Chương 1 THỰC TRẠNG VIỆC LÀM CỦA SINH VIÊN KHÓA 1 BỘ MÔN QUAN HỆ QUỐC TẾ - ĐH KHXH&NV TPHCM 1. Mô tả mẫu Bảng 1: Xếp loại tốt nghiệp Số Phần Xếp loại lượng trăm Trung bình 2 3.3% Trung bình khá 32 52.0% Khảo sát trên 61 sinh viên, thành phần tốt nghiệp loại trung bình khá đạt 32 sinh viên, chiếm tỷ lệ cao nhất (52.5%), số sinh viên tốt nghiệp loại khá đứng thứ 2 với 27 trường hợp, chiếm 44.3%, với sinh viên tốt nghiệp loại trung bình chỉ có 2 trường hợp chiếm 3.3% tổng số trường hợp khảo sát và hoàn toàn không có bất kỳ sinh viên nào tốt nghiệp loại giỏi. Trong chương trình đào tạo Khóa 1, được biết không có bất kỳ sinh viên nào đạt điểm trung bình học tập loại Giỏi, do đó, những mẫu khảo sát đã thể hiện đầy đủ những nhóm đánh giá của Bộ môn đối với sinh viên Khóa 1. Bảng 2: Tình trạng việc làm Việc làm Số lượng Tỷ lệ Có 53 86.0% Trong tổng số sinh viên tốt nghiệp Khóa 1 trong cuộc khảo sát cho thấy tỷ lệ có việc làm khá cao (53/61 mẫu, chiếm tỷ lệ 86.
Đây đã là một tỷ lệ không nhỏ, tuy nhiên, khi xem xét thêm số liệu thống kê về thời gian sử dụng chủ yếu, thời gian làm việc và thu nhập, cho ta thấy được mặt khác của vấn đề. Bảng 3: Việc sử dụng thời gian hiện tại 7 Số Sử dụng thời gian lượng Phần trăm Đang đi làm 53 86.0% Bảng 4: Mức Thu nhập hiện tại Số Thu nhập trong một tháng lượng Phần trăm Dưới 2 tr 16 26.2% Từ 2tr đến 3.5tr đến 5tr 14 23.3% Không trả lời 2 3.0% Bảng 5: Thời gian làm việc trong tuần Thời gian làm Số việc lượng Phần trăm Dưới 20 giờ 8 13.9% giờ Trên 40 giờ 12 19.7% Không trả lời 2 3.0% Như vậy, 3 bảng số liệu trên cho thấy rõ ràng hơn tình trạng việc làm của sinh viên Khóa 1. Trên thực tế, trong số 8 trường hợp không có việc làm, chỉ có 2 sinh viên hoàn toàn không có việc (không kê khai thu nhập và thời gian làm việc), 6 trường hợp còn lại có việc làm thời vụ hoặc bán thời gian. Như vậy, có thể thấy tỷ lệ sinh viên của Khóa 1 có việc làm là rất cao chứng tỏ chương trình đào tạo đã đáp ứng được bước đầu nhu cầu của các nhà tuyển dụng.
8 Một cuộc khảo sát bỏ túi với sinh viên các ngành trong Tường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Tp.HCM đã tốt nghiệp cho thấy với thời gian đầu (6 tháng khi vừa tốt nghiệp), đây là một tỷ lệ có việc làm rất cao. Tóm lại: – Sinh viên QHQT được khảo sát có đến 96% là có việc làm kể cả toàn thời gian và bán thời gian. – Chương trình đào tạo bước đầu đáp ứng được nhu cầu nhà tuyển dụng 2. Khả năng phù hợp với công việc 2.1 Đánh giá của Bộ môn và tình trạng việc làm Bảng 6: Tương quan việc làm và xếp loại tốt nghiệp Tình trạng việc Xếp loại tốt nghiệp làm Tổng Có Không cộng Trung bình 0 2 2 Trung bình khá 32 0 32 Khá 21 6 27 Tổng cộng 53 8 61 Bảng 7: Tương quan giữa xếp loại tốt nghiệp và thu nhập Tổng Xếp loại tốt Mức thu nhập hiện tại cộng nghiệp Từ 2tr đến Từ 3.5tr Không trả Dưới 2 tr 3.5tr đến 5tr Trên 5tr lời Trung bình 2 0 0 0 0 2 Trung bình khá 3 17 12 0 0 32 Khá 11 10 2 2 2 27 Tổng cộng 16 27 14 2 2 61 9 Qua 2 bảng số liệu tương quan trên, có thể thấy chỉ có sinh viên đạt tốt nghiệp loại Khá mới có mức thu nhập trên 5 triệu đồng/ tháng.
Các mức thu nhập còn lại được dàn trải khá đều. Tuy nhiên, bảng số liệu trên cũng cho thấy mặt khác của mối tương quan này: xét trên mặt bằng chung, nhóm sinh viên tốt nghiệp loại Khá có thu nhập thấp hơn nhóm sinh viên tốt nghiệp loại Trung bình khá. Để lý giải điều này, nhóm nghiên cứu đã tiến hành phỏng vấn sâu trên một số sinh viên thuộc 2 nhóm này. Kết quả cho thấy rằng những sinh viên tốt nghiệp loại Khá hầu hết xem công việc đang làm chỉ là những công việc mang tính chất tạm thời, vì có nhu cầu học cao hơn hoặc bổ sung thêm kiến thức ở các ngành học khác, trong khi các sinh viên tốt nghiệp loại Trung bình khá đều có xu hướng chọn việc làm ổn định.
Mặt khác, vào thời điểm làm bảng điều tra, nhiều sinh viên tốt nghiệp Khá cũng đang chờ những công việc phù hợp với trình độ và khả năng của mình. Đến nay, các sinh viên này đã tìm được việc làm vừa ý. Kết quả trên cho thấy xếp loại đánh giá của Bộ môn là tương đối chính xác với năng lực của sinh viên và phù hợp với nhu cầu của nhà tuyển dụng. Tóm lại: – Xếp loại tốt nghiệp của Bộ môn là hợp lý.
– Sinh viên không có việc làm là vì những lý do cá nhân.2 Đánh giá của sinh viên về vấn đề việc làm và chương trình đào tạo a. Yêu cầu tuyển dụng Bảng 8: Kiến thức và kỹ năng Cần thiết không? Số lượng Phần trăm Có 19 31.0% Bảng 8: Kinh nghiệm làm việc Cần thiết không? Số lượng Phần trăm Có 10 16.0% 10 Bảng 9: Quen biết Cần thiết không? Số lượng Phần trăm Có 5 8.0% Bảng 10: Sức khỏe Cần thiết không? Số lượng Phần trăm Có 21 34.0% Bảng 11: Trình độ ngoại ngữ Cần thiết không? Số lượng Phần trăm Có 53 86.0% Bảng 12: Trình độ vi tính Cần thiết không? Số lượng Phần trăm Có 27 44.0% Bảng 13: Ngoại hình Cần thiết không? Số lượng Phần trăm Có 23 37.0% 11 Bảng 14: Vốn sống Cần thiết không? Số lượng Phần trăm Có 5 8.0% Từ những đánh giá của sinh viên khóa 1, có thể thấy “Trình độ ngoại ngữ” được sinh viên lựa chọn nhiều nhất như là yếu tố hàng đầu đáp ứng nhu cầu của nhà tuyển dụng. Nói cách khác, ngoại ngữ là một thế mạnh của sinh viên ngành QHQT so với các sinh viên ngành khác. Trong chương trình giảng dạy, Bộ môn QHQT cũng đã tập trung đào tạo nhiều hơn về môn Anh văn so với chương trình chuẩn thông thường ở trường Đại học.
Tuy nhiên, chỉ mới dừng lại ở các kỹ năng cơ bản, đào tạo Anh văn chuyên ngành QHQT lại chưa được quan tâm đúng mức Xếp thứ 2 về kỹ năng giúp sinh viên có thể tìm được việc làm là kỹ năng tin học (44.3% tổng số lựa chọn). Tiếp theo là ngoại hình và sức khỏe với tỷ lệ lựa chọn lần lượt là 37. Song môn tin học và giáo dục thể chất lại chưa có thời lượng và chất lượng đào tào phù hợp cho xứng với tầm quan trọng của mình. Yêu cầu của nhà trường đối với sinh viên khi tốt nghiệp là phải có được bằng A tin học và bằng giáo dục thể chất, đó là những yêu cầu rất cơ bản, chưa đủ để tạo nên khả năng cạnh tranh cho sinh viên nếu sinh viên không tự trau dồi.
Các loại hình thể thao trong môn giáo dục thể chất vừa ít về số lượng (5 môn tự chọn bao gồm: bóng chuyền, bóng rổ, cầu lông, võ thuật, bóng đá), vừa ít về cường độ (3 tiết mỗi tuần) và số lượng (chỉ được dạy trong 2 năm học). Nhà trường chưa có một cơ chế hợp lý để khuyến khích sinh viên rèn luyện thể thao đều đặn và hợp lý. Tóm lại: – Bộ môn đã đào tạo đúng trọng tâm một phần yêu cầu của nhà tuyển dụng. – Kỹ năng tin học của sinh viên còn hạn chế.
– Môn Giáo dục thể chất cần được cải thiện. Khả năng sử dụng kiến thức Bảng 15: Khả năng sử dụng kiến thức học ở Đại học Số Phần lượng trăm 12 Có 28 45.2% Không trả lời 4 6.0% Thông qua bảng 15, nhóm nghiên cứu nhận thấy rằng lượng sinh viên đánh giá có thể áp dụng kiến thức được học trong nhà trường là tương đối cao, chiếm 45.9% các trường hợp được khảo sát. Bảng 16: Sử dụng khối kiến thức Kinh tế Số lượng Phần trăm Có 7 11.6% Không trả lời 3 4.0% Bảng 17: Sử dụng khối kiến thức Luật Số lượng Phần trăm Có 11 18.0% Không trả lời 3 4.0% Bảng 18: Sử dụng khối kiến thức chinh tri QHQT Số lượng Phần trăm Có 11 18.0% Không trả lời 3 4.0% Bảng 19: Sử dụng khối kiến thức Ngoại ngữ 13 Số lượng Phần trăm Có 54 88.6% Không trả lời 3 4.0% Bảng 20: Sử dụng khối kiến thức nghiệp vụ Số lượng Phần trăm Có 8 13.1% Không 48 82% Không trả lời 3 4.0% Từ bảng 16 đến bảng 20 cho thấy khả năng sử dụng các khối kiến thức đã được học ở Đại học vào trong công việc thực tế của sinh viên Khóa 1. Kết quả phù hợp với các bảng bên trên về những yếu tố giúp sinh viên dễ tìm được việc làm: có đến 88.5% lựa chọn Ngoại ngữ là khối kiến thức được sử dụng nhiều nhất trong công việc.
Tuy là một điểm mạnh của Bộ môn, nhưng theo cựu sinh viên Phạm Đức Thiện (hiện là giáo viên tiếng Anh tại trường Cao Đẳng Nguyễn Tất Thành), chương trình đào tạo môn Anh Văn của Bộ môn là chưa đủ, hầu hết các giảng viên đều không đủ chuyên môn và kinh nghiệm để dạy Anh văn chuyên ngành. Đây là thực tế đào tạo khóa 1 của Bộ môn khi thời gian đầu thành lập còn thiếu giáo viên, phải thỉnh giảng từ nhiều trường khác, đồng thời đội ngũ giảng viên, đặc việt là giảng viên Anh văn, đều còn trẻ, quá trình giảng dạy và cọ xát thực tể chưa nhiều. Bên cạnh đó, việc mỗi năm có 1 giáo viên phụ trách đứng lớp khiến giáo viên không theo sát được trình độ học của sinh viên để có những điều chỉnh và hướng dẫn phù hợp. Khi phỏng vấn sâu các nhà tuyển dụng, kết quả cho thấy sinh viên QHQT có khả năng giao tiếp tiếng Anh tốt nhưng vốn tiếng Anh chuyên ngành chưa đủ để đáp ứng nhu cầu công việc cao.
Vì thế, cần có giải pháp hợp lý để khắc phục tình trạng giảng viên trẻ còn thiếu kinh nghiệm và thời lượng quy định dành cho môn Anh văn tại trường Đại học của Bộ Giáo dục & Đào tạo còn hạn chế. Một khối kiến thức khác cũng không kém phần quan trọng trong công việc, nhưng với lượng kiến thức mang nặng tính lý thuyết đã được học tại trường Đại học, sinh viên không thể đáp ứng được nhu cầu thực tế: đó là khối kiến thức Luật.