Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Những nghiên cứu trên thế giới 1. Các nghiên cứu về chi Luồng trên thế giới * Nghiên cứu về phân loại và đặc điểm sinh thái Năm 1934, Chi luồng (Dendrocalamus) được Nees thành lập khi chuyển loài Bambos stricta Roxb. Cho đến nay, chi Luồng có khoảng 60 loài, đây là chi có nhiều loài tre kích thước lớn, có loài cao đến 30 m.
Tuy nhiên, có một số loài thân nhỏ, đường kính chỉ vài cm như Dendrocalamus poilanei, D.sinuatus và có loài thân đặc như D. Munro (1868) đã mô tả 9 loài thuộc chi Luồng, tác giả mô tả khá chi tiết đặc điểm các loài và có cả hình vẽ của một số loài công bố mới. Gamble (1896) đã mô tả chi tiết đặc điểm các loài có cả hình vẽ của 16 loài thuộc chi Luồng ở Ấn Độ. Tewari (1993) đã mô tả chi tiết đặc điểm hình thái và có hình vẽ minh họa của 14 loài thuộc chi Luồng của Ấn Độ.
Hsueh & Li (1996) mô tả chi tiết và vẽ hình minh họa của 11 loài tre thuộc chi này ở Trung Quốc. Li & Stapleton (2006) mô tả chi tiết và hình vẽ minh họa đặc điểm loài ở quyển riêng cho 24 loài tre thuộc chi này ở Trung Quốc. Theo Ohnberger (1999) có 52 loài thuộc chi Luồng trên toàn thế giới. Theo Munro (1868) cho rằng các loài thuộc chi Luồng phân bố ở Ấn Độ, Malacca, Java (Indonesia) và Trung Quốc.
Gamble (1896) xác định 16 loài thuộc chi Luồng phân bố ở Trung Quốc, Ấn Độ, Myanmar, Malaysia, Indonesia. Tewari (1993) đã cung cấp đầy đủ các thông tin về nơi phân bố, trồng và độ cao của 14 loài Tre thuộc chi Luồng ở Ấn Độ được mô tả. Theo Li & Stapleton (2006) chi Luồng có phân bố ở vùng nhiệt đới, Á nhiệt đới của Châu Á, ở Trung Quốc phân bố chủ yếu ở phía Tây Nam. Ohnberger (1999) cho rằng các loài chi Luồng trên thế giới có phân bố ở phía Nam Trung Quốc 5 kéo dài ra phía Tây và phía Đông và miền Trung của Trung Quốc, ở Ấn độ có dãy Himalaya và các đảo Andaman, ngoài ra còn gặp ở các nước Nê pan, Bu tan, Băng-la-det, Sri-lan-ca, đảo Andaman, Myanmar, Lào, Ma-lai-xia, Campuchia, Việt Nam, Philippine, In-đô-nê-xia và pa-pua-niu-ghi-nê.
Tewari (1993) đã công bố số liệu cho biết trên thế giới hiện nay 80% rừng tre trúc có phân bố ở Châu Á, tất cả các vùng rừng nhiệt đới và á nhiệt đới trên thế giới. Chúng có phân bố ở độ cao từ sát biển đến 4000m. Tác giả đã xây dựng được vùng phân bố chung cho tre trúc và bản đồ phân bố một số chi tre trúc quan trọng trên thế giới. Trong đó, tre trúc phân bố tập trung vào đai nhiệt đới và á nhiệt đới thuộc Châu Á, chủ yếu là Trung Quốc, Ấn Độ, Việt Nam, Nhật Bản, Malaysia, Bắc Australia, Trung Phi, Nam Mỹ và một phần nhỏ ở Bắc Mỹ.
Dranfield và Widjaja (1995) đã giới thiệu về tên khoa học, tên địa phương, phân bố, giá trị sử dụng, đặc điểm nhận biết qua hình thái, sinh thái của một số loài trong chi Bambusa, Cephalostachyum, Dendrocalamus, Gimgantochloa, Sdryzotachyum, Thyrsostachys ở khu vực Đông Nam Á.Ramanatha Rao (1999) đã nghiên cứu ảnh hưởng của một số nhân tố sinh thái: loại đất, hàm lượng mùn trong đất, lượng mưa, số ngày mưa trong năm đến 19 loài tre trúc của Trung Quốc. Các nghiên cứu của Victor Cusack (1997) về biện pháp bón phân và liều lượng hợp lý cho từng loài tre trúc nhất định để chúng phát triển tốt, măng to. Tổ chức Plant Resources of South-East Asia (Prosea) đã xuất bản tập “Prosea 7: Bamboos” mô tả đặc điểm hình thái, sinh thái, phân bố, gây trồng, sử dụng cho 75 loài tre trúc thông dụng, có giá trị ở vùng Đông Nam Á. 6 Xiao Jianghua (1996) đã xác định được những nhân tố ảnh hưởng đến quá trình phát sinh măng, sinh trưởng và phát triển của thân khí sinh như độ ẩm, nhiệt độ, dinh dưỡng, cấu trúc rừng, biện pháp lâm sinh, sâu bệnh.
* Nghiên cứu về nhân giống Chi Dendrocalamus có thể thực hiện nhân giống bằng phương pháp hữu tính hoặc sinh dưỡng nhưng chủ yếu là bằng phương pháp nhân giống sinh dưỡng. Tại Kenya, Bernard Kingomo (2007) đã đề cập đến nhân giống bằng cách dùng thân và gốc để tạo cây con. Nếu dùng hom thân nên lấy thân cây có độ tuổi từ 2 - 3 năm, cắt một đoạn có 2 đến 3 mắt để làm vật liệu, đục lỗ cách các mắt từ 5 – 7 cm, sau đó vùi sâu 6 – 10 cm theo hướng nằm ngang vào đất trộn cát, sau đó dùng axít 1-Naphthalene acetic (NAA) đổ vào lỗ đã đục để kích thích ra rễ. Nếu dùng gốc để trồng, chọn cây có độ tuổi 1 - 2 năm, đào sâu 30 - 60 cm và cắt toàn bộ gốc mang đi trồng ngay.
Theo Rao & Rao (1999) nhân giống sinh dưỡng là phương pháp có hiệu quả với hầu hết các loài tre. Tác giả nghiên cứu nhân giống sinh dưỡng Bambusa vulgaris với quy mô lớn như sau: Hom cành 2-3 năm tuổi bao gồm một mắt ngủ hoặc một đốt cành, cành được cắt ở sát cổ. Cành cắt được cho vào túi polyethyne thích hợp bao gồm đất ở trên và sơ dừa vụ với tỷ lệ 1:5. Nước được tưới thường xuyên trong thời gian một tuần sau khi cho vào túi, khả năng ra chồi và ra rễ diễn ra trong khoảng thời gian 3-4 tuần sau đó.
Nghiên cứu của Trung tâm nghiên cứu tre trúc Trung Quốc (2008) về giâm hom tre cho thấy: sử dụng hom cành to giâm hom cho tỷ lệ sống đạt tới 83,75%, sử dụng cành nhỏ tỷ lệ sống chỉ khoảng 10%. Nghiên cứu cũng chỉ ra nên giâm hom vào mùa xuân tháng 3-4 vì nhiệt độ và độ ẩm tăng, thuận lợi cho tre nảy chồi và măng không mọc thời gian này, do đó cây giàu dinh dưỡng, ra rễ diễn ra trước tiên sau cắt hom vì vậy cho tỷ lệ sống cao. Nghiên 7 cứu của Fu Maoyi & cs. (2000) về giâm hom bằng cành cho thấy cành được chọn để giâm hom tốt nhất có độ tuổi 1-2 năm và lấy từ cây 3 năm tuổi.
Nhân giống có thể thực hiện tốt vào tháng 2 đến tháng 9, tuy nhiên vào tháng 2-3 cho tỷ lệ sống cao hơn. Cusack (1997) đã nghiên cứu sử dụng hom thân kết quả cho thấy: tỷ lệ thành công khi nhân giống bằng hom thân là khác nhau giữa các loài tre và phụ thuộc vào kỹ thuật sử dụng, nhân giống tốt nhất nên vào mùa xuân. Trong khi đó, Rao & Rao (1999) cũng cho rằng đây là một phương pháp có hiệu quả để nhân giống các loại tre có vách dày và kích thước lớn (8-12cm đường kính) như loài Bambusa blumeata. Tuy nhiên, tác giả nhận định phương pháp này là không phổ biến vì có chi phí đắt, giới hạn tuổi cây làm hom thân chỉ trong tuổi 1, cần đưa thêm cách nhân giống khác.
Một nghiên cứu khác của Fu Maoyi & cs. (2000) về nhân giống bằng hom thân 1 đốt cho thấy, cắt hom có thể thực hiện ở cây 1 hoặc 2 năm tuổi. Tác giả cho rằng nhân giống các loài tre có vách mỏng bằng cắt khúc thường kém thành công và không hiệu quả vì vậy khó sử dụng trong mô hình nhân giống lớn. Nó phù hợp với loại tre có vách dày và kích thước lớn.
Đồng thời nhóm tác giả cũng đã đưa ra một phương pháp nhân giống trong đó sử dụng các cây tre non sau khi đã kết thúc sinh trưởng về chiều cao được chặt phần ngọn để kích thích sự phát triển của mắt. Nghiên cứu cũng cho rằng cây nên được ngả vào tháng 2-3, măng sẽ mọc vào tháng 4-5 và rễ phát triển vào tháng 7-8, cây sau 1 năm tuổi đạt chiều cao khoảng 120cm. Phương pháp này được tác giả khuyến cáo sử dụng cho các loài tre có kích thước trung bình. Về nghiên cứu sử dụng giống gốc trong trồng tre đã được một số tác giả đánh giá là có tỷ lệ thành công cao, tuy nhiên cũng có nhiều mặt hạn chế như chi phí cao, số lượng giống hạn chế.
Theo Zhou (2000) cho rằng sử dụng giống gốc thích hợp cho các loài cây giống như Bambusa, Dendrocalamus, 8 Sinocalamus,. Chọn những cây mẹ đánh gốc có một ít rễ và cắt phần trên thân khí sinh chỉ để lại chiều dài khoảng 1m. Khi đánh gốc, rễ và thân ngầm được giữ lại, cây được cắt lại 5-6 cành và để lại lá. Theo Cusack (1997) cho thấy nhân giống bằng gốc có thể đạt được tỷ lệ thành công 100%, tuy nhiên chỉ nên áp dụng cho những loài tre có kích thước nhỏ vì có thể sản xuất với quy mô lớn.
Tương tự, Rao & Rao (1999) cũng cho rằng nhân giống tre sử dụng giống gốc là một phương pháp tốt nhất, khả năng mọc mạnh nhất được thấy ở các gốc 1 năm tuổi. Phương pháp này thành công ở các loài tre vách dày, trồng tốt nhất vào mùa mưa. Nghiên cứu cũng cho thấy khoảng 3-7 mắt to của gốc cây mẹ 1 năm tuổi có xu hướng mọc đồng thời nhưng chỉ 1 hoặc 2 mắt mọc hoàn chỉnh. Verma và Arya (1998) đã nghiên cứu ảnh hưởng của thành phần ruột bầu đến sinh trưởng, sinh khối và khả năng hút dinh dưỡng của cây Dendrocalamus asper nuôi cấy mô, tác giả đã kết luận, sau 12 tháng thí nghiệm, thành phần ruột bầu với tỷ lệ 1 cát : 1 đất (về thể tích) làm giảm khả năng ra rễ.
Trong khi ở các thí nghiệm bón bổ sung phân hữu cơ thì các chỉ tiêu nghiên cứu như chiều cao, sinh khối khô và khả năng ra rễ của Dendrocalamus asper đều tốt hơn. Ngoài phương pháp nhân giống sinh dưỡng, ở một số nơi trên thế giới, các loài tre Luồng cũng được nhân giống từ hạt. Tại Thái Lan và Ấn Độ, việc nhân giống bằng hạt đã được thực hiện cho các loài cây như Dendrocalamus brandisii, Dendrocalamus membranaceus, Dendrocalamus strictus và Dendrocalamus (Bernard, 2007 và Dai Qihui, 1998). Tuy nhiên, do cây con được tạo bằng hạt không đạt được những ưu điểm vượt trội so với cây con được tạo bằng thân, gốc hoặc cành.
Do vậy, đến nay phần lớn cây con của các loài tre Luồng đều được tạo bằng phương pháp nhân giống sinh dưỡng. Các nghiên cứu về Tre mai trên thế giới Tre mai có tên khoa học là Dendrocalamus yunnanicus Hsueh et D. Loài này được phát hiện và công bố ở tỉnh Vân Nam (Trung Quốc) năm 1988 bởi 2 tác giả Hsueh và D. Li ở độ cao 1500 m so với mực nước biển.
Có phân bố ở các tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây và Vân Nam thuộc phía Nam và Tây Nam của Trung Quốc.