MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Trong hệ sinh thái mỗi loài đều có những mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Con người cũng vậy sống trong một thế giới, một mái nhà chung là trái đất. Con người và thiên nhiên luôn có mối quan hệ biện chứng tác động qua lại lẫn nhau.
Vai trò của tài nguyên thiên nhiên nói chung hay tài nguyên rừng nói riêng đối với cuộc sống con người đã được nhiều tài liệu đề cập đến và không phải bàn cãi nhiều. Tuy nhiên, dưới nhiều nguyên nhân trực tiếp hay gián tiếp khác nhau đã và đang làm ảnh hưởng xấu đến nguồn tài nguyên này làm cho tính đa dạng sinh học bị suy giảm trầm trọng. Bên cạnh việc nhiều loài, nhiều taxon được phát hiện và mô tả mới cho khoa học thì rất có thể nhiều loài khác – loài chưa từng được biết đến đã đối điện với nguy cơ bị đe dọa và tuyệt chủng. Trong số đó có thể có những loài có giá trị đặc biệt đối với khoa học và cuộc sống của con người.
Hiện nay, vấn đề chung của tất cả các nước trên thế giới đều chú trọng quan tâm đến bảo tồn đa dạng sinh học. Việc bảo tồn các loài cây các loài thực vật và nghiêm cấm khai thác các loài quý thực vật quý hiếm đã có trong chỉ thị của thủ tướng chính phủ ( Số 283-TTg). Vì đã có rất nhiều các loại gỗ quý hiếm đã và đang bị khai thác quá mức đang đứng trước nguy cơ bị tuyệt chủng. Việc khai thác các loài này được diễn ra từ cách đây nhiều năm, nó không chỉ ảnh hưởng tới một hệ sinh thái mà còn ảnh hưởng tới khả năng phát triển của loài thực vật đó.
Điều này đặc biệt quan trọng với các loài thực vật bản địa quý hiếm. Vì các loài thực, động vật chỉ có thể phát triển trên một độ cao nhất định với một nhiệt độ môi trường nhất định đó là điều kiện thích nghi của thực, động vật. Thực tế cho thấy các loài thực vật, đặc biệt là các loài cây gỗ quý có tuổi thọ hàng trăm năm để có được một cây thành thục tuổi Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 2 công nghệ mất rất nhiều thời gian mà việc con người khai thác chúng để sử dụng thì ngày một tăng cao. Chính vì vậy mà các loài thực vật quý hiếm sẽ ngày một ít hơn trong môi trường tự nhiên, khả năng tái sinh của chúng cũng ngày một thấp hơn do số lượng cây mẹ đã không còn nhiều.
Ở Việt Nam cũng như nhiều nước trên thế giới có rất nhiều các khu bảo tồn loài,sinh cảnh, các khu bảo tồn thiên nhiên và ở Hà Giang có khu bảo tồn thiên nhiên Tây Côn Lĩnh có quyết định thành lập Số 493/QĐ ngày 21/9/1994. Khu bảo tồn thiên nhiên có 8.612ha diện tích rừng tự nhiên, chiếm 40% tổng diện tích toàn khu. Phần lớn diện tích còn lại là đất trống cỏ, cây bụi. Rừng chỉ bắt đầu từ độ cao 1.
Các loại rừng còn lại ở đây thuộc loại rừng thường xanh ở vùng đồi núi trung bình và núi cao. Ở đây đã tìm thấy 236 loài thực vật bậc cao, 46 loài thú, 114 loài chim, 18 loài bò sát và 11 loài ếch nhái. Từ tính đa dạng và đặc thù của khu vực bao gồm các dãy núi cao, vì vậy đã có rất nhiều dự án khác nhau đã được đầu tư vào khu bảo tồn đa dạng thiên nhiên Tây Côn Lĩnh với mục tiêu để bảo vệ hệ sinh thái rừng nhiệt đới, bảo tồn nguồn gen, phát huy vai trò phòng hộ, tăng các cá thể động, thực vật rừng và phát triển kinh tế xã hội. Các nhà nghiên cứu khoa học đã tìm kiếm và phát hiện được nhiều loài động thực vật quý hiếm ở khu bảo tồn, đặc biệt là loài cây Sa mộc dầu, một loài cây quý hiếm đang có nguy cơ bị tuyệt chủng.
Số lượng loài hiện nay chỉ được tính ở cấp độ cá thể, cây này không chỉ dừng lại ở giá trị về mặt bảo tồn nguồn gen mà còn có rất nhiều các giá trị khác nhau, ngoài ra còn có giá trị rất cao về mặt kinh tế xã hội. Sa mộc dầu hay có tên gọi khác là Ngọc am, là một trong những loài cây đã được một số nhà khảo cổ học ví là “huyền thoại”. Nhà khảo cổ học Nguyễn Lân Cường và Đỗ Đình Truật cho rằng tinh dầu Ngọc am có khả năng sát khuẩn cực kỳ cao và giữ xác ở trạng thái cực tốt. Nhà khảo cổ học Đỗ Đình Truật từng vô tư nếm chất nước đọng dưới đáy quan tài có ướp xác Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 3 của một mộ hợp chất cổ.
Ông cho biết rằng, bất cứ vật gì ướp trong tinh dầu Ngọc am thì đều không thể tan rã, hòa lẫn vào Ngọc am được. Cho nên, dù ngâm xác người vài trăm năm thì tinh dầu Ngọc am vẫn sạch sẽ tuyệt đối. Thậm chí những miếng trầu cau chôn theo người chết hàng trăm năm còn xanh tươi và vẫn có thể ăn được. Loài cây này không chỉ ở Việt Nam mới có mà theo một số truyền thuyết của Trung Quốc gỗ của cây Sa mộc dầu còn được sử dụng và chế tác thành các vật dụng dùng trong cung đình.
Cây Sa mộc dầu có giá trị sử dụng như những cây quý khác nhưng có ưu điểm đáng quý và nổi trội hơn đó là lá già không rụng. Do đó, quanh gốc cây các loài thực vật khác vẫn có thể phát triển, góp phần phát triển chăn nuôi, giảm xói mòn, lũ ống, lũ quét, lở núi. Người dân chặt những cành già dưới cùng, đem về phơi khô làm chất đốt để phục vụ nhu cầu về cuộc sống hàng ngày của họ. Ngoài ra, cây Sa mộc dầu người dân địa phương tại Hà Giang đã chiết xuất tinh dầu làm dược liệu và làm áo quan mai táng người đã mất.
Cây Sa mộc dầu mọc thẳng, không mối mọt, thích ứng rộng, có thể thích nghi với vùng trung du đến các tỉnh vùng cao. Vì hiện nay, cây Sa mộc dầu có giá trị rất lớn lại là cây có độ bền cao, ít bị mối mọt, tinh dầu có giá trị nhiều trong y học nên đây cũng là nguyên nhân chính mà cây Sa mộc dầu bị khai thác nhiều như hiện nay. Trong khi đó việc thực hiện trồng mới lại ít được quan tâm phục hồi rừng trồng Sa mộc dầu nhằm đảm bảo đáp ứng nhu cầu của người dân và phát triển loại cây phục vụ cho công tác quản lý bảo vệ. Chính vì vậy tôi đã chọn nghiên cứu về đặc điểm sinh vật học của loài cây này trong việc nhân giống nhằm mục đích phát triển loài cây Sa mộc dầu để nhân giống giúp không những tăng số lượng loài cây này ngoài tự nhiên còn có khả năng phát trển kinh tế cho người dân tốt hơn về cách nhân giống cây Sa mộc dầu.
Vì vậy tôi thực hiện đề tài “ Nghiên cứu đặc điểm sinh vật học và kỹ thuật gieo ươm Sa mộc dầu (Cuninghamia konishii Hayata) từ hạt tại Khu bảo tồn Tây Côn Lĩnh tỉnh Hà Giang” để góp phần Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 4 nghiên cứu đánh giá khả năng phát triển của cây về số lượng bảo tồn loài cây này ngoài tự nhiên. Cùng sự phát triển thành loài cây trồng mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người dân để việc bảo tồn không những chỉ là bảo tồn mà đem lại lợi ích kinh tế cho người dân. Mục tiêu của đề tài 2.1 Mục đích tổng quát của đề tài nghiên cứu Nghiên cứu một số yếu tố ảnh hưởng tới các biện pháp kĩ thuật gieo ươm nhân giống để góp phần cho công tác bảo tồn và phát triển cây Sa mộc dầu.2 Mục tiêu cụ thể nghiên cứu của đề tài Mục tiêu chung của đề tài nghiên cứu là tìm hiểu về loài cây Sa mộc dầu, về những đặc điểm sinh vật học, đặc điểm về khả năng nhân giống loài cây quý hiếm này góp phần mang lại những lợi ích về sự phát triển loài cây này chính vì vậy mục tiêu của nghiên cứu này sẽ được tập trung vào các vấn đề sau: - Đặc điểm sinh vật học của loài cây Sa mộc dầu tại khu bảo tồn Tây Côn Lĩnh tỉnh Hà Giang - Tri thức của người dân bản địa về loài Sa mộc dầu - Một số yếu tố ảnh hưởng tới sự sinh trưởng của loài cây Sa mộc dầu tại vườn ươm. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 3.1 Đối tượng nghiên cứu Là loài cây Sa mộc dầu (Cuninghamia konishii Hayata) hay còn gọi là Sa mộc quế phong, Ngọc am hay Sa mu dầu thuộc họ Hoàng đàn (Cupressaaceae) 3.2 Phạm vi nghiên cứu Phạm vi nghiên cứu tại khu bảo tồn Tây Côn Lĩnh tỉnh Hà Giang.
Thời gian thực hiện nghiên cứu được tiến hành từ tháng 10 năm 2014 đến tháng 7 năm 2015. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 5 Nội dung nghiên cứu được tiến hành trên một số các vấn đề sau: - Đặc điểm sinh vật học của loài cây Sa mộc dầu tại khu bảo tồn Tây Côn Lĩnh thuộc tỉnh Hà Giang. - Kĩ thuật gieo ươm của người dân địa phương tại khu vực nghiên cứu. - Kỹ thuật xử lý hạt và kích thích hạt giống nảy mầm tại vườn ươm.
- Ảnh hưởng của chế độ tưới nước tới sinh trưởng của cây con. - Ảnh hưởng của chế độ che bóng tới sự sinh trưởng của cây con tại vườn ươm. - Ảnh hưởng của thành phần ruột bầu tới sự phát triển của cây con tại vườn ươm. - Một số loại sâu bệnh hại cây con tại vườn ươm và biện pháp phòng trừ.
Ý nghĩa của đề tài 4. Ý nghĩa học tập và nghiên cứu khoa học Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần làm sáng tỏ về khả năng nhân giống của loài thực vật đang bị đe dọa tuyệt chủng trong tương lai gần là Sa mộc dầu, cung cấp thông tin phục vụ công tác bảo tồn và phát triển nguồn gen thực vật rừng qúy hiếm của Việt Nam. Việc xây dựng hướng dẫn kỹ thuật nhân giống, chọn cây mẹ, chăm sóc rừng giống, trồng và nuôi dưỡng là bước đột phá của nghiên cứu này vì hiện nay chưa có hướng dẫn, quy trình kỹ thuật nhân giống, trồng và chăm sóc Sa mộc dầu. - Củng cố kiến thức cơ sở cũng như chuyên ngành để phục vụ tốt hơn cho công tác phát triển ngành lâm nghiệp nói chung, góp phần bảo tồn loại Sa mộc dầu nói riêng.
- Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là cơ sở cho các nghiên cứu khác về loài cây Sa mộc dầu. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.