TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI KHOA PHÁP LUẬT THUONG MẠI QUOC TE BAO VE LOI ICH CONG CONG TRONG LUAT DAU TU QUOC TE: THUC TIEN GIAI QUYET TRANH CHAP VA KINH NGHIEM CHO VIET NAM HA NỘI - NGÀY 20 THANG 05 NĂM 2021 MỤC LUC KY YÊU HỘI THẢO BẢO VỆ LỢI {CH CÔNG CỘNG TRONG LUẬT ĐẦU TƯ QUOC TE: THỰC TIEN GIẢI QUYẾT TRANH CHAP VÀ KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM STT CHUYEN DE TRANG 1. Tổng quan về bảo vệ lợi ích công cộng trong pháp luật đầu tư quốc tế | 1S. Trần Anh Tuấn Bộ Tư pháp 2. Các quy định về bảo vệ lợi ích công cộng trong các Hiệp định đầu tư 9 quôc tê của Việt Nam ThS.
Lê Đình Quyết Trường Đại học Luật Hà Nội 3. Các quy định về bảo vệ lợi ích công cộng trong hiệp định dau tư quốc tế 22 của Hoa Ky — Kinh nghiệm cho Việt Nam ThS. Hà Mạnh Tú Công ty Luật Bizlink 4. van dé bảo vệ môi trường trong thực tiễn giải quyết tranh chap dau tư 38 quôc tê ThS.
Đỗ Thu Hương Trưởng Đại học Luật Hà Nội 5. van dé bao vệ sức khỏe cộng đồng trong thực tiễn giải quyết tranh chấp 50 đâu tư quôc tê ThS. Nguyễn Quang Anh Trường Đại học Luật Hà Nội 6. Vấn đề bảo vệ quyên con người trong thực tiễn giải quyết tranh chap đầu 62 tư quôc tê ThS.
Phạm Thanh Hang Truong Đại học Luật Ha Nội GV. Lê Bích Ngọc Truong Đại học Su phạm Hà Nội 2 7. Vấn đề bảo vệ di sản văn hóa trong thực tiễn giải quyết tranh chấp đầu 73 tư quôc tê ThS. Phạm Thanh Hang Trường Đại học Luật Hà Nội GV.
Lê Bích Ngọc Truong Đại học Su phạm Ha Nội 2 8. Quyền phản tố của nhà nước va van dé bảo vệ quyền con người thực tiễn 85 giải quyết tranh chap đầu tu quốc tế bang trong tai. Ngô Trọng Quan Trường Đại học Luật Hà Nội Nguyễn Đức Tài Sinh viên K42 ngành Luật TMOT Pháp luật của WTO về bảo vệ lợi ích công cộng trong mối quan hệ đối 98 sánh với luật đâu tư quôc tê ThS. Nguyễn Mai Linh Trường Đại học Luật Hà Nội Trần Thuỳ Trang Sinh viên K43 ngành Luật TMOT 10.
Thủ tục đánh giá tác động của các khoản đầu tư quốc tế đối với an ninh III quôc gia tại Hoa Kỳ, Trung Quôc và một sô vân đê gợi mở tại Việt Nam ThS. Nguyễn Mai Linh Trưởng Đại học Luật Hà Nội Trần Thuỳ Trang Sinh viên K43 ngành Luật TMOT Ngô Diệu Linh Sinh viên K43 ngành Luật TMOT Nguyễn Minh Đức Sinh viên K42 Ngành Ngôn ngữ Anh 11. Tái cân bang quyền và nghĩa vụ của nha đầu tu nước ngoài trong bối 130 cảnh bảo vệ lợi ích công cộng ThS. Ngô Trọng Quan Trưởng Đại học Luật Hà Nội Ngô Thảo Ngân Sinh viên K42 ngành Luật TMOT TONG QUAN VE BẢO VỆ LỢI ÍCH CÔNG CỘNG TRONG PHÁP LUẬT DAU TU QUOC TE TS.
Trần Anh Tuan" Tóm tat: Bảo vệ lợi ich công cộng trong đâu tư quốc tế la van dé được quốc gia tiếp nhận dau tư quan tâm, nhất là các quốc gia dang phát triển. Tuy nhiên, cho đến nay, trong pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia, khái niệm này không thực sự được làm rõ. Theo đó, lợi ích công cộng thường được định nghĩa một cách chung chung hoặc các yếu tô được cho là lợi ich công cộng được liệt kê không đây du trong danh sách cắm, hạn chế đâu tư của tư nhân, nước ngoài hoặc được trộn lan trong danh sách ngoại trừ không áp dung các cam kết tại điều ước quốc tế về đầu tư liên quan. Điểu này có nguyên nhân từ tính phức tạp của van đề về lợi ích công cộng cũng như có thé do sự cô ý của các quốc gia nhằm bảo vệ tối da lợi ích thiết yếu của mình trong trường hợp cần thiết.
Đối với Việt Nam, trong diéu kiện có nhiễu diéu ước quốc tế về dau tư ở cả thé hệ cũ và mới, các cơ quan nhà nước liên quan can có phương án thích hop trong hoàn thiện cam kết quốc tế, xây dựng và thực hiện pháp luật dé bảo dam cân bằng giữa thu Init dau tư với bảo dam các lợi ich công cộng, sự phát triển bên vững của đất nước. Từ khóa: Lợi ích công cộng, pháp luật quốc tế về dau tư, điều ước quốc tế về dau tu và Học thuyết Quyên cảnh sát trị của nhà nước. Khái niệm bảo vệ lợi ích công cộng trong đầu tư quốc tế Lợi ích công cộng (Public Interest), theo một số từ điển nước ngoài (Blacks Law Dictionary) định nghĩa thì là một thuật ngữ chỉ đến: phúc lợi chung của công chúng cần được công nhận và bảo vệ; cái mà công chúng nói chung đều có thể được hưởng. Theo đó, lợi ích công cộng cũng có thé hiểu là những “lợi ích tốt nhất cho toàn xã hội” cần được pháp luật bảo vệ.
Tuy nhiên, cho đến nay, ở khía cạnh pháp luật, lợi ích công cộng chưa được cắt nghĩa một cách thật sự rõ ràng trong cả pháp luật quốc tế và pháp luật của các quốc gia. Trong đầu tư quốc tế, các nhà đầu tư nước ngoài khi tiến hành các hoạt động đâu tư xuyên biên được bảo vệ chủ yêu bởi các nguyên tac bảo hộ tại điêu ước quôc tê * Vu Pháp luật quốc tế, Bộ Tư pháp ' Edwin Rekosh, Who defines the public interest? Public interest law strategies in central and eastern Europe, truy cap ngay 19/4/2021 trén: http://www.php?pid=S 1 806-64452005000100008&script=sci_arttext&tlng=en. về đầu tư “mà quốc gia của họ ký với nước tiếp nhận đầu tư, tập quán quốc tế liên quan cũng như pháp luật của quốc gia tiếp nhận đầu tư. Theo đó, nhà nước tiếp nhận đầu tư bị giới hạn hành vi/biện pháp của mình bởi các cam kết bảo hộ đối với nhà đầu tư, khoản đầu tư nước ngoài như đối xử quốc gia (National Treatment - NT), đối xử tối huệ quốc (Most Favoured Nation - MEN), đãi ngộ đầu tư (Treatment of Investment), bồi thường trong trường hợp có xung đột (Compensation in Cases of Strife), đền bù và bồi thường thiệt hại (Expropriation and Compensation), cho phép tự do chuyên tiền, thu nhập hợp pháp (Transfers), cam kết liên quan đến nhân sự quản lý cao cấp và ban giám đốc (Senior Management and Board of Directors), giải quyết tranh chấp giữa nhà đầu tư nước ngoài và nhà nước tiếp nhận đầu tư (ISDS).
Trong nhiều trường hop, việc thực hiện các nguyên tắc bảo hộ đầu tư này có thể xâm phạm đến các lợi ích chung, thiết yêu của nước tiếp nhận đầu tư. Đối với những trường hợp như vậy, công cụ mà nhà nước tiếp nhận dau tư có thé dựa vào đó dé không thực hiện các nguyên tắc bảo hộ đầu tư mình đã cam kết là vì lý do bảo vệ lợi ích công cộng. Đây là các ngoại lệ pho biến theo nhiều điều ước quốc tế về đầu tư. Mặc dù vậy, theo tập quán quốc tế và các điều ước quốc tế cũng như pháp luật về đầu tư của các quốc gia thì ngoại lệ về bảo vệ lợi ích công cộng cũng khá khác nhau và có quá trình biến đổi cùng với sự phát trién của Luật đầu tư quốc tế và thực tiễn đầu tư quốc tế.
Bảo vệ lợi ích công cộng trong pháp luật quốc tế về đầu tư 1. Bao vệ lợi ích công cộng theo các điều ưóc quốc té về đầu tư Việc bảo vệ lợi ích công cộng được ghi nhận từ rất sớm tại các điều ước quốc tế về đầu tư. Ngay từ khi có Hiệp định bảo hộ đầu tư song phương (BIT) đầu tiên là BIT giữa Cộng hòa Liên bang Đức va Pakistan năm 1959 đã quy định việc ngoại trừ thực hiện các nghĩa vu bảo hộ của nước tiếp nhận dau tư dé bảo vệ lợi ích công công của mình. Tại khoản 2 Điều 3 BIT này quy định “công dân hoặc công ty của một trong hai Bên sẽ không bị trưng thu các khoản đầu tư của họ trên lãnh thé của Bên kia, ngoại trừ vì lợi ích công cộng”.
Các BIT về sau này có nhiều cách khác nhau đề ghi nhận về bảo vệ lợi ích công cộng của nước tiếp nhận đầu tư. Một số ít BIT ngoại trừ thực hiện trong một sỐ nghĩa vụ bảo hộ của nước tiếp nhận đầu tư với lý do bảo vệ lợi ích công cộng và không đưa ra định nghĩa theo cách khái quát hoặc liệt kê các trường hợp được coi là lợi ích công cộng nhưng lại gián tiếp ghi nhận một số hình thức về bảo vệ lợi ích công cộng dưới dạng nghĩa vụ của các bên ký kết, ví du: BIT giữa Liên minh kinh tế Bi - Luxembourg ? Tại Chuyên đề này, điều ước quốc tế về đầu tư được gọi chung cho hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư song phương, các hiệp định thương mại, hiệp định thương mại tự do song phương, khu vực và đa phương có quy định vê đâu tư. 2 với Mauritius năm 2005, tại Điều 5 quy định nghĩa vụ của mỗi Bên ký kết là sẽ có gắng đảm bảo rằng luật pháp của mình quy định mức độ bảo vệ môi trường cao và sẽ có găng tiếp tục nỗ lực cải thiện pháp luật về van dé này. Bên cạnh đó, đa số các BIT khác không có điều khoản riêng về ngoại trừ liên quan đến bảo vệ lợi ích công cộng mà quy định đan xen vào các điều khoản khác của hiệp định mà thường là ở điều khoản về trưng thu (quốc hữu hóa) và bồi thường, chăng hạn, khoản | Điều 7 BIT giữa Australia và Mexico năm 2005 quy định “Không Bên ký kết nào được phép trưng thu hoặc quốc hữu hóa một khoản dau tư trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua các biện pháp tương đương với việc trưng thu hoặc quốc hữu hóa (sau đây được gọi là “trưng thu”), ngoại trừ: a) Cho mục dich công cộng: b) Trên cơ sở không phân biệt đối xử; c) Theo quy trình hợp pháp; và (d) Kèm theo bồi thường theo các khoản 2, 3 và 4 dưới đây”.
Cùng với cách thức của BIT giữa Australia và Mexico nêu trên, khoản 1 Điều 6 BIT giữa Việt Nam và Armenia năm 1992 khăng định “Không một bên ký kết nào được áp dụng biện pháp tịch thu, quốc hữu hóa hoặc các biện pháp khác có tính chất và hậu quả tương tự đối với đầu tư của nhà đầu tư Bên ký kết kia, trừ trường hợp biện pháp đó được áp dụng vì lợi ích quốc gia”.