Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Báo chí – Truyền thông với đề tài "Vấn đề sử dụng ảnh báo chí trên báo Viêng Chăn May (Khảo sát dữ liệu năm 2015)" của tác giả PhouThong KingLatTaNa tập trung khảo sát, phân tích thực trạng sử dụng ảnh trên cơ quan ngôn luận của Đảng bộ và chính quyền Thủ đô Viêng Chăn, nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào.

Trong bối cảnh truyền thông đại chúng hiện đại và sự phát triển của công nghệ kỹ thuật số, ảnh báo chí giữ vai trò là phương tiện chuyển tải thông tin trực quan, đồng thời là công cụ tuyên truyền định hướng xã hội. Tại Lào, nhật báo Viêng Chăn May (thành lập ngày 01/09/1975, tiền thân từ bản tin cách mạng và tờ Viêng Chăn Post) là một trong những cơ quan báo chí in quan trọng, chịu sự quản lý của Sở Thông tin, Văn hóa và Du lịch Thủ đô Viêng Chăn. Tờ báo duy trì tần suất xuất bản hàng ngày với lượng phát hành đạt từ 1.000 đến trên 1.500 bản/ngày, quy mô 21 trang (gồm 9 trang tuyên truyền chủ trương, chính sách và 12 trang quảng cáo, dịch vụ), sử dụng mật độ hình ảnh cao (trung bình 43 ảnh/số báo).

Tuy nhiên, qua khảo sát thực tế và quá trình thực tập cuối khóa của tác giả (từ ngày 11/01/2016 đến ngày 15/04/2016), việc khai thác ảnh trên báo Viêng Chăn May bộc lộ nhiều điểm hạn chế: phần lớn ảnh chỉ mang tính chất minh họa phụ trợ cho văn bản chữ viết chứ chưa phát huy đầy đủ chức năng thông tin độc lập; công tác kiểm duyệt và xử lý kỹ thuật biên tập ảnh còn lỏng lẻo; phương thức thể hiện còn nặng tính khuôn mẫu, dàn dựng cơ học, làm suy giảm tính chân thực vốn có của tác phẩm báo chí.

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài:

  1. Mô tả bức tranh tổng quan về ảnh báo chí và thực trạng việc sử dụng ảnh báo chí trên nhật báo Viêng Chăn May.
  2. Tạo cơ sở xác lập tiêu chí đối với tác phẩm ảnh báo chí, từ đó nâng cao hiệu quả sử dụng ảnh trên báo Viêng Chăn May.
  3. Góp phần bổ sung nguồn tài liệu tham khảo chuyên môn về ảnh báo chí cho người làm báo nói chung, đội ngũ phóng viên và biên tập viên tại báo Viêng Chăn May nói riêng.

Nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Xây dựng hệ thống lý luận gắn liền với đề tài: hệ thống hóa lý luận báo chí cách mạng, khái niệm, đặc điểm, tính chất, phân loại và chức năng của ảnh báo chí trên nhật báo in.
  2. Khảo sát, thống kê, phân tích và mô tả thực trạng, chỉ ra các ưu điểm cùng hạn chế của hoạt động sử dụng ảnh trên nhật báo Viêng Chăn May trong giai đoạn khảo sát.
  3. Rút ra bài học kinh nghiệm, phân tích nguyên nhân và đề xuất các nhóm giải pháp, khuyến nghị nhằm nâng cao chất lượng tác phẩm ảnh và hiệu quả trình bày ảnh tại tòa soạn.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Vấn đề sử dụng ảnh báo chí trên nhật báo Viêng Chăn May.
  • Phạm vi thời gian và tư liệu: Khảo sát hệ thống tác phẩm ảnh được đăng tải trên 100 số báo Viêng Chăn May phát hành từ tháng 01/2015 đến tháng 12/2015, tập trung vào các trang chính gồm trang nhất, trang 4 và trang 7.
  • Phạm vi không gian và đối sánh: Khảo sát tại Tòa soạn báo Viêng Chăn May (Thủ đô Viêng Chăn, CHDCND Lào), đồng thời mở rộng thu thập dữ liệu đối sánh tại hai cơ quan báo in lớn của Lào là báo Paxa Xôn (tiếng nói của Trung ương Đảng NDCM Lào) và báo Đất nước Lào.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận được triển khai dựa trên cơ sở nhận thức luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Kaysone Phomvihane, cùng quan điểm chỉ đạo, đường lối và pháp luật về báo chí – truyền thông của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào và Nhà nước CHDCND Lào.

Về mặt lý thuyết chuyên ngành, tác giả kế thừa và tổng hợp hệ thống quan điểm lý luận từ các công trình nghiên cứu:

  • Lý luận và nghiệp vụ báo chí: Giáo trình Cơ sở lý luận báo chí và Tác phẩm báo chí (Nguyễn Văn Dũng), Lao động nhà báo – Lý thuyết và kỹ năng cơ bản (Lê Thị Nhã), Ngôn ngữ báo chí (Vũ Quang Hào), Tổ chức nội dung và thiết kế và trình bày báo in (Hà Huy Phượng), Những trang báo đẹp (Mats Wikman, Phạm Thị Thúy Hằng).
  • Lý luận nhiếp ảnh và ảnh báo chí: Cơ sở lý luận ảnh báo chí (Nguyễn Tiến Mão), Kỹ thuật và tạo hình nhiếp ảnh (Đỗ Phan Ái), Ảnh báo chí (Brian Horton), Nhiếp ảnh báo chí (Petr Tausk), các luận điểm của Bozban Todorov, Kalinski, định nghĩa của tổ chức World Press Photo và họa sĩ Henri Matisse (1908).
  • Tâm lý học tiếp nhận truyền thông: Tâm lý học đại cương (Nguyễn Quang Uẩn chủ biên), Cơ sở tâm lý ứng dụng (Đặng Phương Kiệt chủ biên), Giáo trình tâm lý học báo chí (Đỗ Thị Thu Hằng).
  • Các công trình nghiên cứu thực chứng liên quan: Luận văn của Phạm Thị Mai Liên (2015), các khóa luận tốt nghiệp của Nguyễn Thị Mai (2008), Bùi Văn Hiếu (2009), Đặng Thanh Thủy (2009), Nguyễn Thị Sự (2013) tại Khoa Báo chí, Học viện Báo chí và Tuyên truyền.

Về phương pháp nghiên cứu, đề tài kết hợp phương pháp định lượng và định tính:

  • Phương pháp định lượng: Thiết kế và phân tích bảng mã nội dung trên 100 số báo Viêng Chăn May năm 2015 với tổng số 1.594 bài/tác phẩm báo chí; triển khai khảo sát bằng bảng hỏi anket đối với 200 độc giả tiếp nhận nhật báo Viêng Chăn May; toàn bộ dữ liệu thống kê được nhập và xử lý bằng phần mềm SPSS.
  • Phương pháp định tính: Phương pháp phân tích – tổng hợp tài liệu, phương pháp so sánh đối chiếu với các nhật báo Paxa Xôn, Đất nước Lào; phương pháp phỏng vấn sâu trực tiếp 07 nhân vật là lãnh đạo tòa soạn (Tổng biên tập, Phó Tổng biên tập, Thư ký tòa soạn, Trưởng ban) và phóng viên, biên tập viên tại các cơ quan báo chí khảo sát.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài nghiên cứu

Chương 1 hệ thống hóa toàn diện các vấn đề lý luận về thể loại ảnh báo chí, vai trò của hình ảnh trên nhật báo in và tổng quan lịch sử, tổ chức của báo chí cách mạng Lào cùng nhật báo Viêng Chăn May.

Tác giả điểm lại các mốc lịch sử nhiếp ảnh thế giới (phát minh buồng tối năm 1839 của viện hàn lâm Arago, bức ảnh báo chí sắc độ trung gian đầu tiên trên tờ Daily-Graphic năm 1880, công nghệ in của Georg Meisenbach năm 1881) và lịch sử nhiếp ảnh Việt Nam từ hiệu ảnh Cảm Hiếu Đường của Đặng Huy Trứ (1869) đến các nhà nhiếp ảnh tiền phong như Võ An Ninh, Lê Đình Ngữ.

Về bản chất, ảnh báo chí được cấu thành hữu cơ từ hai phần: hình ảnh thị giác (phản ánh 5W + 1H) và phần chú thích văn tự ("lời của ảnh"). Khóa luận phân tích 4 đặc điểm cốt lõi của ảnh báo chí:

  1. Sự gắn kết biện chứng giữa yếu tố thông tin (chi tiết khách quan của sự kiện) và yếu tố nghị luận (tư duy lý tính, quan điểm định hướng của nhà báo).
  2. Sự kết hợp tương hỗ giữa ngôn ngữ hình ảnh và ngôn ngữ văn tự.
  3. Khả năng phản ánh con người, sự kiện trong trạng thái hành động sống động.
  4. Tính chất tài liệu xác thực có giá trị minh chứng lịch sử.

Văn bản xác lập 5 tính chất nền tảng của ảnh báo chí: tính định hướng (tính Đảng/khuynh hướng chính trị), tính chân thật và xác thực, tính thời sự kịp thời, tính đại chúng và tính thẩm mỹ. Hệ thống thể loại ảnh báo chí được phân định thành 8 dạng thức chính: ảnh tin, ảnh bình luận, ảnh tường thuật, ảnh minh họa, ảnh tài liệu, phóng sự ảnh, ảnh ký sự và ảnh chân dung; đảm nhiệm 3 chức năng xã hội gồm giáo dục tư tưởng, quản lý – giám sát xã hội và phát triển văn hóa giải trí.

Đối với sản phẩm nhật báo, ảnh giữ vai trò cấu thành nội dung (kích thích tâm lý tiếp nhận thị giác, làm tăng độ tin cậy) và định hình diện mạo trang báo (tạo tâm điểm thị giác, điểm dừng chân cho mắt đọc). Khóa luận cũng so sánh tiêu chí báo chí giữa Lào và Việt Nam trên nền tảng phục vụ sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và chịu sự lãnh đạo của Đảng cầm quyền.

Về cơ cấu tổ chức nhật báo Viêng Chăn May, bộ máy tòa soạn do Tổng biên tập Thong Lươn Phim Ma Sản phụ trách chung (trực tiếp quản lý Phòng Hành chính), hỗ trợ bởi 2 Phó Tổng biên tập (Tha Nom Sy Chan Tha Nam phụ trách Phòng Tin tức và Phòng Bài báo; Keo Xon Phimmavong phụ trách Phòng Kỹ thuật – Marketing và Phòng Kinh tế – Xã hội), vận hành qua 5 phòng chức năng chuyên môn.


Chương 2: Kết quả khảo sát việc sử dụng ảnh báo chí trên báo Viêng Chăn May

Chương 2 trình bày các số liệu thực chứng từ việc khảo sát 100 số báo Viêng Chăn May phát hành trong năm 2015 qua bảng mã phân tích nội dung, đối chiếu trên 3 trang khảo sát (trang nhất, trang 4 và trang 7).

Khảo sát ghi nhận tổng số 1.594 bài/tác phẩm báo chí thuộc 6 nhóm chuyên mục: Chính trị, Văn hóa – Xã hội, Kinh tế, Thể thao, Giáo dục và Sức khỏe. Về mật độ xuất hiện của hình ảnh trong các bài đăng:

  • Bài đăng sử dụng từ 1 đến 2 ảnh chiếm tỷ trọng áp đảo: 80,5% (1.594 bài).
  • Bài đăng sử dụng từ 2 đến 3 ảnh chiếm tỷ trọng thứ hai: 15,0% (239 bài/ảnh).
  • Bài đăng sử dụng từ 3 đến 6 ảnh trở lên chiếm tỷ trọng thấp nhất: tỷ lệ nhỏ (72 bài/ảnh).

Tại trang nhất – nơi thể hiện diện mạo và các thông tin chủ đạo, tỷ lệ phân bố chủ đề của ảnh tiêu điểm (ảnh đinh) gắn cùng tiêu đề chính được thống kê như sau:

Chuyên mục nội dung trên trang nhất Tỷ lệ xuất hiện của ảnh đinh/tiêu điểm (%)
Chính trị 23,0%
Văn hóa – Xã hội 20,7%
Thể thao 15,7%
Kinh tế 15,0%
Giáo dục 13,5%
Sức khỏe 12,0%

Về thể loại tác phẩm ảnh xuất hiện trên trang nhất, kết quả phân tích 728 tác phẩm ảnh phân bổ theo từng chuyên mục cụ thể được tổng hợp chi tiết trong bảng số liệu sau:

Chuyên mục Ảnh chân dung (Tần suất) Ảnh chân dung (%) Ảnh sự kiện (Tần suất) Ảnh sự kiện (%) Tổng số bài/ảnh Tỷ lệ toàn mục (%)
Chính trị 47 28,0% 121 72,0% 168 100%
Văn hóa – Xã hội 57 37,7% 94 62,3% 151 100%
Kinh tế 39 35,8% 70 64,2% 109 100%
Thể thao 37 32,5% 77 67,5% 114 100%
Giáo dục 37 37,4% 62 62,6% 99 100%
Sức khỏe 53 60,9% 34 39,1% 87 100%
Tổng cộng 270 37,1% 458 62,9% 728 100%

Số liệu chỉ ra rằng loại hình ảnh sự kiện chiếm ưu thế chủ đạo trên trang nhất (62,9%), phản ánh hoạt động của lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các sự kiện kỷ niệm, khánh thành cơ sở hạ tầng hoặc tình hình lao động sản xuất. Riêng chuyên mục Sức khỏe có đặc thù tỷ lệ ảnh chân dung chiếm tỷ trọng cao hơn (60,9%). Kết quả phỏng vấn sâu 07 lãnh đạo và phóng viên cùng 200 bảng hỏi anket độc giả củng cố nhận định về tính trực quan của ảnh nhưng đồng thời xác nhận sự thiếu vắng các thể loại ảnh chuyên sâu như phóng sự ảnh hay ảnh bình luận.


Chương 3: Đánh giá thực trạng và đề xuất khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả việc sử dụng ảnh trên báo Viêng Chăn May

Dựa trên kết quả khảo sát định lượng và định tính, Chương 3 phân tích tổng hợp các mặt thành công, tồn tại, chỉ ra nguyên nhân và đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao chất lượng ảnh báo chí.

1. Đánh giá ưu điểm và hạn chế:

  • Ưu điểm: Báo Viêng Chăn May duy trì mật độ sử dụng ảnh lớn; trang nhất được trình bày cân xứng, căn lề đều hai bên; giao diện chuyên trang có sự thay đổi linh hoạt theo các sự kiện lớn; thông tin ảnh đảm bảo đúng tôn chỉ, mục đích chính trị của Đảng NDCM Lào.
  • Hạn chế: Ảnh đăng tải phần lớn giữ vai trò minh họa thụ động; công tác biên tập, duyệt ảnh thiếu chặt chẽ; hình thức thể hiện rập khuôn, lối mòn; một số tác phẩm bị can thiệp kỹ thuật hoặc dàn dựng làm mất tính tự nhiên; chú thích ảnh chưa cung cấp đầy đủ thông tin bối cảnh.

2. Nguyên nhân của thực trạng:

  • Năng lực chuyên môn, tư duy báo chí thị giác và kỹ năng tác nghiệp nhiếp ảnh của đội ngũ phóng viên, biên tập viên chưa đồng đều, còn thiếu hụt kiến thức nghiệp vụ chuyên sâu.
  • Quy trình tổ chức xuất bản và xử lý maket giữa các bộ phận (Phòng Tin tức, Phòng Bài báo với Phòng Kỹ thuật – Marketing) còn thiếu sự phối hợp chặt chẽ trong khâu thẩm định hình ảnh.
  • Điều kiện trang thiết bị kỹ thuật tác nghiệp, máy ảnh chuyên dụng và công nghệ in ấn còn hạn chế.

3. Đề xuất khuyến nghị và giải pháp:

  • Đối với đội ngũ phóng viên, biên tập viên: Tăng cường bồi dưỡng kỹ năng nhiếp ảnh báo chí, nâng cao bản lĩnh chính trị và đạo đức nghề nghiệp; đổi mới tư duy tiếp cận sự kiện, hạn chế tối đa việc dàn dựng; trau chuốt phần chú thích ảnh đầy đủ các yếu tố 5W + 1H.
  • Đối với Ban biên tập và Tòa soạn: Chuẩn hóa quy trình biên tập, thẩm định chất lượng hình ảnh trước khi chế bản; mở rộng không gian cho các thể loại phóng sự ảnh, ảnh tài liệu; đầu tư nâng cấp trang thiết bị công nghệ in ấn; bố trí lại layout trang báo theo hướng hiện đại, thông thoáng nhằm tối ưu hóa tầm nhìn thị giác của công chúng tiếp nhận.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã cung cấp một bức tranh toàn diện, có căn cứ khoa học về việc sử dụng ảnh trên một tờ nhật báo địa phương quan trọng tại Lào qua các kết quả cụ thể:

  • Thống kê chi tiết dung lượng 1.594 bài viết trên 100 số báo năm 2015, xác lập tỷ lệ bài có 1–2 ảnh đạt 80,5%, bài 2–3 ảnh đạt 15,0% và bài 3–6 ảnh chiếm tỷ lệ nhỏ.
  • Định lượng hóa cơ cấu 728 tác phẩm ảnh trên trang nhất (458 ảnh sự kiện chiếm 62,9%; 270 ảnh chân dung chiếm 37,1%) phân chia theo 6 nhóm đề tài.
  • Làm rõ cấu trúc phân bổ ảnh đinh trang nhất với chuyên mục Chính trị dẫn đầu (23,0%), kế tiếp là Văn hóa – Xã hội (20,7%), Thể thao (15,7%), Kinh tế (15,0%), Giáo dục (13,5%) và Sức khỏe (12,0%).
  • Đóng góp vào hệ thống lý luận báo chí truyền thông tại Lào bằng việc hệ thống hóa tiêu chuẩn tác phẩm ảnh, cung cấp cơ sở thực chứng giúp Ban biên tập báo Viêng Chăn May nhìn nhận các lỗ hổng nghiệp vụ để nâng cao chất lượng biên tập và quy trình xuất bản.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của nghiên cứu: Dữ liệu khảo sát định lượng chỉ giới hạn trong phạm vi 100 số báo phát hành của năm 2015 và tập trung khảo sát trên 3 trang đại diện (trang nhất, trang 4, trang 7), chưa bao quát toàn bộ 21 trang nội dung của tờ báo qua các năm khác nhau.
  • Hướng nghiên cứu mở rộng: Mở rộng phạm vi khảo sát xuyên suốt toàn bộ các trang nội dung và các chuyên trang quảng cáo/dịch vụ; thực hiện nghiên cứu so sánh định lượng đa biến giữa báo Viêng Chăn May với các nhật báo trung ương (Paxa Xôn) hoặc báo tiếng nước ngoài tại Lào; khảo sát xu hướng chuyển đổi và sử dụng ảnh trên nền tảng báo điện tử của báo chí Lào.

Giá trị tham khảo

Công trình là nguồn tư liệu hữu ích cho sinh viên, học viên chuyên ngành Báo chí, Truyền thông đại chúng, Xuất bản tại Việt Nam và Lào khi nghiên cứu về lịch sử báo chí Lào, nghiệp vụ ảnh báo in, thiết kế dàn trang và tâm lý học tiếp nhận hình ảnh.

Nội dung bảng mã phân tích nội dung, hệ số phân bổ thể loại ảnh theo chuyên mục và quy trình phỏng vấn chuyên gia tại Chương 2 là phần có giá trị thực tiễn cao, có thể dùng làm mẫu tham khảo phương pháp luận cho các đề tài nghiên cứu khảo sát báo in tương tự.


Câu hỏi thường gặp

1. Báo Viêng Chăn May có lịch sử hình thành và quy mô xuất bản như thế nào theo ghi nhận trong khóa luận?
Báo Viêng Chăn May thành lập ngày 01/09/1975 (tiền thân từ tờ Viêng Chăn Post), là cơ quan ngôn luận của Sở Thông tin, Văn hóa và Du lịch Thủ đô Viêng Chăn. Tờ báo có kích thước 37 cm x 50 cm, xuất bản hàng ngày với số lượng từ 1.000 đến trên 1.500 bản/ngày, dung lượng 21 trang (9 trang tuyên truyền đường lối chính sách và 12 trang quảng cáo, dịch vụ), sử dụng trung bình 43 ảnh/số báo.

2. Cơ cấu tổ chức bộ máy Ban biên tập báo Viêng Chăn May gồm những ai và quản lý các phòng ban nào?
Ban biên tập gồm 1 Tổng biên tập (Thong Lươn Phim Ma Sản, phụ trách chung và trực tiếp quản lý Phòng Hành chính) cùng 2 Phó Tổng biên tập (Tha Nom Sy Chan Tha Nam phụ trách Phòng Tin tức và Phòng Bài báo; Keo Xon Phimmavong phụ trách Phòng Kỹ thuật – Marketing và Phòng Kinh tế – Xã hội), điều hành tổng cộng 5 phòng chức năng.

3. Tỷ lệ sử dụng số lượng ảnh trong các bài đăng trên báo Viêng Chăn May năm 2015 được phân bố ra sao?
Theo kết quả khảo sát 100 số báo (1.594 bài viết), bài đăng có từ 1–2 ảnh chiếm tỷ lệ lớn nhất với 80,5% (1.594 bài); bài đăng có 2–3 ảnh chiếm 15,0% (239 bài); các bài đăng có từ 3–6 ảnh trở lên chiếm tỷ lệ thấp nhất (72 bài).

4. Phân loại tác phẩm ảnh trên trang nhất báo Viêng Chăn May giữa ảnh chân dung và ảnh sự kiện có sự chênh lệch thế nào?
Trong tổng số 728 tác phẩm ảnh khảo sát trên trang nhất, ảnh sự kiện chiếm đa số với 458 ảnh (tỷ lệ 62,9%), trong khi ảnh chân dung có 270 ảnh (tỷ lệ 37,1%). Chuyên mục Chính trị có 72% ảnh sự kiện (121 ảnh), còn chuyên mục Sức khỏe có tỷ lệ ảnh chân dung cao nhất đạt 60,9% (53 ảnh).

5. Nghiên cứu đã sử dụng những công cụ và cỡ mẫu nào để phục vụ phân tích dữ liệu?
Tác giả đã sử dụng bảng mã phân tích nội dung trên 100 số báo năm 2015 (1.594 bài đăng), phát 200 phiếu điều tra anket cho độc giả, phỏng vấn sâu 07 nhà báo/lãnh đạo cơ quan báo chí và ứng dụng phần mềm SPSS để xử lý toàn bộ dữ liệu thống kê.


Kết luận

Khóa luận của tác giả PhouThong KingLatTaNa đã phân tích có hệ thống thực trạng sử dụng ảnh trên nhật báo Viêng Chăn May dựa trên nguồn dữ liệu khảo sát thực chứng năm 2015. Công trình kết hợp chặt chẽ giữa khung lý luận báo chí cách mạng với các phương pháp định lượng (SPSS, 100 số báo, 200 bảng hỏi) và định tính (phỏng vấn sâu lãnh đạo báo chí) nhằm chỉ ra các ưu thế về mật độ ảnh cũng như những hạn chế về tính minh họa phụ thuộc và sự rập khuôn hình thức. Các khuyến nghị được đề xuất tập trung vào việc nâng cao kỹ năng nghiệp vụ cho người làm báo, cải tiến quy trình biên tập và hiện đại hóa thiết kế nhằm tối ưu hóa hiệu quả thông tin thị giác của tờ báo.