CHƯƠNG 1. CƠ SỞ PHÁP LÝ, NHU CẦU XÂY DỰNG KỸ NĂNG NGHỀ NGHIỆP CHO SINH VIÊN LUẬT QUA THỰC TẾ HÀNH NGHỀ LUẬT SƯ, CÔNG CHỨNG 1. Chuẩn đầu ra của trường Đại học Luật, Đại học Huê Theo Quyết định của Hiệu trưởng Trường Đại học Luật, Đại học Huế về chuẩn đầu ra đào tạo trình độ đại học ngành Luật và ngành Luật Kinh tế thì sinh viên tốt nghiệp chương trình đào tạo cần phải trang bị cho mình những kiến thức và năng lực chuyên môn cũng như những kỹ năng cơ bản và kỹ năng pháp lý chuyên ngành để phục vụ cho công việc của bản thân sau này. Những trang bị về kiến thức và kỹ năng đó được thể hiện cụ thể như sau: 1.
Chuẩn đầu ra đào tạo trình độ đại học ngành Luật Kinh tế a, Về kiến thức và năng lực chuyên môn Sinh viên tốt nghiệp chương trình đào tạo ngành Luật Kinh tế: 13 Thứ nhất, sinh viên có khả năng hiểu và vận dụng được vào thực tiễn hệ thống tri thức khoa học lý luận chính trị để hình thành thế giới quan và phương pháp luận, từ nền tảng đó sinh viên có thể độc lập tiếp cận và luận giải về các vấn đề hiện đại về nhà nước và pháp luật; Thứ hai, sinh viên có khả năng hiểu và vận dụng các kiến thức nền tảng khoa học xã hội vào việc giải quyết các vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến chương trình đào tạo ngành Luật Kinh tế; Thứ ba, sinh viên thông hiểu và có khả năng vận dụng các kiến thức cơ bản theo khối ngành và kiến thức cơ sở ngành vào giải quyết những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến hoạt động kinh doanh thương mại như: mối quan hệ giữa Nhà nước và thị trường; mối quan hệ giữa các chủ thể kinh doanh trong xác lập, thực hiện giao dịch kinh doanh thương mại; trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo hộ quyền tự do kinh doanh và thiết lập môi trường kinh doanh an toàn, lành mạnh cho các chủ thể kinh doanh; trách nhiệm của Nhà nước trong việc giải quyết tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh thương mại. Thứ tư, sinh viên có khả năng thông hiểu và vận dụng các kiến thức ngành Luật vào các lĩnh vực pháp luật liên quan đến hoạt động kinh doanh thương mại như: Quyền sở hữu của doanh nghiệp đối với tài sản, sử dụng tài sản trong thời kỳ hôn nhân để tham gia hoạt động kinh doanh thương mại; trách nhiệm hình sự trong hoạt động kinh doanh; khuôn khổ pháp luật quốc tế điều chỉnh hoạt động thương mại giữa các quốc gia và các định chế thương mại quốc tế; cơ chế giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại có yếu tố nước ngoài trong pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế. Thứ năm, sinh viên có khả năng thông hiểu và vận dụng được các kiến thức pháp lý chuyên ngành luật trong lĩnh vực pháp luật dân sự, kinh doanh, thương mại để giải quyết các tình huống phát sinh trong đời sống kinh doanh phù hợp với pháp luật quốc gia, pháp luật và tập quán thương mại quốc tế, đạo đức kinh doanh. 14 Thứ sáu, sinh viên có khả năng vận dụng kiến thức thực tế, thực tập để có thể làm quen với các công việc trong tương lai và thích ứng với những thay đổi của môi trường làm việc.
Có năng lực dẫn dắt, thuyết phục về chuyên môn đã được đào tạo; có sáng kiến trong quá trình thực hiện nhiệm vụ được giao; có khả năng tự học tập, tích lũy kiến thức, kinh nghiệm để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ; có năng lực lập kế hoạch, điều phối, phát huy trí tuệ tập thể. b, Về kỹ năng Thứ nhất, về kỹ năng cứng sinh viên có kỹ năng hoàn thành công việc phức tạp đòi hỏi vận dụng kiến thức lý thuyết và thực tiễn của ngành Luật Kinh tế trong những tình huống cụ thể; có kỹ năng phân tích, tổng hợp, đánh giá dữ liệu và thông tin để đưa ra quan điểm, nhận định vấn đề mang tính cá nhân và kỹ năng tổng hợp ý kiến tập thể; Thứ hai, kỹ năng tra cứu thành thạo các văn bản pháp luật, phân tích luật, lựa chọn và áp dụng đúng các quy định của pháp luật để giải quyết những vấn đề phát sinh trong thực tiễn; Thứ ba, sinh viên có kỹ năng tư duy hệ thống, nhận thức, phân tích, đánh giá các vấn đề pháp lý liên quan đến việc điều chỉnh bằng pháp luật đối với hoạt động kinh doanh thương mại; Thứ tư, sinh viên có kỹ năng nhận diện, đánh giá mối liên hệ giữa sự kiện, tình huống phát sinh trong hoạt động kinh doanh với các quy phạm pháp luật và đưa ra được phương án giải quyết tình huống kinh doanh thương mại đúng pháp luật, đạo đức kinh doanh; Thứ năm, sinh viên có kỹ năng cơ bản trong đàm phán, giao kết và tổ chức thực hiện các hợp đồng, thỏa thuận kinh doanh – thương mại; Thứ sáu, sinh viên có kỹ năng cơ bản trong giải quyết các tranh chấp kinh doanh – thương mại; Bước đầu có khả năng tư vấn pháp luật kinh doanh (công ty, nhân hàng, bảo hiểm, thuế, kiểm toán, chứng khoán, tài chính, tài nguyên, môi trường, sở hữu trí tuệ…) một cách độc lập; 15 Thứ bảy, sinh viên có kỹ năng cơ bản trong chuẩn bị thủ tục pháp lý liên quan đến thành lập và quản trị doanh nghiệp. Có kỹ năng tiếp nhận và ứng dụng các kết quả nghiên cứu liên quan đến lĩnh vực pháp luật kinh doanh vào thực tiễn; bước đầu hình thành năng lực sáng tạo, phát triển trong nghề nghiệp; Quan trọng nhất, sinh viên có khả năng tổng kết được các bài học kinh nghiệm nghề nghiệp cho bản thân từ thực tiễn trên cơ sở đối chiếu với các kiến thức đã được trang bị. Ngoài những kỹ năng cứng (kỹ năng nghề nghiệp), sinh viên còn được trang bị những kỹ năng mềm (kỹ năng bổ trợ) như sau: Sinh viên có kỹ năng làm việc độc lập và kỹ năng làm việc nhóm; kỹ năng giao tiếp, trình bày và thuyết trình; kỹ năng giải quyết công việc một cách logic và sáng tạo; khi gặp hoàn cảnh, thực tiễn thay đổi, sinh viên có khả năng thích ứng và hòa nhập nhanh.
Bên cạnh có, sinh viên bước đầu có khả năng phản biện xã hội đối với những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước nhằm xây dựng, kiến tạo chính sách, thể chế trong tương lai; Về ngoại ngữ, sinh viên có kỹ năng ngoại ngữ chuyên ngành ở mức có thể hiểu được các ý chính của một báo cáo hay bài phát biểu về các chủ đề quen thuộc trong công việc liên quan đến ngành được đào tạo; có thể sử dụng ngoại ngữ để diễn đạt, xử lý một số tình huống chuyên môn thông thường; có thể viết được báo cáo có nội dung đơn giản, trình bày ý kiến liên quan đến công việc chuyên môn. Có khả năng sử dụng được các kỹ năng nghe, nói, đọc, viết và giao tiếp ngoại ngữ đạt trình độ tương đương bậc 3 theo khung năng lực Ngoại ngữ 6 bậc dành cho Việt Nam. Bên cạnh đó, sinh viên còn có khả năng sử dụng thành thạo máy tính và một số phần mềm văn phòng thông dụng để có thể soạn thảo tài liệu; quản lý dữ liệu qua các bảng tình; trình chiếu; khai thác Internet để tìm kiếm thông tin và liên lạc qua thư điện tử; xây dựng và quản lý được trang web đơn giản. Có khả năng tổ chức lưu trữ thông tin trên máy tính và sử dụng máy tính để giải quyết vấn đề thông dụng.
Có 16 kiến thức cơ bản để sử dụng các công cụ xử lý thông tin thông dụng (hệ điều hành, các phần mềm hỗ trợ công tác văn phòng và khai thác Internet…). Chuẩn đầu ra đào tạo trình độ đại học ngành Luật Đối với chuyên ngành Luật Kinh tế, chương trình đào tạo nghiêng về những kiến thức và kỹ năng chuyên sâu về pháp luật, thực tiễn pháp lý, pháp luật trong kinh doanh; khả năng nghiên cứu và xử lý những vấn đề pháp lý đặt ra trong thực tiễn hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và quản lý Nhà nước đối với doanh nghiệp. Đối với chuyên ngành Luật học, sinh viên được trang bị nhiều hơn kiến thức chung về vận dụng, thực hành các quy định pháp luật vào đời sống và quản lý nhà nước. a, Về kiến thức và năng lực chuyên môn Sinh viên tốt nghiệp chuyên ngành Luật học có khả năng hiểu và vận dụng được vào thực tiễn hệ thống tri thức khoa học lý luận chính trị để hình thành thế giới quan và phương pháp luận cho sinh viên có thể độc lập tiếp cận và luận giải về các vấn đề hiện đại về nhà nước và pháp luật, vận dụng các kiến thức nền tảng khoa học xã hội vào việc giải quyết các vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến chương trình đào tạo ngành Luật; Sinh viên có khả năng hiểu và có khả năng vận dụng các khối kiến thức cơ bản của nhóm ngành và cơ sở ngành vào việc nhận diện các vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến nhà nước và pháp luật như: phát hiện được quy luật phát triển của hiện tượng nhà nước và pháp luật dựa trên các quy luật phát triển của xã hội; xác định được vị trí của nhà nước và pháp luật trong quá trình phát triển của xã hội; mối quan hệ giữa nhà nước và pháp luật với tổ chức, cá nhân được tiếp cận dựa trên quyền; các mô hình tổ chức bộ máy nhà nước và khả năng vận dụng vào việc xây dựng và hoàn thiện bộ máy nhà nước Việt Nam trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; Khi phát sinh các tình huống thực tiễn trong đời sống, trong đòi hỏi của công việc gắn liền một số chức danh nghề nghiệp thuộc lĩnh vực pháp luật, sinh viên có 17 khả năng vận dụng các kiến thức nền tảng của khoa học ngành Luật để nhận biết và giải quyết tình huống.