Chương 1. Cơ sở lý luận về hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trường THPT. Thực trạng hoạt động giáo dục kỹ năng sống ở trường THPT Mạc Đĩnh Chi tỉnh Hải Dương. Một số biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động giáo dục kỹ năng sống tại trường THPT Mạc Đĩnh Chi tỉnh Hải Dương.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH TRƯỜNG THPT 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1. Trên thế giới Từ những năm 90 của thế kỉ XX, thuật ngữ “Kĩ năng sống” đã xuất hiện trong một số chương trình giáo dục của UNICEF, trước tiên là chương trình “giáo dục những giá trị sống” với 12 giá trị cơ bản cần giáo dục cho thế hệ trẻ. Những nghiên cứu về KNS trong giai đoạn này mong muốn thống nhất được một quan niệm chung về KNS cũng như đưa ra được một bảng danh mục các KNS cơ bản mà thế hệ trẻ cần có.
Phần lớn các công trình nghiên cứu về KNS ở giai đoạn này quan niệm về KNS theo nghĩa hẹp, đồng nhất nó với các kĩ năng xã hội. Dự án do UNICEF tiến hành tại một số nước trong đó có các nước Đông Nam Á là một trong những nghiên cứu có tính hệ thống và tiêu biểu cho hướng nghiên cứu về KNS nêu trên. Do yêu cầu của sự phát triển kinh tế xã hội và xu thế hội nhập cùng phát triển của các quốc gia nên hệ thống giáo dục của các nước đã và đang thay đổi theo định hướng khơi dậy và phát huy tối đa các tiềm năng của người học; đào tạo một thế hệ năng động, sáng tạo, có những năng lực chủ yếu như (như năng lực thích ứng, năng lực tự hoàn thiện, năng lực hợp tác, năng lực hoạt động xã hội) để thích ứng với những thay đổi nhanh chóng của xã hội. Theo đó, vấn đề GDKNS cho thế hệ trẻ nói chung, cho học sinh phổ thông nói riêng được đông đảo các nước quan tâm.
Kế hoạch hành động DaKar về gióa dục cho mọi người (Senegan) yêu cầu mỗi quốc gia cần đảm bảo cho người học được tiếp cận chương trình giáo dục KNS phù hợp. Trong giáo dục hiện đại, KNS của người học là một tiêu chí về chất lượng giáo dục. Do đó, khi đánh giá chất lượng giáo dục phải tính đến những tiêu chí đánh giá KNS của người học. Mặc dù, GDKNS cho học sinh đã được nhiều nước quan tâm và cùng xuất phát từ quan niệm chung về KNS của Tổ chức Y tế thế giới hoặc của UNESCO, nhưng quan niệm và nội dung GDKNS ở các nước không giống 6 7 nhau.
Ở một số nước, nội hàm của khái niệm KNS được mở rộng, trong khi một số nước khác xác định nội hàm của khái niệm KNS chỉ gồm những khả năng tâm lí, xã hội. Quan niệm, nội dung GDKNS được triển khai ở các nước vừa thể hiện cái chung mang tính đặc thù (những nét riêng) của từng quốc gia. Mặt khác, ngay trong một quốc gia, nội dung GDKNS trong lĩnh vực giáo dục chính quy và không chính quy cũng có sự khác nhau. Trong giáo dục không chính quy ở một số nước, những kĩ năng cơ bản như đọc, viết, nghe, nói được noi là những KNS cơ sở khi trong giáo dục chính quy, các KNS cơ bản lại được xác định phong phú hơn theo các lĩnh vực quan hệ của cá nhân.
Do phần lớn các quốc gia đều mới bước đầu triển khai GDKNS nên những nghiên cứu lí luận về vấn đề này mặc dù khá phong phú song chưa thật sự toàn diện và sâu sắc. Cho đến nay, chưa có quốc gia nào đưa ra được kinh nghiệm hoặc hệ thống tiêu chí đánh giá chất lượng KNS. Theo tổng thuật của UNESCO, có thể khái quát những nét chính trong các nghiên cứu này như sau: - Nghiên cứu xác định mực tiêu của GDKNS: Hội thảo Bali khái quát báo cáo tham luận của các quốc gia tham gia hội thảo về GDKNS cho thanh thiếu niên đã xác định mục tiêu của GDKNS trong giáo dục không chính quy của các nước vùng Châu Á - Thái Bình Dương là: nhằm nâng cao tiềm năng của con người để có hành vi thích ứng và tích cực nhằm đáp ứng nhu cầu, sự thay đổi, các tình huống của cuộc sống hàng ngày, đồng thời tạo ra sự thay đổi và nâng cao chất lượng cuộc sống. - Nghiên cứu xác định chương trình và hình thức GDKNS: Đây là nội dung được nhiều công trình nghiên cứu quan tâm.
Các nghiên cứu này cho thấy: chương trình, tài liệu GDKNS được thiết kế cho giáo dục không chính quy là phổ biến và rất đa dạng về hình thức. Cụ thể: + Lồng ghép vào chương trình dạy chữ (chương trình các môn học ) ở các mức độ khác nhau. Ví dụ: có nước lồng ghép dạy kĩ năng sống vào các trình 7 8 dạy chữ cơ bản nhằm xóa mù chữ. Bên cạnh dạy chữ có kết hợp dạy kĩ năng làm nông nghiệp, kĩ năng bảo tồn môi trường, sức khỏe, kĩ năng phòng chống HIV/AIDS.
+ Dạy các chuyên đề cần thiết cho người học. Ví dụ: tạo thu nhập; môi trường, kĩ năng nghề; kĩ năng kinh doanh. - Malawi, Campuchia: Kĩ năng sống trở thành một môn học riêng biệt. - Su đăng: Kĩ năng sống được lồng ghép vào giáo dục công dân.
- Mianma: Có các chủ đề giáo dục KNS trong chương trình giảng dạy: sức khỏe và vệ sinh cá nhân, sự phát triển thể chất, sức khỏe tâm thần, phòng tránh các bệnh như tiêu chảy, rối loạn do thiếu iot, lao phổi, sốt rét, ,ma túy, HIV/AIDS, kĩ năng ra quyết định , kĩ năng truyền thông và tự diễn đạt, kĩ năng giao tiếp và hợp tác, kĩ năng xử lý cảm xúc, khuyến khích lòng tự trọng. Như vậy, giáo dục KNS cho học sinh là một vấn đề đang được nhiều nước trên thế giới quan tâm và tập trung nghiên cứu, đưa vào nhà trường [1]. Ở Việt Nam Thuật ngữ KNS được người Việt Nam bắt đầu biết đến từ chương trình của UNICEF (1996) “Giáo dục kĩ năng sống để bảo vệ sức khỏe và phòng chống HIV/AIDS cho thanh thiếu niên trong và ngoài nhà trường”. Thông qua quá trình thực hiện chương trình này, nội dung của khái niệm KNS và GDKNS ngày càng được mở rộng.
Trong giai đoạn đầu tiên, khái niệm KNS được giới thiệu trong chương trình này chỉ bao gồm những KNS cốt lõi như: kĩ năng tự nhận thức, kĩ năng giao tiếp, kĩ năng xác định giá trị, kĩ năng ra quyết định, kĩ năng kiên định và kĩ năng đạt mục tiêu. Ở giai đoạn này, chương trình chỉ tập trung vào các chủ đề giáo dục sức khỏe của thanh thiếu niên. Giai đoạn 2 của chương trình mang tên “Giáo dục sống khỏe mạnh và KNS”. Trong giai đoạn này nội dung của khái niệm KNS và GDKNS đã được phát triển sâu sắc hơn.
Cùng với việc triển khai chương trình nêu trên, vấn đề KNS và GDKNS cho học sinh đã được quan tâm nghiên cứu. Những nghiên cứu về các vấn đề 8 9 trên ở giai đoạn này có xu hướng xác định những kĩ năng cần thiết ở các lĩnh vực hoạt động mà thanh thiếu niên tham gia và đề xuất các biện pháp để hình thành những kĩ năng này cho thanh thiếu niên (trong đó có học sinh THPT). Một số công trình nghiên cứu tiêu biểu cho hướng nghiên cứu này là: Cẩm nang tổng hợp kĩ năng hoạt động thanh thiếu niên, của tác giả Phạm Văn Nhân (2002); Kĩ năng thanh niên tình nguyện, tác giả Trần Thời (1998) [1]. Một trong những người đầu tiên có những nghiên cứu mang tính hệ thống về KNS và GDKNS ở Việt Nam là tác giả Nguyễn Thanh Bình.
Với một loạt các bài báo, các đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ và giáo trình, tài liệu tham khảo như: Giáo dục kĩ năng sống (Chuyên đề cao học, năm 2006), Giáo dục kĩ năng sống (Giáo trình cho sinh viên Cao đẳng sư phạm, năm 2007). Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thanh Bình và cộng sự với đề tài Xây dựng và thực nghiệm một số chủ đề giáo dục kĩ năng sống cơ bản cho học sinh Trung học phổ thông (Đề tài NCKH cấp Bộ, năm 2008), Những nghiên cứu và thực hiện chương trình giáo dục kĩ năng sống ở Việt Nam (năm 2003). Tác giả Nguyễn Thanh Bình đã góp phần đáng kể vào việc tạo ra những hướng nghiên cứu về KNS và GDKNS ở Việt Nam. Bên cạnh đó còn kể đến các nghiên cứu của các tác giả Phạm Minh Hạc như: Phát triển toàn diện con người trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa (năm 2001).
Phạm Đình Nghiệp với các nghiên cứu: Tìm hiểu một số thuật ngữ về công tác thanh niên (năm 1999), Giáo dục tư tưởng cách mạng cho thế hệ trẻ Việt Nam trong tình hình mới (năm 2000). Tác giả Vương Thanh Hương và Nguyễn Minh Đức với nghiên cứu Thực trạng phạm tôi của học sinh - sinh viên Việt Nam trong mấy năm gần đây và vấn đề giáo dục pháp luật trong nhà trường ( năm 1995). Ngoài ra còn có một số luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ quan tâm nghiên cứu về vấn đề này [1]. Các công trình của các tác giả trên tập trung nghiên cứu về KNS và GDKNS ở Việt Nam theo các hướng chính sau [3]: - Xác định những vấn đề lí luận cốt lõi về KNS và GDKNS.
- Nghiên cứu so sánh GDKNS ở Việt Nam với một số quốc gia khác. 9 10 - Nghiên cứu về GDNGLL và sự phối kết hợp các lực lượng giáo dục trong việc tổ chức hoạt động GDNGLL ở ngoài trường. - Nghiên cứu hoạt động GDNGLL ở trường phổ thông nhấn mạnh vai trò chủ thể trong hoạt động tập thể và các hình thức tổ chức hoạt động GDNGLL. - Nghiên cứu về thực hiện các nội dung giáo dục khác nhau thông qua hoạt động GDNGLL như giáo dục môi trường, giáo dục giá trị đạo đức; giáo dục ý thức pháp luật.thông qua hoạt động GDNGLL.
Qua tập hợp nghiên cứu, phân tích tổng hợp và tổng quan vấn đề từ việc khảo sát các đề tài liên ở trong nước và có thể đưa ra nhận định: - Chủ yếu các đề tài phân tích làm rõ thực trạng trước tính cấp bánh của vấn đề KNS, chưa tập trung giải quyết nhiệm vụ nghiên cứu lí luận một cách có hệ thống về phương pháp, hình thức giáo dục KNS cho học sinh, sinh viên nói chung và học sinh THPT nói riêng. - Các đề tài đã đề cập đến những hình thức GDKNS cụ thể và chưa có kết quả thử nghiệm rõ ràng, cụ thể nên tính thuyết phục cao.