đảng bộ tỉnh Bắc Giang đánh giá là “đạt một số kết quả nổi bật”: Nền kinh tế của tỉnh tiếp tục phát triển, nhất là trong lĩnh vực nông lâm nghiệp…; cơ sở vật chất kỹ thuật đƣợc chú trọng đầu tƣ phát triển khá (Tổng vốn đầu tƣ xây dựng cơ bản trên địa bàn tỉnh giai đoạn 1997 - 2000 đạt trên 2.400 tỷ đồng) [52, Tr.4] ; đời sống nhân dân ổn định, một bộ phận cải thiện rõ; sự nghiệp giáo dục, văn hóa và một số lĩnh vực khác về xã hội có chuyển biến tiến bộ (đến năm 2000, toàn tỉnh đã hoàn thành nhiệm vụ phổ cập giáo dục tiểu học - chống 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com mù chữ: 99,6% ngƣời trong độ tuổi từ 15 - 35 đạt tiêu chuẩn xóa mù chữ) [52, Tr.6]; chính trị ổn định, an ninh quốc phòng và trật tự an toàn xã hội giữ vững; hệ thống chính trị ngày càng củng cố, vai trò và hiệu lực lãnh đạo, quản lý của các cấp ủy Đảng, chính quyền, các đoàn thể nhân dân tiếp tục tăng cƣờng; quyền làm chủ của nhân dân ở cơ sở ngày càng đƣợc phát huy. Những kết quả đó đã tạo cơ sở và tiền đề cho sự phát triển trong giai đoạn tới [52, Tr. Về truyền thống lịch sử, Bắc Giang cũng là vùng đất có lịch sử văn hóa lâu đời, in đậm truyền thống văn hiến, yêu nƣớc và cách mạng của dân tộc Việt Nam. Trong lịch sử dựng nƣớc và giữ nƣớc, địa danh Bắc Giang gắn liền với những chiến công vang dội mãi mãi đi vào lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc nhƣ Xƣơng Giang, Cần Trạm, Yên Thế… Với địa lý thuận lợi, cùng với con ngƣời Bắc Giang có truyền thống yêu nƣớc, cần cù, sáng tạo trong lao động sản xuất, anh dũng kiên cƣờng trong các cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, trong công cuộc đổi mới và hội nhập, Bắc Giang đang từng bƣớc vƣơn lên, phấn đấu tạo nên nhiều chuyển biến tích cực làm thay đổi diện mạo kinh tế - xã hội.
Tình hình phát triển công nghiệp tỉnh trƣớc năm 2001 Về tốc độ phát triển ngành công nghiệp: Sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn còn khó khăn, một số cơ sở công nghiệp Trung ƣơng vẫn trong tình trạng sản xuất kinh doanh giảm sút; song, CN - TTCN địa phƣơng vẫn có mức tăng trƣởng khá. Tốc độ tăng bình quân hàng năm của công nghiệp địa phƣơng giai đoạn 1997 - 2000 là 9,2%; trong đó công nghiệp quốc doanh tăng 24,3%, công nghiệp ngoài quốc doanh tăng 7,1%. Một số sản phẩm của công nghiệp quốc doanh địa phƣơng nhƣ: bao bì nhựa, may mặc, bia hơi. tăng khá, đƣợc thị trƣờng chấp nhận [52, Tr.
Kinh tế nhà nƣớc đƣợc quan tâm tổ chức sắp xếp lại, gắn với đổi mới công tác quản lý sản xuất kinh doanh. Tỉnh đã đề ra các biện pháp tháo gỡ khó khăn cho một số doanh nghiệp công nghiệp quốc doanh địa phƣơng, thành lập mới Công ty May xuất khẩu của tỉnh; tích cực tạo điều kiện để Trung ƣơng khởi công xây dựng 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nhà máy chế biến nông sản xuất khẩu, dự án cải tạo kỹ thuật Nhà máy Phân đạm và Hóa chất Hà Bắc tại Bắc Giang, mở rộng cơ sở chế biến nông sản xuất khẩu tại huyện Lục Ngạn. Một số doanh nghiệp nhà nƣớc bƣớc đầu thích ứng với cơ chế thị trƣờng, sản xuất kinh doanh có hiệu quả. Đã triển khai thực hiện Luật doanh nghiệp, tiến hành cổ phần hóa 5 doanh nghiệp và chuyển đổi hình thức sở hữu 6 doanh nghiệp nhà nƣớc khác, các doanh nghiệp sau khi thực hiện cổ phần hóa, sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả khá.