phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương, 8 tiết. Chƣơng 1: Vài nét về văn hóa của tỉnh Hà Tây thời kỳ trước khi tái lập tỉnh năm 1991. Chƣơng 2: Quá trình Đảng bộ tỉnh Hà Tây lãnh đạo xây dựng phát triển văn hóa trên địa bàn tỉnh thời kỳ 1991-2006. Chƣơng 3: Kết quả và một số bài học kinh nghiệm lãnh đạo xây dựng và phát triển văn hóa của Đảng bộ tỉnh Hà Tây.
6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 VÀI NÉT VỀ VĂN HÓA CỦA TỈNH HÀ TÂY THỜI KỲ TRƢỚC KHI TÁI LẬP TỈNH NĂM 1991 1. Điều kiện tự nhiên và xã hội 1. Địa giới hành chính và điều kiện tự nhiên Tỉnh Hà Tây được thành lập ngày 1/7/1965 theo Nghị quyết số 103/NQ-TVQH ngày 21/4/1965 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội trên cơ sở hợp nhất tỉnh Hà Đông và tỉnh Sơn Tây. Đến năm 1976 sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, tại kỳ họp thứ IV, Quốc hội khóa VI đã quyết định sát nhập tỉnh Hà Tây với tỉnh Hoà Bình thành tỉnh Hà Sơn Bình.
Năm 1979 chuyển 5 huyện: Ba Vì, Phú Thọ, Thạch Thất, Hoài Đức và Thị xã Sơn Tây sát nhập vào Hà Nội [46, tr. Ngày 12/8/1991 tại kỳ họp thứ 9 Quốc hội khóa VIII quyết định chia tỉnh Hà Sơn Bình thành 2 tỉnh Hà Tây và tỉnh Hoà Bình, định lại ranh giới của Hà Nội, chuyển trả lại cho Hà Tây các huyện Ba Vì, Phúc Thọ, Thạch Thất, Đan Phượng, Hoài Đức và Thị xã Sơn Tây [46, tr. Như vậy có thể nói rằng sau 26 năm, với 3 lần hợp nhất, chia tách và tái hợp nhất tỉnh Hà Tây mới tạm ổn định, điều này có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình phát triển của tỉnh. Những vấn đề về kinh tế, xã hội và văn hóa cũng vì thế mà có những thay đổi nhất định, trong đó đáng quan tâm là sự biến dạng của một số giá trị văn hóa truyền thống để phù hợp với sự thay đổi của việc sắp xếp, điều chỉnh địa giới hành chính.
Tính đến đầu năm 2005, sau một vài điều chỉnh về địa giới hành chính trong nội bộ các địa phương trong tỉnh theo Nghị quyết Hội đồng Nhân dân tỉnh khóa XIV (kỳ họp thứ III năm 2005), tỉnh Hà Tây có diện tích là 2.191,6 km2, dân số hơn 2,5 triệu người, mật độ dân số bình quân 1.141 người/km2 nơi cao nhất 4.148 người/km2 (Hà Đông), thấp nhất 602 người/km2 (Ba Vì). 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Về đơn vị hành chính, Hà Tây gồm 2 thị xã là Hà Đông, Sơn Tây; 12 huyện là các huyện Ba Vì, Phúc Thọ, Đan Phượng, Hoài Đức, Quốc Oai, Thạch Thất, Chương Mỹ, Thanh Oai, Thường Tín, Phú Xuyên, Ứng Hòa, Mỹ Đức; gồm 295 xã, 27 phường, thị trấn [46, tr. Hà Tây nằm ở rìa Tây của đồng bằng Bắc Bộ phía đầu bên phải của võng Sông Hồng. Địa hình tỉnh Hà Tây gồm 3 vùng chủ yếu.
Vùng núi Ba Vì có diện tích khoảng 7000 ha. Đỉnh cao nhất của núi Ba Vì cao trên 1280m, ngọn thấp nhất trên 700m. Đây là vùng sinh thái khá hoàn chỉnh. Tính độ cao từ 400m trở lên, khí hậu giống như vùng ôn đới, nhưng lại có độ ẩm cao do ảnh hưởng của dòng sông Đà và không khí ấm từ biển Đông thổi vào, vì thế cây cối quanh năm xanh tốt.
Mặt khác, do kiến tạo địa chất, ở vùng núi Ba Vì có rất nhiều khe, thác thu hút đông đảo cư dân đến sinh sống. Độ cao từ 100 m trở xuống là địa bàn sinh sống của người Mường, người Dao và người Kinh thuộc các xã Khánh Thượng, Ba Vì, Minh Quang, Ba Trại, Tản Lĩnh, Sơn Đà, Vân Hòa. Vùng núi đá vôi và đất đồi gò: Do đặc điểm về kiến tạo địa chất nên ngay giữa vùng đồng bằng một số huyện trong tỉnh, cũng có nhiều nơi có núi đá, núi đất đó là một phần diện tích của huyện Thạch Thất, Quốc Oai, Chương Mỹ. Mặt khác, ở phía Tây của tỉnh, do được che chắn bởi dãy núi đá vôi, kéo dài từ Miếu Môn đến Hương Sơn, nên các huyện Mỹ Đức, Ứng Hoà cũng có nhiều nơi thuộc địa hình miền núi đá vôi.
Do quá trình xâm thực, bào mòn của tự nhiên nên ở những vùng này có rất nhiều hang động kỳ thú, đặc biệt nổi tiếng là động Hương Tích thuộc xã Hương Sơn huyện Mỹ Đức. Dưới chân núi Ba Vì, đặc biệt phần sườn Đông, sườn Tây trải rộng từ các xã Thuần Mỹ, Thuỵ An, Cam Thượng (Ba Vì) cho đến các xã Xuân Sơn, Kim Sơn, phường Xuân Khánh, xã Trung Sơn Trần, khu Đồng Mô - Hòa Lạc (thuộc thị xã Sơn Tây), các xã Hòa Thạch, Thạch Hòa, một phần huyện Chương Mỹ, Mỹ Đức là vùng đất đồi gò rộng lớn - diện tích khoảng trên 38. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Vùng đồng bằng phía Đông của tỉnh rộng gần 170.000 ha (chiếm 65% diện tích đất tự nhiên của tỉnh), có địa hình nghiêng từ Tây sang Đông và từ Bắc xuống Nam, trải rộng trên địa bàn các huyện Đan Phượng, Hoài Đức, một phần của huyện Ba Vì, Phúc Thọ, Quốc Oai, các huyện Thanh Oai, Thường Tín, Phú Xuyên, Ứng Hoà và Mỹ Đức. Tính từ núi Nương Ngái (Hương Sơn) trở ra đến giáp sông Đáy, độ cao trung bình của bề mặt đồng bằng chỉ từ 2 - 10m (So với mực nước biển, rất thuận lợi cho việc canh tác, đặc biệt trồng cây lương thực, thực phẩm.
Hà Tây là vùng đất cổ trải rộng từ chân núi Ba Vì đến vùng đồng bằng rộng lớn được bồi đắp bởi phù sa của những con sông lớn: sông Đà, sông Hồng, sông Đáy, sông Tích, sông Nhuệ. Lãnh thổ Hà Tây thuộc đồng bằng Bắc Bộ, nhưng lại có sắc thái địa hình riêng của một tỉnh nằm ở rìa phía Tây của đồng bằng này. Đường ranh giới hiện tại của Hà Tây được xác định như sau: - Phía Bắc giáp sông Hồng, từ xã Tân Đức của huyện Ba Vì đến xã Liên Hà của huyện Đan Phượng, bên kia sông là đất Vĩnh phúc, kéo dài khoảng 52 km. - Phía nam giáp huyện Kim Bảng tỉnh Hà Nam dài khoảng 42 km.
- Phía Tây đoạn giáp sông Thao và sông Đà, từ Trung Hà đến Tu Vũ, bên kia sông là đất tỉnh Phú Thọ tiếp đến là vùng đồi núi Ba Vì đến dãy núi Miếu Môn, rồi đến dãy núi đá vôi Hương Tích là dài nhất khoảng 150 km (bên kia dãy núi là tỉnh Hoà Bình). - Đường ranh giới phía Đông, nơi phía trên giáp hai huyện Từ Liêm và Thanh Trì của Hà Nội, phía dưới giáp sông Hồng từ xã Ninh Sở của huyện Thường Tín đến hết xã Quảng Năng của huyện Phú Xuyên, bên kia sông là đất của tỉnh Hưng Yên, có chiều dài khoảng 70 km. Hà Tây là một trong số ít các tỉnh khu vực đồng bằng Bắc Bộ có lịch sử hình thành và phát triển tương đối phức tạp bởi sự thay đổi địa giới hành 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chính. Điều này ảnh hưởng nhiều đến sự phát triển kinh tế xã hội và văn hóa của tỉnh.
Điều kiện xã hội Hà Tây là một trong những tỉnh có số dân đông, đứng thứ 2 (sau Thành phố Hà Nội) so với dân số 11 tỉnh, thành phố vùng đồng bằng sông Hồng và so với cả nước, Hà Tây có dân số đứng thứ 5 (sau Thành phố Hồ Chí Minh, Thủ đô Hà Nội, tỉnh Thanh Hóa và tỉnh Nghệ An so với cả nước). Năm 2005 lực lượng lao động toàn tỉnh là 1.327 nghìn người [46, tr. Hà Tây có 10 xã thuộc các huyện Ba Vì, Quốc Oai, Chương Mỹ, Mỹ Đức có đồng bào dân tộc Mường, Dao sinh sống (tổng số khoảng 20. Người Hà Tây cần cù lao động, với sản xuất nông nghiệp là chính.
Thế mạnh của Hà Tây là tỉnh có nhiều ngành, nghề truyền thống có từ lâu đời và nổi tiếng. Toàn tỉnh có trên 1116 làng có nghề, trong đó 240 làng được công nhận là làng nghề theo tiêu chí của tỉnh tính đến năm 2005. Các ngành nghề của Hà Tây đã tạo việc làm cho khoảng 20 vạn lao động với mức thu nhập cao hơn so với làm nghề nông thuần túy. Tỷ lệ lao động qua đào tạo của Hà Tây cũng thuộc loại cao hơn một số tỉnh nông nghiệp khác.
Đây chính là ưu thế, tạo điều kiện thuận lợi cho ngành công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp trong tỉnh nhanh chóng tiếp cận và đẩy mạnh ứng dụng những công nghệ, kỹ thuật hiện đại vào sản xuất. Hà Tây được mệnh danh là đất trăm nghề, có những ngành nghề truyền thống, sản xuất ra những sản phẩm nổi tiếng và được gắn cùng tên làng, như lụa Vạn Phúc, rèn Đa Sĩ, thêu Quất Động, nón Chuông, quạt Vác, khảm trai Chuyên Mỹ, mộc Vạn Điểm, mây tre đan Phú Vinh, tạc tượng Sơn Đồng, giò chả Ước Lễ… và một số nghề chủ yếu khác. Có thể nói, sự tồn tại và phát triển làng nghề đã tạo nên một nét văn hóa truyền thống riêng của Hà Tây so với các tỉnh thuộc đồng bằng sông Hồng và cả nước [46, tr. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Hà Tây là đất có nhiều danh nhân lịch sử (đất hai vua: Ngô Quyền, Phùng Hưng ở Đường Lâm, Sơn Tây), đất có truyền thống cách mạng anh hùng (Khu Cháy - Ứng Hòa), đất của những danh thắng nổi tiếng như chùa Tây Phương (Thạch Thất), chùa Thầy (Quốc Oai), chùa Hương tích (Nam thiên Đệ nhất động - Hương Sơn, Mỹ Đức).
Là tỉnh “giàu có” về di sản văn hóa, với một khối lượng phong phú cả về số lượng lẫn loại hình có giá trị nghệ thuật. Nơi đây đã tìm được rất nhiều trống đồng cổ và các khu di chỉ đồ đồng khác. Về di tích lịch sử nghệ thuật, Hà Tây sở hữu một số lượng lớn hiện vật nghệ thuật có giá trị. Đáng chú ý là di tích từ thời Lý, thời Trần đến nay.000 di tích vật thể trong đó 1.110 di tích đã được xếp hạng, 12 di tích quan trọng quốc gia như đình Chu Quyến, đình Tây Đằng, chùa Thầy, chùa Đậu, chùa Mía, chùa Bối Khê, đình Thụy Phiêu… hàng trăm cổ vật, hiện vật có giá trị độc đáo, những bia ký, khám thờ, các bộ tượng phật cổ.
Nhiều đồ vật, hiện vật đã được đăng ký bảo vật quốc gia như ấm đồng đầu voi, cốc đốt trầm, chân đèn thời Mạc… Bên cạnh đó còn có những di sản văn hóa phi vật thể đang được Hà Tây bảo tồn và lưu giữ như: Các phong tục tập quán cổ truyền.