Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài 1. Cơ sở khoa học nghiên cứu về giống hoa lan Cùng với sự phát triển kinh tế, xã hội, nghề trồng hoa và thú chơi hoa trong những năm gần đây ngày càng được coi trọng và dần đi theo chiều sâu, thưởng thức các loại hoa đẹp có giá trị hơn. Hoa lan đang là nhu cầu của nhiều người trên thế giới nhất là trong những ngày lễ tết.
Hiện nay hoa lan đang được sản xuất và lưu thông như một loại hàng hóa có giá trị cao. Người ta đã tuyển chọn, lai tạo một số giống lan ở nhiều quốc gia trên thế giới. Ở Việt Nam, cây hoa lan đã được một số nhà khoa học nghiên cứu đánh giá, tuyển chọn một số giống lan lai nhập nội như Hồ Điệp (Phạm Thị Liên và cs, 2009)[21], lan hoàng thảo lai (Bùi Thị Thu Hiền, 2009)[43], lan Đai Châu nhập nội (Hoàng Thị Loan, 2006)[22 ] và bước đầu thu được những kết quả tốt.Tuy nhiên các giống lan rừng của Việt Nam đã được thuần hóa và được nuôi trồng ở các địa phương như Hoàng thảo thì chưa được nghiên cứu khảo nghiệm tại các vùng sinh thái một cách hệ thống trước khi trồng, nên dẫn đến một số giống có chất lượng hoa kém, mẫu mã xấu, nở hoa không đúng dịp. gây khó khăn cho người sản xuất, hiệu quả kinh tế thấp, có khi dẫn đến thất bại.
Nghiên cứu về giống lan sẽ giúp chúng ta nắm bắt được đặc điểm sinh trưởng, phát triển, khả năng phù hợp của chúng với điều kiện ngoại cảnh, từ đó có thể lựa chọn được những giống phù hợp với điều kiện của địa phương trước khi đưa vào sản xuất…… 1. Cơ sở khoa học nghiên cứu về giá thể Giá thể: là khái niệm dùng để chỉ tất cả các vật chất bao quanh bộ rễ của cây trồng. Việc sử dụng các giá thể phù hợp có ý nghĩa đặc biệt đối với cây trồng nhất là cây ở giai đoạn vườn ươm. Các giá thể được sử dụng hiện nay gồm: than củi, gạch nung, rêu, xơ dừa, rễ bèo tây, vỏ cây, rễ dương xỉ… Tác giả Việt Chương, Nguyễn Việt Thái, 2001 [7] và Nguyễn Công Nghiệp (2000) [28] cùng cho rằng: Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 5 dùng than hoa, gạch, xơ dừa, rễ lục bình, vỏ thông để trồng hoa lan.
Những vật liệu này dễ kiếm và rẻ tiền ở Việt Nam, có thể phối trộn các loại giá thể với nhau để trồng lan tùy theo từng giống lan và độ tuổi của lan và điều kiện cụ thể từng nơi. Hoàng Thị Loan (2006) [22] nghiên cứu ảnh hưởng của giá thể đến sinh trưởng của lan Đai Châu đã kết luận: Giá thể than hoa kết hợp với rong biển thích hợp nhất cho bộ sinh trưởng của lan Đai Châu nhập nội từ Thái Lan. - Đặc điểm của một số loại giá thể: Than củi: dùng để giữ ẩm. Là một giá thể tốt vì không chứa mầm bệnh, không mục nát và có khả năng giữ nước, hấp thụ dinh dưỡng tốt.
Phù hợp với rất nhiều loại lan như Cattleya, Rhychostylis, Oncidium… Gạch nung: trồng lan rất tốt nhưng phải nung già, ngăn rêu mọc, luôn tạo độ thoáng thích hợp cho bề mặt rễ bám, nhược điểm là nặng chỉ phù hợp trồng chậu thích hợp với nhiều loài lan thuộc chi Cymbidium… Rêu: có dạng sợi, dai, thoáng xốp giữ ẩm rất tốt, hấp thụ dinh dưỡng tốt rất phù hợp với nhiều loài lan khác nhau, nhất là lan Hồ điệp, nhưng giá thành rất cao, đây cũng là nguyên nhân làm tăng giá thành sản phẩm. Xơ dừa: là giá thể rẻ tiền, dễ kiếm. Tuy nhiên cũng có nhược điểm thoát nước nhanh, chóng mục, vì vậy dễ bị sâu bệnh. Đối với giá thể này cần phải thường xuyên phun thuốc phòng trừ sâu bệnh.
Rễ bèo tây (lục bình): giữ ẩm tốt, dễ kiếm, rẻ tiền, trong rễ bèo có chứa một phần dinh dưỡng. Chính vì vậy, từ xa xưa con người đã dùng để bó bầu cành chiết nhanh ra rễ, nhưng chóng mục, dễ bị sâu bệnh vì vậy cũng phải thường xuyên phun phòng trừ sâu bệnh. Mút xốp: dễ kiếm, giữ nước rất nhanh nhưng thoát cũng nhanh vì vậy khi sử dụng giá thể này cần chú ý đến chế độ tưới nước, phân. Cơ sở khoa học nghiên cứu về ánh sáng Cường độ chiếu sáng ảnh hưởng rất lớn tới quá trình sinh trưởng, phát triển và ra hoa của lan.
Thiếu nắng cây lan vươn cao nhưng nhỏ và ốm yếu, lá màu xanh tối, dễ bị sâu bệnh tấn công, cây ít nảy chồi, khó ra hoa, hoa nhỏ và ngắn Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 6 màu sắc không tươi, hoa nhanh tàn. Thừa nắng lan thấp cây, lá vàng có vết nhăn và khô, mép lá có xu hướng cụp vào, dễ ra hoa sớm khi cây còn nhỏ nên hoa ngắn, nhỏ, cây kém phát triển. Nếu nắng gắt quá lá sẽ bị cháy, khô dần rồi chết (Nguyễn Công Nghiệp, 2000) [27]. Lan có yêu cầu khác nhau về mức độ chiếu sáng tùy theo loài lan và tuổi cây.
Lan Hồ điệp (Phalaenopsis) ít chịu nắng nhất, có thể chịu được 30% nắng, lan Cattleya chịu được 50% nắng, lan Dendrobium hay Vanda lá hẹp chịu được 70% nắng, trong khi lan Vanda lá dài và Bò cạp chịu được tới 100% nắng. Lan con từ 0- 12 tháng đang trong giai đoạn tăng trưởng thân lá chỉ cần chiếu sáng 50%, lan nhỡ từ 12-18 tháng cần chiếu sáng tới 70% và thời điểm kích thích ra hoa có thể cho chiếu sáng nhiều hơn, thậm chí bỏ dàn che để chiếu sáng tự nhiên. Hướng chiếu sáng cũng rất quan trọng đối với lan. Lan đặt ở hướng Đông nhận ánh nắng buổi sáng sẽ tốt hơn nhiều so với lan đặt ở hướng Tây nhận ánh nắng buổi chiều.
Chính vì vậy nếu trồng lan trên sân thượng hay ban công ở phía Tây lan kém phát triển và ít hoa. Khi trồng lan cần bố trí hàng theo hướng Bắc- Nam để cây nhận được ánh sáng phân bố đầy đủ nhất (Chí Thiện, 2004) [34]. Cơ sở khoa học nghiên cứu về phân bón cho hoa lan Dinh dưỡng đóng vai trò rất quan trọng đối với lan. Khi lan đầy đủ dinh dưỡng cây tươi tốt, ra nhiều hoa, hoa to đẹp, bền trong khi thiếu dinh dưỡng lan còi cọc, kém phát triển, không hoặc ít có hoa.
Lan cần 13 chất dinh dưỡng khoáng, thuộc các nhóm đa, trung và vi lượng: Dinh dưỡng đa lượng gồm Đạm (N), Lân (P) và Kali (K). Dinh dưỡng trung lượng gồm Lưu huỳnh (S), Magiê (Mg) và Canxi (Ca). Dinh dưỡng vi lượng gồm Sắt (Fe), Kẽm (Zn), Đồng (Cu), Mangan (Mn), Bo (B), Molypđen (Mo) và Clo (Cl) (Lê Thanh Nhuận và cs, 2009) [26]. Thiếu đạm, cây còi cọc, ít ra lá, ra chồi mới, lá dần chuyển vàng theo qui luật lá già trước, lá non sau, rễ mọc ra nhiều nhưng cằn cỗi, cây khó ra hoa.
Thừa đạm, thân lá xanh mướt nhưng mềm yếu, dễ đổ ngã và sâu bệnh, đầu rễ chuyển xám đen, cây khó ra hoa. Thiếu lân, cây còi cọc, lá nhỏ, ngắn, chuyển xanh đậm, rễ không trắng sáng mà chuyển màu xám đen, không ra hoa. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 7 Thừa lân cây thấp, lá dày, ra hoa sớm nhưng hoa ngắn, nhỏ và xấu, cây mất sức rất nhanh sau ra hoa và khó phục hồi. Thừa lân thường dẫn đến thiếu Kẽm, Sắt và Mangan.
Thiếu kali, cây kém phát triển, lá già vàng dần từ hai mép lá và chóp lá sau lan dần vào trong, lá đôi khi bị xoắn lại, cây mềm yếu dễ bị sâu bệnh tấn công, cây chậm ra hoa, hoa nhỏ, màu không sắc tươi và dễ bị dập nát. Thừa kali, thân lá không mỡ màng, lá nhỏ. Thừa kali dễ dẫn đến thiếu magiê và can xi. Thiếu lưu huỳnh, lá non chuyển vàng nhạt, cây còi cọc, kém phát triển, sinh trưởng của chồi bị hạn chế, số hoa giảm.
Thiếu magiê, thân lá èo uột, xuất hiện dải màu vàng ở phần thịt của các lá già trong khi hai bên gân chính vẫn còn xanh do diệp lục tố hình thành không đầy đủ, cây dễ bị sâu bệnh và khó nở hoa. Thiếu canxi, cây kém phát triển, rễ nhỏ và ngắn, thân mềm, lá nhỏ, cây yếu dễ bị đổ ngã và sâu bệnh tấn công. Thiếu kẽm, xuất hiện các đốm nhỏ rải rác hay các vệt sọc màu vàng nhạt chủ yếu trên các lá đã trưởng thành, các lá non trở nên ngắn, hẹp và mọc sít nhau, các đốt mắt ngọn ngắn lại, cây thấp, rất khó ra hoa. Thiếu Đồng, xuất hiện các đốm màu vàng và quăn phiến lá, đầu lá chuyển trắng, số hoa hình thành ít bị hạn chế, cây yếu dễ bị nấm tấn công.
Thiếu Sắt, các lá non chuyển úa vàng sau trở nên trắng nhợt, cây còi cọc, ít hoa và dễ bị sâu bệnh tấn công. Thiếu Mangan, úa vàng giữa các gân của lá non, đặc trưng bởi sự xuất hiện các đốm vàng và hoại tử, các đốm này xuất hiện từ cuống lá non sau lan ra cả lá, cây còi cọc, chậm phát triển. Thiếu Bo, lá dày, đôi khi bị cong lên và dòn, cây còi cọc, dễ bị chết khô đỉnh sinh trưởng, rễ còi cọc số nụ ít, hoa dễ bị bị rụng, không thơm và nhanh tàn. Thiếu Molypden, xuất hiện đốm vàng ở giữa các gân của những lá dưới, nếu thiếu nặng, các đốm này lan rộng và khô, mép lá cũng khô dần, cây kém phát triển.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 8 Thiếu Clo, xuất hiện các vệt úa vàng trên các lá trưởng thành sau chuyển màu đồng thau, cây còi cọc, kém phát triển. Lan rất cần phân bón nhưng không chịu được nồng độ dinh dưỡng cao, vì vậy bón phân cho lan phải thực hiện thường xuyên và tốt nhất là bằng cách phun qua lá. Phân bón cho lan phải chứa đầy đủ các chất dinh dưỡng đa, trung và vi lượng với thành phần và tỷ lệ phù hợp với từng thời kỳ sinh trưởng và phát triển của cây. Nguyên tắc chung là lan trong thời kỳ sinh trưởng thân lá mạnh cần đạm cao, lân và kali thấp, trước khi ra hoa cần lân và kali cao, đạm thấp trong khi lan nở hoa cần kali cao, lân và đạm thấp hơn (Trần Duy Quý, 2005)[30].
Phân bón là những chất hay hợp chất có chứa một hay nhiều chất dinh dưỡng khoáng thiết yếu với cây trồng, nó có tác dụng thúc đẩy sự sinh trưởng và phát triển của cây trồng. Đặc biệt phân bón lá chiếm vị trí thiết yếu trong nền nông nghiệp sạch nhất là rau, hoa quả. Cây hoa lan cũng không nằm ngoài ảnh hưởng này. Cây lan mang về trồng thì nguồn dinh dưỡng từ nước mưa, vỏ lá mục, rêu, dương xỉ .