CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài 1. Một số đặc điểm của giống chè Kim Tuyên. Nguồn gốc: Giống chè Kim Tuyên là giống vô tính của Đài Loan, được chọn lọc từ tổ hợp lai hữu tính giữa mẹ là giống Olong lá to của địa phương và bố là giống Raiburi của Ấn Độ vào năm 1975.
Nhập nội vào Việt Nam từ 1994. Đặc điểm: Hình thái: Thân bụi, mật độ cành dày, lá hình bầu dục, màu xanh vàng bóng, thế ngang, dài lá 7,2cm, rộng 3,1cm. Búp màu xanh nhạt, non phớt tím. Sinh trưởng: Cây sinh trưởng khoẻ, mật độ búp dày.
Khi trồng cây có tỷ lệ sống cao. Nhân giống bằng giâm hom có tỷ lệ sống cao. Dạng thân bụi, thế cây hơi đứng. Thế lá ngang, kích thước lá nhỏ (dài lá 6,8cm, rộng lá 3,43cm) răng cưa mờ, có 8 đôi gân lá.
Màu sắc xanh đậm, trơn bóng, mép lượn sóng, lá non phớt tím. Búp non có tuyết, trọng lượng búp 1 tôm 3 lá: 0,52g. Bật mầm sớm, sức sinh trưởng mạnh, mật độ búp trung bình. Giống Kim Tuyên là giống năng suất khá, thích hợp quy trình thâm canh.
Do mục tiêu sản xuất chè Olong nên cần sửa tạo tán để búp ra tập trung và non lâu từ 40 – 45 ngày tuổi. Kỹ thuật hái bằng tay kết hợp sửa tán sau hái bằng máy của Nhật Bản. Khả năng thích ứng vùng có khí hậu mát ẩm, đất tốt. Năng suất trung bình 6 – 8 tấn/ha (Phú Thọ, Lạng Sơn).
Năng suất thâm canh đạt 10 – 12 tấn/ha (Lâm Đồng). Trong điều kiện thâm canh tăng lượng phân bón hữu cơ và có tưới tiêu cho năng suất khá cao. Khả năng chống chịu sâu bệnh tốt. Giống Kim Tuyên có nội chất tốt, hàm lượng tanin 28,50%, đường khử là 0,59%, chất hòa tan là 39,52%, axít amin là 1,58% và cafein tổng số là 132mg/gck.
Chế biến chè xanh và chè Olong có chất lượng cao. n 6 Khả năng nhân giống: Phù hợp nhân giống vô tính, dễ giâm cành và có hệ số nhân giống khá cao, cây con sinh trưởng khỏe cả ở vườn ươm và sau trồng, tỷ lệ sống cao. Chất lượng: Chế biến chè xanh có chất lượng rất cao, chế biến được chè Olong. Năm 2003, được Hội đồng khoa học Bộ NN&PTNT thông qua giống tạm thời cho SX thử nghiệm tại các tỉnh Lâm Đồng, Phú Thọ, Yên Bái, Sơn La, Lạng Sơn.
Năm 2008, được Hội đồng khoa học Bộ NN&PTNT thông qua giống tiến bộ kỹ thuật để SX chè Olong, chè xanh cao cấp. Cơ sở khoa học của việc bón phân và sử dụng thuốc bảo vệ thực vật sinh học cho chè. Cơ sở khoa học của việc bón phân cho chè. Cây chè có khả năng liên tục hút dinh dưỡng trong chu kỳ phát dục hàng năm cũng như trong chu kỳ phát dục cả đời sống của cây.
Mặc dù trong điều kiện của nước ta, về mùa đông cây chè tạm ngừng sinh trưởng, nhưng vẫn yêu cầu lượng dinh dưỡng tối thiểu, do đó việc cung cấp dinh dưỡng cho cây cần đầy đủ và thường xuyên trong năm [9]. Quá trình sinh trưởng dinh dưỡng và sinh trưởng sinh thực của cây chè không có giới hạn rõ ràng và là một quá trình mâu thuẫn thống nhất. Vì vậy, cần phải bón phân hợp lý để khống chế quá trình sinh thực cho chè hái búp và khống chế quá trình sinh trưởng dinh dưỡng cho chè thu hoạch giống. Khả năng thích ứng với điều kiện dinh dưỡng của cây chè rất rộng rãi.
Nó có thể sống ở nơi đất rừng màu mỡ mới khai phá song cũng có thể sống ở những nơi đất nghèo dinh dưỡng và vẫn cho năng suất nhất định. Do đặc điểm đó, muốn nâng cao năng suất chè cần phải bón phân đầy đủ các chất dinh dưỡng cần thiết cho cây như Đạm, lân, Kaly và một số nguyên tố trung lượng, vi lượng khác. n 7 Trong cây, hàm lượng đạm tập trung nhiều nhất ở các bộ phận non như búp và lá non, đạm có ảnh hưởng rõ rệt đến sinh trưởng của cây và có ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất. Đối với cây chè, phân đạm làm tăng năng suất chè, kích thích cho mầm và búp sinh trưởng khoẻ, nếu bón đạm đầy đủ sẽ làm tăng phẩm chất chè.
Cây chè thiếu đạm thì lượng đạm trong lá biến động từ 2,2 - 2,4%, trong búp non khoảng 3 - 3,5%. Cây chè đủ Đạm thì hàm lượng đạm trong lá từ 2,9 - 3,4%, trong búp từ 4,7 - 5%. Thiếu đạm cây sinh trưởng kém, lá nhỏ, búp nhỏ và búp bị mù nhiều, do đó năng suất thấp. Yêu cầu về đạm thay đổi tùy theo loại đất tuổi của cây và năng suất của vườn chè [12].
Tài liệu của trại thí nghiệm chè Phú Hộ - Phú Thọ cho thấy bón đạm đầy đủ, sản lượng búp chè tăng 2 - 2,5 lần so với đối chứng không bón.L Bziava (1973) liều lượng đạm tăng, sản lượng búp sẽ tăng, song để đạt được năng suất 10 tấn/ha bón 200 kg đạm/ha cho hiệu quả kinh tế cao nhất. Nghiên cứu khi bón phân đạm cho chè, nhiều tài liệu ở nước ngoài như Nhật Bản, Ấn Độ, Xrilanca. đều cho rằng bón đạm không hợp lý, bón quá nhiều hoặc bón đơn độc đều làm giảm chất lượng chè (đặc biệt là đối với nguyên liệu dùng để chế biến chè đen). Những công trình nghiên cứu của Liên Xô cho thấy liều lượng đạm 300kg/ha thì hàm lượng tanin, cafein và vật chất hòa tan trong búp chè đều cao, có lợi cho phẩm chất, song nếu vượt quá giới hạn trên thì phẩm chất chè giảm thấp.
Khi bón nhiều đạm hàm lượng protein ở trong lá tăng lên. Protein kết hợp với tanin thành các hợp chất không tan vì thế lượng tanin trong chè bị giảm đi. Mặt khác khi bón nhiều đạm, hàm lượng ancaloit trong chè tăng lên làm cho chè có vị đắng [18]. Phân lân tạo cho bộ rễ phát triển tốt, nâng cao phẩm chất, đồng thời có hiệu lực lâu dài với việc tăng năng suất búp.
Cây chè thiếu lân sẽ có hàm lượng lân trong lá khoảng 0,27 - 0,28%, trong búp từ 0,50 - 0,70%. Ở cây chè đủ lân trong lá có từ 0,33 - 0,39%, trong búp khoảng 0,86%. Theo các tài liệu nghiên cứu của Liên Xô cũ, bón lân có ảnh hưởng tăng năng suất và phẩm n 8 chất búp chè rõ rệt. Đimitrôva (1965) cho rằng hiệu quả của phân lân được nâng lên một cách rõ rệt trên đất đã được bón N, K.
Ngược lại hiệu quả của phân lân thấp không những do lân bị cố định trong đất mà còn do đất thiếu N, K. Một đặc điểm cần chú ý là hiệu quả về sau của lân kéo tới 20 - 25 năm. Trên đất đỏ (Liên Xô) hiệu quả về sau của lân thường cao hơn những năm bón trực tiếp. Theo nghiên cứu của F.
Urusatze thì hiệu quả trực tiếp của 3 năm bón lân với liều lượng 120 - 960kg/ha trên nền N, K là tăng sản lượng búp 5 -30% so với đối chứng bón N, K. Song hiệu quả tăng sản bình quân trong 21 năm về sau là 60 - 78%. Ở nước ta, việc nghiên cứu hiệu quả của phân lân đối với năng suất và phẩm chất búp được triển khai còn ít. Song kết quả sơ bộ rút ra từ thí nghiệm 10 năm bón phân N, P, K cho chè tại trại thí nghiệm chè Phú Hộ cho thấy: trên cơ sở bón 100 kgN/ha, bón thêm 50kg P2O5 qua từng năm không có sự chênh lệch gì đáng kể về năng suất, nhưng từ năm thứ 7 trở đi bội thu tăng dần một cách rõ rệt và để chúng qua 10 năm thì supe lân tỏ ra có hiệu lực chắc chắn và đáng tin cậy.
Bình quân 10 năm 1kg P2O5 đã làm tăng được 3,5kg búp chè. Phân Kali làm tăng tính chống chịu của cây, đồng thời tăng năng suất và phẩm chất chè. Thiếu K ở cây chè cần được phát hiện sớm để bón phân khác khác phục kịp thời, vì việc phục hồi sinh trưởng khó khăn hơn là thiếu các nguyên tố khác. Trên những nương chè mới trồng, bón phân Kali không có hiệu quả vì trên những loại đất mới khai phá hàm lượng K2O trong đất đủ cho yêu cầu sinh trưởng phát triển của cây (20 - 25mg K2O/100 gam đất) ở những nơi thường xuyên bón N, K với liều lượng cao trong nhiều năm, đất trở nên thiếu Kali thì hiệu quả việc bón K2O rất rõ rệt.
Kết quả sử dụng phân Kali cho những nương chè sản xuất ở ta rất rõ rệt. Kali có ảnh hưởng tốt đến sinh trưởng và sản lượng búp.1: Lượng phân bón cho mỗi ha chè kinh doanh Số Lượng Loại lần Thời gian Loại chè phân Phương pháp bón phân bón bón (tháng) (kg) 1 2 3 4 5 6 Các loại hình kinh Hữu 25.000- 1 12-1 Rạch hàng sâu 20- doanh 3 năm một lần cơ 30.000 25cm trộn đều bón P2O5 100 1 12-1 xong lấp kín Năng suất búp dưới 60 N 100-120 3-4 2;4;6;8 Cuốc hố hoặc rạch tạ/ha hang sâu 10-15 cm P2O5 40-60 1 2 bón đều phân lấp K2O 60-80 2 2, 4 kín. Năng suất búp từ 60-80 N 150-180 3-4 2;4;6;8 Cuốc hố hoặc rạch tạ/ha hang sâu 10-15 cm P2O5 60-100 2 2 bón đều phân lấp K2O 60-100 4 2 kín. Năng suất búp từ 120 N 300-600 3-5 1,3,5,7,9 Cuốc hố hoặc rạch tạ/ha trở lên hang sâu 10-15 cm P2O5 160-200 1 1 bón đều phân lấp K2O 200-300 2-3 1,5,9 kín.
Ngoài các loại phân bón vô cơ, phân hữu cơ là loại phân không thể thiếu. Phân hữu cơ có tác dụng tốt cho chè vừa làm tăng năng suất búp, chất lượng búp mà còn có khả năng cải tạo đất tốt và lâu dài. Bón phân hữu cơ cho chè ngoài việc cung cấp thức ăn cho cây, còn có tác dụng cải thiện tính chất vật lý, hóa học, sinh vật học và chế độ nước trong đất. Nguồn phân hữu cơ gồm có phân chuồng (Phân trâu, bò, lợn, gà.), và các phân hữu cơ có nguồn gốc thực vật (Phân xanh, hạt đậu tương nghiền, ngâm.2: Thành phần hóa học của các loại phân sử dụng trong thí nghiệm.
Đơn vị % Các Loại Tổng Chất hợp N P2O5 K2O MgO Axmin Vitamin phân số hữu cơ chất khác Trâu bò 100,0 0,50 0,27 0,65 0.13 15,65 82,80 Phân gà 100,0 3,8 5,6 3,85 0,74 86,00 0,01 Đậu 100,0 0,6 36,0 0,26 34,40 28,74 tương Ure 100,0 46,0 54,0 KCl 100,0 60,0 40,0 Supelan 100,0 17,0 83,0 (Nguồn: Phòng phân tích; Viện KHKT nông lâm nghiệp miền núi phía bắc). Các số liệu ở bảng 1.