Chương 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn nghiên cứu biến đổi kinh tế nông nghiệp “Nông nghiệp là một trong những ngành kinh tế quan trọng và phức tạp. Nó không chỉ là một ngành kinh tế đơn thuần mà còn là hệ thống sinh học - kĩ thuật, bởi vì một mặt cơ sở để phát triển nông nghiệp là việc sử dụng tiềm năng sinh học - cây trồng, vật nuôi. Chúng phát triển theo quy luật sinh học nhất định, con người không thể ngăn cản các quá trình phát sinh, phát triển và diệt vong của chúng, mà phải dựa trên cơ sở nhận thức đúng đắn các quy luật để có những giải pháp tác động thích hợp với chúng.
Mặt khác, quan trọng hơn là phải làm cho người sản xuất có sự quan tâm thỏa đáng, gắn lợi ích của họ với sử dụng quá trình sinh học đó nhằm tạo ra ngày càng nhiều sản phẩm cuối cùng”[64, tr. Một số khái niệm 1. Cơ cấu kinh tế, cơ cấu kinh tế nông nghiệp Cơ cấu kinh tế Cơ cấu kinh tế của nền kinh tế quốc dân là hình thức cấu tạo bên trong của nền KTQD, đó là tổng thể các quan hệ chủ yếu về số lượng và chất lượng tương đối ổn định của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong một hệ thống tái sản xuất xã hội với những điều kiện kinh tế xã hội nhất định. Nền KTQD dưới góc độ cấu trúc là sự đan xen của nhiều loại cơ cấu khác nhau, có mối quan hệ chi phối lẫn nhau trong quá trình phát triển của nền kinh tế.
Những loại cơ cấu kinh tế cơ bản quyết định sự tồn tại và phát triển của nền KTQD bao gồm: Cơ cấu ngành và nội bộ ngành sản xuất. Loại cơ cấu này phản ánh số lượng và chất lượng cũng như tỉ lệ giữa các ngành và sản phẩm trong nội bộ ngành của nền KTQD. Nền KTQD là một hệ thống sản xuất bao gồm những ngành lớn như: công nghiệp, nông nghiệp, thương mại, dịch vụ. Trong mỗi ngành lớn lại hình thành ngành nhỏ hơn gọi là các ngành kinh tế - 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com kỹ thuật.
Ví dụ trong nông nghiệp thì có lương thực, thực phẩm, cây công nghiệp…[67, tr. Cơ cấu kinh tế nông nghiệp Nông nghiệp là một ngành sản xuất vật chất cơ bản giữ vai trò to lớn trong việc phát triển kinh tế ở hầu hết các nước, nhất là ở các nước đang phát triển. Ở những nước này còn nghèo, đại bộ phận sống bằng nghề nông. Tuy nhiên, ngay cả ở những nước có nền công nghiệp phát triển cao, mặc dù tỉ trọng GDP nông nghiệp không lớn, nhưng khối lượng nông sản của các nước này khá lớn và không ngừng tăng lên, đảm bảo cung cấp đủ cho đời sống con người những sản phẩm tối cần thiết đó là: lương thực, thực phẩm.
Những sản phẩm này cho dù trình độ khoa học – công nghệ phát triển như hiện nay vẫn chưa có ngành nào có thể thay thế được. Lương thực, thực phẩm là yếu tố đầu tiên, có tính chất quyết định sự tồn tại phát triển của con người và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước[67, tr. Kinh tế nông nghiệp bao gồm nông nghiệp, lâm nghiệp và ngư nghiệp, là lĩnh vực sản xuất vật chất nhằm đáp ứng những nhu cầu thiết yếu về lương thực, thực phẩm cho nhân dân, làm nguyên liệu cho ngành công nghiệp và làm nguồn hàng xuất khẩu. Cơ cấu kinh tế nông nghiệp là một tổng thể bao gồm các mối quan hệ tương quan giữa các yếu tố của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất thuộc lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp trong khoảng thời gian và điều kiện kinh tế xã hội cụ thể[68].
Nội dung cơ cấu kinh tế nông nghiệp Cơ cấu ngành Trong nông nghiệp không chỉ bao gồm ngành trồng trọt và chăn nuôi, nó còn gồm cả ngành lâm nghiệp và dịch vụ nông nghiệp. Do vậy, trong cơ cấu ngành còn phải xét tới sự chuyển dịch của ngành lâm nghiệp và ngành dịch vụ. Cơ cấu ngành của kinh tế nông nghiệp bao gồm các nhóm ngành 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com trồng trọt, chăn nuôi, dịch vụ nông nghiệp và lâm nghiệp. Trong mỗi nhóm ngành lại được chia ra thành những ngành hẹp hơn.
Trong trồng trọt lại chia thành cây lương thực, cây công nghiệp, cây thực phẩm, cây ăn quả, cây dược liệu… Trong lĩnh vực chăn nuôi được phân chia thành đại gia súc, tiểu gia súc, gia cầm… Kinh nghiệm trong nước và thế giới cho thấy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp mang tính quy luật: từ trồng trọt mở ra lâm nghiệp, ngư nghiệp, chăn nuôi, sản xuất hàng hóa. Trong một thời gian khu vực kinh tế nước ta chậm chuyển biến, nông nghiệp chiếm vị trí chủ yếu, cơ cấu chậm chuyển dịch nguyên nhân chủ yếu là lực lượng sản xuất kém phát triển, năng xuất lao động thấp, phân công lao động chưa cụ thể sâu sắc nên tình trạng thiếu lương thực kéo dài. Từ thập kỷ 90 trở lại đây sản xuất lương thực đạt được nhiều thành tựu to lớn, dư thừa lương thực để xuất khẩu, do vậy làm cho cơ cấu kinh tế nông nghiệp chuyển dịch nhanh chóng theo hướng có hiệu quả. Những nước có trình độ kém phát triển nông nghiệp chiếm đại bộ phận trong nền kinh tế thì sự phát triển của lực lượng sản xuất đặc biệt là tiến bộ khoa học kỹ thuật ứng dụng vào làm cho cơ cấu kinh tế chuyển dịch nhanh chóng theo hướng CNH, HĐH.
Cơ cấu vùng lãnh thổ Sự phân công lao động theo ngành bao giờ cũng diễn ra trên những vùng lãnh thổ nhất định, nghĩa là cơ cấu vùng lãnh thổ chính là việc bố trí các ngành trong sản xuất nông nghiệp theo không gian cụ thể nhằm khai thác mọi ưu thế tiềm năng to lớn. Ở đây, xu thế chuyển dịch cơ cấu vùng lãnh thổ đi vào chuyên môn hóa và tập trung hóa hình thành những vùng sản xuất hàng hóa lớn tập trung có hiệu quả cao mở với các vùng chuyên môn hóa khác, gắn cơ cấu của từng khu vực với cơ cấu kinh tế của cả nước. Trong từng vùng lãnh thổ coi trọng chuyên môn hóa kết hợp với phát triển tổng hợp đa dạng. 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Để hình thành cơ cấu vùng lãnh thổ hợp lý thì cần bố trí các ngành trên vùng lãnh thổ hợp lý, để khai thác đầy đủ tiềm năng của từng vùng.
Đặc biệt cần bố trí các ngành chuyên môn hóa dựa trên những lợi thế so sánh từng vùng đó là những vùng có đất đai tốt, khí hậu thuận lợi, đường giao thông lớn và các khu công nghiệp Cơ cấu thành phần kinh tế Ở nước ta trong thời kỳ bao cấp, cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp chuyển biến chậm, chỉ tồn tại hai loại hình kinh tế: kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể. Đến đại hội VI của Đảng với nội dung chuyển nền kinh tế nước ta sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước thì nền kinh tế phát triển đa dạng hơn. Hiến pháp năm 1992 ghi nhận các thành phần kinh tế gồm: kinh tế quốc doanh, kinh tế tập thể, kinh tế cá thể, kinh tế tư bản tư nhân, kinh tế tư bản nhà nước. Đến nghị quyết quốc hội năm 2001 về sửa đổi hiến pháp năm 1992 có sự thay đổi tương đối về các thành phần kinh tế gồm: kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế cá thể, tiểu chủ, kinh tế tư bản tư nhân, kinh tế tư bản Nhà nước và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.
Đến cương lĩnh năm 2011 đã có sự thay đổi quan trọng trong nhận thức, quan điểm của Nhà nước ta về các thành phần kinh tế, cương lĩnh đã khẳng định phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, hình thức tổ chức kinh doanh và hình thức phân phối bao gồm 4 thành phần kinh tế: Kinh tế Nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Cách tiếp cận nghiên cứu 1. Cách tiếp cận liên ngành và khu vực học “Liên ngành nói một cách đơn giản là sử dụng đồng thời, thực sự khách quan và bình đẳng nhiều phương pháp chuyên ngành, nói chính xác ra là từ hai phương pháp chuyên ngành trở lên, cho nhận thức về một sự vật hay một 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hiện tượng nào đó” – GS.TS Nguyễn Quang Ngọc (Viện Việt Nam học và Khoa học Phát triển, ĐHQGHN) Tiếp cận liên ngành và khu vực học trong nghiên cứu kinh tế nông nghiệp trên địa bàn huyện Thoại Sơn chính là sử dụng đồng thời các phương pháp chuyên ngành(lịch sử, địa lý, xã hội học, kinh tế học,…) cùng nghiên cứu về kinh tế nông nghiệp trong không gian nghiên cứu là địa bàn huyện Thoại Sơn. Ví dụ như giải thích cho câu hỏi: Tại sao ở huyện Thoại Sơn nông nghiệp lại phát triển hơn các ngành khác? hay nói cách khác là tại sao nông nghiệp đóng vai trò chủ đạo trong sự phát triển kinh tế của toàn huyện? Trước tiên, cần có sự lý giải của các chuyên gia địa lý về điều kiện tự nhiên, vì sao điều kiện tự nhiên ở đây chỉ có lợi thế phát triển nông nghiệp.Thứ hai, là lịch sử canh tác, tập quán sản xuất, tư duy của của dân nơi đây có ảnh hưởng thế nào tới phát triển kinh tế nông nghiệp.
Tiếp đó là điều kiện kinh tế, xã hội,…tổng hợp các nghiên cứu trên sẽ cho câu trả lời tổng quát nhất, đúng đắn nhất. Cách tiếp cận hệ thống Hệ thống “là tập hợp các phần tử có quan hệ với nhau tạo thành chỉnh thể thống nhất và không ngừng vận động, trong sự thống nhất đó luôn làm nảy sinh tính trội của hệ thống” [65,tr. Hệ thống nông nghiệp là hệ thống thứ bậc được lồng vào nhau của các hệ sinh thái nông nghiệp, bao gồm các yếu tố sinh thái, kinh tế và con người từ phạm vi cánh đồng đến nông trại, vùng, quốc gia và thế giới. Hay nói cách khác đó là hệ thống liên hệ giữa các hệ sinh thái nông nghiệp ở các mức độ không gian khác nhau với các hoạt động kinh tế xã hội của con người trong phạm vi không gian của hệ thống.
Sự tiếp cận hệ thống nông nghiệp có đặc điểm là tiếp cận “từ dưới lên”: Sử dụng các phương pháp quan sát, phân tích và giải pháp qua ba giai đoạn nghiên cứu: chẩn đoán, thiết kết và thử nghiệm, triển khai để tìm hiểu các nhu 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com cầu cần thiết của nông dân để có các tác động hợp lý.