Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Xây dựng nông thôn mới là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước nhằm thay đổi toàn diện diện mạo kinh tế, văn hóa, xã hội và hạ tầng tại khu vực nông thôn Việt Nam. Trong tiến trình này, công tác thông tin, tuyên truyền giữ vai trò định hướng và phản ánh thực tiễn. Mặc dù báo chí đã triển khai nhiều hình thức tuyên truyền qua bài viết chuyên luận, chương trình truyền hình và phát thanh, song các tuyến phóng sự ảnh chuyên sâu về đề tài nông thôn mới vẫn còn thiếu vắng. Ảnh báo chí với đặc trưng thị giác trực tiếp và tính xác thực cao có khả năng cung cấp cái nhìn cụ thể, chân thực về những chuyển biến cũng như rào cản thực tế tại cơ sở.

Để xây dựng cơ sở thực tiễn và lý luận, tác giả đã kế thừa kết quả từ hai công trình học thuật đi trước:

  • Luận án “Nghiên cứu phát triển làng nghề gắn với chương trình xây dựng nông thôn mới ở tỉnh Bắc Ninh” (chuyên ngành Kinh tế nông nghiệp, năm 2014) của tác giả Lê Xuân Tâm, tập trung vào mối quan hệ biện chứng giữa bảo tồn, phát triển làng nghề với việc hoàn thiện các tiêu chí kinh tế - xã hội nông thôn mới.
  • Luận án “Nghiên Cứu, xây dựng các tiêu chí về nông thôn mới của tỉnh Bắc Kạn” (chuyên ngành Kinh tế học, năm 2010) của tác giả Đoàn Quang Thiệu, phân tích việc thực thi 19 tiêu chí nông thôn mới và vai trò chủ thể của cộng đồng dân cư.

Từ thực tiễn đó, sản phẩm tốt nghiệp xác định mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Mục đích nghiên cứu: Tìm hiểu quá trình xây dựng nông thôn mới hiện nay thông qua thể loại phóng sự ảnh; ghi nhận sự thay đổi diện mạo nông thôn, đánh giá các tiêu chí đã hoàn thành và những tiêu chí còn gặp nhiều khó khăn (đặc biệt là tiêu chí môi trường, cơ sở hạ tầng điện), đồng thời phản ánh các mô hình phát triển làng nghề và kinh tế trang trại tiêu biểu.
  2. Nhiệm vụ nghiên cứu:
    • Nhiệm vụ 1: Thực hiện các phóng sự ảnh thực địa nhằm phản ánh bức tranh tổng thể và thực trạng xây dựng nông thôn mới tại các địa phương.
    • Nhiệm vụ 2: Làm rõ những thay đổi tích cực, phân tích nguyên nhân thành công cũng như những thuận lợi, khó khăn đặc thù trong quá trình thực hiện các tiêu chí nông thôn mới tại từng địa bàn.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Quá trình triển khai, kết quả và những tồn tại trong xây dựng nông thôn mới tại các địa phương điển hình, được phản ánh qua các tác phẩm phóng sự ảnh báo chí.
  • Phạm vi không gian: Nghiên cứu và tác nghiệp thực địa tại 5 địa bàn thuộc khu vực phía Bắc:
    • Xã Lý Nhân, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc;
    • Xã Bồ Lý, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc;
    • Xóm Thung Chẩu, thôn Thanh Sơn, xã Thanh Nghị, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam;
    • Thôn Minh Khai, thị trấn Như Quỳnh, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên;
    • Thôn Đồng Đông, xã Đại Đồng Thành, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh.
  • Phạm vi thời gian: Thu thập tư liệu thực địa, phỏng vấn và ghi nhận số liệu báo cáo trong giai đoạn 2014–2015.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết của sản phẩm tốt nghiệp được xây dựng trên sự kết hợp giữa lý luận báo chí truyền thông và hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về xây dựng nông thôn mới:

  • Cơ sở lý luận báo chí: Hệ thống hóa các khái niệm về ảnh báo chí và phân loại thể loại ảnh (ảnh tin, ảnh tường thuật, ảnh bình luận, ảnh tài liệu). Trong đó, thể loại phóng sự ảnh (câu chuyện bằng ảnh) được xác định là phương thức phản ánh trọng tâm, sử dụng chuỗi hình ảnh liên kết theo trình tự thời gian hoặc không gian, chắt lọc các lát cắt điển hình để kể lại một câu chuyện thực tế có chiều sâu.
  • Khung pháp lý và tiêu chí nông thôn mới: Căn cứ theo Quyết định số 491/2009/QĐ-TTg ngày 16/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới, bao gồm 19 tiêu chí thuộc 5 nhóm lĩnh vực (Quy hoạch, Hạ tầng kinh tế - xã hội, Kinh tế và tổ chức sản xuất, Văn hóa - Xã hội - Môi trường, Hệ thống chính trị); Nghị quyết số 03 của Tỉnh ủy Vĩnh Phúc về phát triển nông nghiệp, nông thôn giai đoạn 2006–2010, định hướng 2020; cùng cơ chế hỗ trợ từ Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo theo Chương trình 135 của Chính phủ.

Phương pháp nghiên cứu và tác nghiệp thực tế được triển khai đồng bộ:

  • Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Thu thập, phân tích các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, báo cáo tổng kết kinh tế - xã hội cuối năm 2014 của các xã và các công trình nghiên cứu học thuật liên quan.
  • Phương pháp quan sát và khảo sát thực địa: Trực tiếp đến từng thôn, xóm, hộ gia đình, trạm y tế, trường học và xưởng sản xuất để khảo sát đời sống dân sinh, cơ sở hạ tầng và quy trình sản xuất.
  • Phương pháp phỏng vấn và trao đổi chuyên gia: Học hỏi kinh nghiệm tác nghiệp từ các phóng viên đi trước; phỏng vấn trực tiếp lãnh đạo địa phương (Phó Chủ tịch UBND xã Lý Nhân Nguyễn Ngọc Vụ, Chủ tịch UBND xã Bồ Lý Tô Thái Vinh, Chủ tịch UBND xã Thanh Nghị Nhữ Văn Thứ), cán bộ đoàn thể và các nhân vật trong phóng sự; kết hợp trao đổi gián tiếp qua điện thoại, email và mạng xã hội khi cần xác minh thông tin.
  • Nguồn dữ liệu: Dữ liệu hình ảnh chụp trực tiếp tại hiện trường; số liệu thống kê kinh tế - xã hội từ UBND các xã và thông tin định tính qua phỏng vấn người dân.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Lý luận chung về ảnh báo chí và xây dựng nông thôn mới

Chương 1 hệ thống hóa các vấn đề lý luận nền tảng cho việc sáng tạo tác phẩm báo chí về đề tài nông thôn mới:

  • Lý luận về ảnh báo chí: Định nghĩa ảnh báo chí là hình thức thông tin phản ánh hiện thực sinh động, chân thực, mang giá trị thẩm mỹ và tư tưởng. Phân biệt các thể loại cơ bản:
    • Ảnh tin: Truyền tải sự kiện thời sự, trả lời cấu trúc 5W + 1H (ai, tại sao, ở đâu, bao giờ, như thế nào).
    • Ảnh tường thuật: Nhóm từ 3 ảnh trở lên, kết hợp bài viết theo logic thời gian hoặc không gian.
    • Ảnh bình luận: Sử dụng hình ảnh làm luận cứ, thường phản ánh sự đối lập hoặc nghịch cảnh xã hội để đưa ra nhận định.
    • Ảnh tài liệu: Lưu giữ các giá trị lịch sử hoặc khoa học.
    • Phóng sự ảnh: Chuỗi hình ảnh thể hiện các lát cắt điển hình, sâu sắc, có chọn lọc chi tiết cốt lõi nhằm lột tả bản chất vấn đề.
  • Lý luận về xây dựng nông thôn mới: Trình bày khái niệm, nguyên tắc (phát huy vai trò chủ thể của người dân, lồng ghép các chương trình mục tiêu quốc gia, thực hiện theo quy hoạch) và quy trình 7 bước tổ chức thực hiện từ thành lập ban chỉ đạo, khảo sát 19 tiêu chí, lập đề án đến giám sát, đánh giá.
  • Hệ thống tiêu chuẩn cụ thể: Nêu rõ các chỉ số kỹ thuật của chuẩn "Xóm nông thôn mới" (tối thiểu 70% hộ đạt chuẩn gia đình nông thôn mới; trên 50% đường trục thôn và 65% đường trục chính ra đồng được cứng hóa; trên 70% hộ dùng điện an toàn; 60% nhà ở đạt chuẩn Bộ Xây dựng; tỷ lệ hộ nghèo dưới 5%; bảo hiểm y tế trên 50%; trên 60% hộ dùng nước sạch) và 19 tiêu chí của "Xã nông thôn mới" theo Quyết định 491/2009/QĐ-TTg.

Chương 2: Tác phẩm và quá trình thực hiện đề tài

Chương 2 trình bày chi tiết quy trình tác nghiệp, bối cảnh khảo sát và nội dung của các tác phẩm phóng sự ảnh thực hiện tại các địa phương:

Tên tác phẩm phóng sự ảnh Địa bàn tác nghiệp Chủ đề và khía cạnh phản ánh chính Tình trạng công bố
Lý Nhân xây dựng nông thôn mới đi đôi với phát triển làng nghề truyền thống Xã Lý Nhân, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc Phát triển làng nghề rèn Bàn Mạch và mộc Vân Giang gắn với hoàn thành các tiêu chí nông thôn mới Đã đăng trên chuyên san Hồ sơ sự kiện (Tạp chí Cộng sản)
Bồ Lý bứt phá từ diện 135 cán đích nông thôn mới Xã Bồ Lý, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc Quá trình thoát nghèo, đầu tư hạ tầng và phát triển cây ăn quả (na dai), chăn nuôi bò sữa Sản phẩm tốt nghiệp
Ông vua vịt trời đất Bắc và trang trại bạc tỷ Thôn Đồng Đông, xã Đại Đồng Thành, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh Mô hình khởi nghiệp nông nghiệp thuần hóa vịt trời quy mô trang trại lớn của hộ cá nhân Sản phẩm tốt nghiệp
Leo lắt trong ánh đèn dầu Xóm Thung Chẩu, xã Thanh Nghị, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam Bất cập về hạ tầng điện lưới và đời sống khó khăn kéo dài của người dân vùng kinh tế mới Đã đăng trên báo giấy Nông Thôn Ngày Nay
Minh Khai - tiêu chí môi trường còn thiếu nguồn lực đầu tư Thôn Minh Khai, thị trấn Như Quỳnh, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên Vấn đề nan giải và thiếu hụt kinh phí trong thực hiện tiêu chí môi trường tại cơ sở Sản phẩm tốt nghiệp
  • Phóng sự 1 - Xã Lý Nhân: Địa phương có diện tích tự nhiên 282,6 ha (141,7 ha đất canh tác) với 3 thôn làng nghề. Làng rèn Bàn Mạch cơ khí hóa sản xuất, tạo việc làm cho khoảng 2.000 lao động địa phương và hơn 1.000 lao động bên ngoài, xuất khẩu sang Lào và Campuchia. Làng mộc Vân Giang có 85% trong tổng số 400 hộ (1.450 nhân khẩu) làm nghề mộc cao cấp, tỷ lệ hộ khá giàu đạt 65–70%. Địa phương đã đạt 11/19 tiêu chí, thu nhập bình quân năm 2014 đạt 32,2 triệu đồng/người/năm, 93% hộ đạt gia đình văn hóa; đang xây dựng trung tâm văn hóa thể thao xã gần 10.000 m2 và các nhà văn hóa thôn. Tiêu chí khó khăn nhất là môi trường, đang phải đầu tư xây dựng bãi rác và lò tiêu hủy tập trung.
  • Phóng sự 2 - Xã Bồ Lý: Từng thuộc diện xã đặc biệt khó khăn theo Chương trình 135 (năm 2001), dân số gồm các dân tộc Kinh (70%), Sán Dìu, Nùng, Mường. Giai đoạn xây dựng nông thôn mới huy động tổng nguồn vốn hơn 81 tỷ đồng (nhân dân đóng góp hơn 600 triệu đồng). Địa phương phát triển 66,7 ha na dai thương phẩm tại các thôn Ngọc Thụ, Trại Mái, Đồng Bụt; mở rộng mô hình 70–80 con bò sữa (hộ ông Chu Văn Bằng nuôi 10 con, bán trên 60 tấn sữa/năm, thu nhập ròng 350 triệu đồng/năm); mô hình chăn nuôi kết hợp của anh Nguyễn Văn Chỉnh (200 lợn thịt, 20 lợn nái, ấp 800–1.000 trứng/ngày, thu nhập 400–500 triệu đồng/năm). Toàn bộ hệ thống trường học, trạm y tế đạt chuẩn quốc gia; 100% người dân có bảo hiểm y tế; trên 95% thôn có đường giao thông đến trung tâm; trên 80% hộ sử dụng điện lưới và nước sinh hoạt hợp vệ sinh.
  • Phóng sự 3 - Mô hình trang trại vịt trời: Khởi nghiệp từ năm 2004 và nhân giống từ 64 con vịt trời năm 2006, anh Nguyễn Đăng Cường xây dựng trang trại 2,5 ha tại vùng đất trũng Chằm Hồ. Quy mô đạt 40.000 con vịt trời, cung cấp 15.000 vịt giống/tháng (giá 50.000 đồng/con), lò ấp trên 500 trứng/ngày, vịt thương phẩm bán giá 180.000 đồng/con (trọng lượng 0,9–1,3 kg). Chi phí thức ăn sinh thái (ngô, cà rốt, đậu tương, bèo tây) từ 30–40 triệu đồng/ngày; giải quyết việc làm cho 8 lao động địa phương; mang lại thu nhập ròng 2,5–3 tỷ đồng/năm.
  • Phóng sự 4 - Xóm Thung Chẩu: Thành lập từ năm 1985 theo diện kinh tế mới nội địa từ thôn Bồng Lạng, xóm có hơn 20 hộ dân nằm sâu dưới chân núi, cách thành phố Phủ Lý khoảng 12 km. Gần 40 năm qua người dân hoàn toàn không có điện lưới quốc gia, phải dùng đèn dầu và đài chạy pin. Nguồn nước phụ thuộc vào nước mưa đọng ở vùng trũng; nhà ở chủ yếu là vách bùn trộn rơm (như gia đình ông Hùng 5 nhân khẩu, gia đình chị Hồ Thị Hóa). Nguyên nhân do địa hình núi đá chia cắt, chi phí kéo đường dây vượt quá khả năng đóng góp của người dân trong khi chính quyền xã Thanh Nghị chưa có nguồn ngân sách đầu tư.

Chương 3: Những thuận lợi, khó khăn và bài học kinh nghiệm rút ra trong quá trình thực hiện đề tài

  • Thuận lợi: Nhận được sự bảo trợ nghiệp vụ từ cơ quan thực tập (Báo Lao Động cấp giấy giới thiệu); sự kết nối, hướng dẫn địa bàn từ đồng nghiệp tại Báo Vĩnh Phúc; sự hỗ trợ và cung cấp báo cáo số liệu từ lãnh đạo UBND các xã Lý Nhân, Bồ Lý, Thanh Nghị; sự cởi mở, phối hợp nhiệt tình của người dân và các chủ trang trại.
  • Khó khăn: Quá trình di chuyển gặp trở ngại lớn do địa hình đồi núi hiểm trở (khu vực Tam Đảo và đường vượt vách đá vào Thung Chẩu); điều kiện thời tiết tác nghiệp nắng nóng; sự cố thiếu giấy giới thiệu ở chuyến đi đầu tiên và chưa chụp đủ góc máy buộc tác giả phải thực hiện tác nghiệp tại Thung Chẩu tới 3 lần; giới hạn thời gian khiến tác giả bỏ lỡ khoảnh khắc đàn vịt trời đồng loạt tung cánh tại Bắc Ninh.
  • Bài học kinh nghiệm nghiệp vụ: Cần chuẩn bị đầy đủ thủ tục pháp lý, giấy giới thiệu trước khi xuất phát; khảo sát kỹ địa bàn và lập đề cương chụp chi tiết; xây dựng kỹ năng giao tiếp, tạo dựng niềm tin với nhân vật; rèn luyện khả năng quan sát nhanh, kiên nhẫn nắm bắt khoảnh khắc và chọn lọc lát cắt điển hình trong phóng sự ảnh.

Kết quả và đóng góp

Sản phẩm tốt nghiệp đạt được các kết quả cụ thể thông qua hệ thống tư liệu và số liệu thực tế:

  • Kết quả thực tiễn: Hoàn thành chùm 5 phóng sự ảnh phản ánh bức tranh đa chiều về nông thôn mới: từ các mô hình thành công, hoàn thành 11/19 tiêu chí nhờ làng nghề (Lý Nhân), bứt phá từ nguồn vốn 81 tỷ đồng để đạt chuẩn nông thôn mới (Bồ Lý), tấm gương làm kinh tế giỏi thu nhập 2,5–3 tỷ đồng/năm (trang trại vịt trời Bắc Ninh), đến các điểm nghẽn nghiêm trọng về hạ tầng điện kéo dài gần 40 năm (Thung Chẩu) và thiếu vốn cho tiêu chí môi trường (Minh Khai).
  • Giá trị công bố: Hai tác phẩm trong cụm đề tài đã được thẩm định và đăng tải trên các cơ quan báo chí trung ương, gồm chuyên san Hồ sơ sự kiện của Tạp chí Cộng sản và báo in Nông Thôn Ngày Nay.
  • Giải pháp và kiến nghị: Tác giả đề xuất các cấp chính quyền cần có cơ chế linh hoạt bố trí ngân sách kéo điện lưới và cấp nước sạch cho các cụm dân cư vùng lõm địa hình như Thung Chẩu; tăng cường nguồn vốn hỗ trợ xây dựng lò đốt rác tập trung để giải quyết tiêu chí môi trường làng nghề; đẩy mạnh khuyến công và nhân rộng các mô hình kinh tế trang trại tuần hoàn.
  • Đóng góp so với nghiên cứu trước: Khác với các luận án kinh tế thuần túy phân tích lý thuyết hay khung tiêu chí định lượng (như nghiên cứu của Lê Xuân Tâm hay Đoàn Quang Thiệu), sản phẩm cung cấp tư liệu thị giác sống động, phản ánh trực diện mối quan hệ giữa chính sách và đời sống thực tế của người dân tại cơ sở.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Thời gian lưu trú tác nghiệp tại mỗi địa phương tương đối ngắn (từ 1 đến 3 ngày); số lượng ảnh trong từng phóng sự còn bị giới hạn về bối cảnh; tác giả chưa ghi nhận được đầy đủ các góc máy động phức tạp (như khoảnh khắc chuyển động của đàn vịt trời); chưa bao quát được toàn diện cả 19 tiêu chí trên một địa bàn duy nhất.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng tuyến phóng sự ảnh theo dõi tiến độ cấp điện tại xóm Thung Chẩu sau khi báo chí phản ánh; khảo sát sâu hơn về các giải pháp xử lý chất thải làng nghề tại các tỉnh đồng bằng sông Hồng; tiếp tục ghi nhận sự thay đổi kinh tế - xã hội tại các xã sau khi được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng sử dụng: Sinh viên chuyên ngành Báo chí, Báo ảnh, Truyền thông đại chúng, Xã hội học nông thôn và cán bộ phụ trách công tác tuyên truyền nông thôn mới tại các địa phương.
  • Phần nội dung giá trị: Quy trình xử lý các bước tác nghiệp thực địa phóng sự ảnh (chuẩn bị giấy tờ, tiếp cận nguồn tin lãnh đạo và nhân dân, xử lý sự cố địa bàn); hệ thống tư liệu thực tế và số liệu kinh tế - kỹ thuật về mô hình làng nghề, trang trại chăn nuôi bò sữa, nuôi vịt trời và thực trạng tiêu chí môi trường, điện lưới nông thôn.

Câu hỏi thường gặp

1. Tác phẩm đã sử dụng khung tiêu chuẩn pháp lý nào để đánh giá mức độ hoàn thành nông thôn mới tại các xã? Tác phẩm căn cứ vào Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới ban hành kèm theo Quyết định số 491/2009/QĐ-TTg ngày 16/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ, bao gồm 19 tiêu chí thuộc 5 nhóm lĩnh vực: Quy hoạch, Hạ tầng kinh tế - xã hội, Kinh tế và tổ chức sản xuất, Văn hóa - Xã hội - Môi trường và Hệ thống chính trị.

2. Xã Bồ Lý đã huy động nguồn lực và tổ chức sản xuất như thế nào để thoát khỏi diện đặc biệt khó khăn theo Chương trình 135? Trong 3 năm triển khai nông thôn mới, xã Bồ Lý đã huy động tổng nguồn vốn đầu tư hơn 81 tỷ đồng (nhân dân đóng góp hơn 600 triệu đồng). Địa phương thực hiện chuyển đổi cơ cấu cây trồng với 66,7 ha na dai tập trung tại 3 thôn Ngọc Thụ, Trại Mái, Đồng Bụt; phát triển đàn bò sữa 70–80 con (điển hình hộ ông Chu Văn Bằng nuôi 10 con, thu 350 triệu đồng/năm) và mô hình chăn nuôi gia trại tổng hợp (hộ anh Nguyễn Văn Chỉnh thu nhập 400–500 triệu đồng/năm).

3. Mô hình nuôi vịt trời của anh Nguyễn Đăng Cường tại Bắc Ninh có quy mô và hiệu quả kinh tế ra sao? Trang trại có diện tích 2,5 ha, nuôi giữ đàn vịt 40.000 con, mỗi tháng cung ứng khoảng 15.000 vịt giống (50.000 đồng/con), lò ấp trên 500 trứng/ngày. Vịt thương phẩm nặng từ 0,9–1,3 kg bán giá từ 180.000 đồng/con. Chi phí thức ăn mỗi ngày từ 30–40 triệu đồng; tạo việc làm cho 8 lao động địa phương và mang lại thu nhập sau chi phí từ 2,5–3 tỷ đồng/năm.

4. Vì sao xóm Thung Chẩu (xã Thanh Nghị, Hà Nam) cách trung tâm thành phố Phủ Lý chỉ 12 km nhưng vẫn chưa có điện lưới? Theo giải thích của Chủ tịch UBND xã Thanh Nghị Nhữ Văn Thứ, xóm Thung Chẩu nằm sâu trong thung lũng bị núi đá bao bọc. Việc kéo đường dây điện từ đường lớn vượt qua nhiều dãy núi đòi hỏi kinh phí rất lớn, vượt quá khả năng đóng góp của hơn 20 hộ dân nghèo tại đây, trong khi ngân sách của xã chưa có nguồn vốn bố trí riêng cho hạng mục này.

Kết luận

Sản phẩm tốt nghiệp ngành Báo chí đã vận dụng lý luận về ảnh báo chí và thể loại phóng sự ảnh để phản ánh sinh động quá trình xây dựng nông thôn mới tại các tỉnh phía Bắc. Công trình kết hợp hài hòa giữa việc ghi nhận các điển hình phát triển làng nghề, kinh tế trang trại với việc phản ánh trung thực những hạn chế về hạ tầng điện lưới và xử lý môi trường. Các tác phẩm không chỉ mang giá trị học thuật về phương pháp tác nghiệp báo ảnh thực địa mà còn đóng góp tiếng nói phản biện xã hội thiết thực, với 2 bài viết đã được đăng tải trên các ấn phẩm báo chí trung ương.