MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài. Từ sau Đại hội Đảng Toàn quốc lần thứ VI - Đại hội Đổi mới (năm 1986), vấn đề kinh tế hộ cá thể nông nghiệp nông thôn được coi trọng phát triển hơn bao giờ hết, khi Nghị quyết 10-NQ/TU của Bộ Chính trị (năm 1988) và Luật đất đai (năm 1993) ra đời đã mở đường cho nhiều hộ nông dân có điều kiện phát triển các trang trại sản xuất nông - lâm nghiệp rất hiệu quả. Bước ngoặt lịch sử này đã cho ra đời một hình thức tổ chức sản xuất mới trong nông nghiệp, nông thôn.
Kinh tế trang trại hình thành chính là kết quả của công cuộc đổi mới đất nước; là định hướng đúng đắn của đường lối phát triển kinh tế của Đảng và Nhà nước; là sự hưởng ứng của một bộ phận hộ nông dân kinh doanh giỏi, có ý chí vươn lên làm giàu chính đáng. Đây là một quá trình tất yếu phù hợp với quy luật khách quan do yêu cầu phát triển của nền kinh tế; của giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Kinh tế trang trại đóng vai trò quan trọng trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo hướng tập trung chuyên canh, sản xuất hàng hoá, thúc đẩy xuất khẩu các sản phẩm có giá trị cao. Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế này dựa trên cơ sở tiềm năng, thế mạnh của từng vùng sinh thái, với sự đa dạng về loại hình sản xuất, phong phú về sản phẩm nhằm đáp ứng nhu cầu của thị trường trước những thay đổi căn bản về tiêu dùng của xã hội.
Đó là việc chuyển dần từ tiêu dùng các sản phẩm thứ cấp của trồng trọt (lương thực là chính) sang tiêu dùng các sản phẩm của ngành chăn nuôi như thịt, trứng, sữa, thủy sản,. Đây là một trong những nhân tố, là động lực thúc đẩy phát triển ngành chăn nuôi ở tầm cao hơn theo hướng CNH, HĐH. Phát triển chăn nuôi trang trại là nhu cầu khách quan, là con đường tất yếu để nâng cao năng suất, chất lượng và tạo ra khối lượng sản phẩm hàng hóa lớn, nâng cao khả năng cạnh tranh trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế khi mà 2 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com phương thức chăn nuôi truyền thống nhỏ lẻ, phân tán không còn đáp ứng được những yêu cầu trên. Từ khi có Nghị quyết 03/2000/NQ-CP ngày 02/02/2000 của Chính phủ về phát triển kinh tế trang trại và Quyết định số 10/2008/QĐ-TTg ngày 16/01/2008 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt chiến lược phát triển chăn nuôi đến năm 2020, đã tạo nên cơ sở pháp lý vững chắc, định hướng cho sự hình thành và phát triển chăn nuôi trang trại phát triển nhanh về mọi mặt.
Đặc biệt là, ở một tỉnh miền núi biên giới như Cao Bằng (với trên 90% dân số là người dân tộc thiểu số, trong đó người Tày, Nùng chiếm tới 76%), thì mô hình này cũng đã thể hiện được tính ưu việt của nó với 259 trang trại trên toàn tỉnh trong đó có 190 trang trại (chiếm 73,4%) là trang trại chăn nuôi, trang trại tổng hợp phục vụ dịch vụ chăn nuôi (năm 2010). Tổng giá trị sản lượng hàng hóa và dịch vụ của các trang trại hiện có đạt trên 16 tỷ đồng/năm (giai đoạn 2002 – 2010), góp phần giảm tỷ lệ đói nghèo toàn tỉnh 23% (năm 2002), cơ bản xóa xong hộ đói vào năm 2003, giảm hộ nghèo xuống mỗi năm 2 - 3%. Riêng địa bàn Thành phố Cao Bằng phấn đấu đến năm 2015 giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống dưới mức 2%. Mặc dù phát triển kinh tế chăn nuôi trang trại còn gặp nhiều khó khăn, hạn chế như thiên tai, dịch bệnh,… nhưng đã góp phần khai thác và sử dụng có hiệu quả nguồn lực tự nhiên (diện tích đất đồi, đất rừng, đồng cỏ, diện tích mặt nước).
Bước đầu tạo ra những vùng sản xuất tập trung, có khối lượng hàng hóa lớn; Thúc đẩy quá trình chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi; Tạo điều kiện cho công nghiệp chế biến giết mổ phát triển; Từ đó góp phần xóa đói, giảm nghèo, tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập cho người dân nông thôn. Chăn nuôi trang trại còn có điều kiện khống chế bệnh dịch và giảm thiểu ô nhiễm môi trường nông thôn… Xuất phát từ hiệu quả thiết thực về kinh tế - xã hội do chăn nuôi theo mô hình kinh tế trang trại mang lại, cùng với tầm nhìn chiến lược về định hướng phát triển kinh tế chăn nuôi trang trại đã thôi 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thúc tác giả tìm hiểu về mô hình kinh tế mới này, với đề tài nghiên cứu là “Kinh tế chăn nuôi theo mô hình trang trại của các cư dân Tày – Nùng trên địa bàn Thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng (1986 – 2010)”. Lịch sử nghiên cứu vấn đề. KTTT đã hình thành và phát triển khá sớm, đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về lý luận và đúc kết kinh nghiệm thực tiễn.
Các nghiên cứu gần đây tập trung làm rõ về sự tồn tại của loại hình trang trại gia đình trong điều kiện cạnh tranh khốc liệt; mối quan hệ giữa quy mô và năng suất, hiệu quả của trang trại; mối quan hệ chặt chẽ giữa trang trại với thị trường…. Tình hình nghiên cứu về kinh tế trang trại trên thế giới. Tác phẩm “Kinh tế nông nghiệp: Hộ trang trại và sự phát triển nông nghiệp” của Ellis, Frank, Đại học Cambridge, tái bản lần 2, công bố năm 1993 đã cho thấy sự tất yếu khách quan phát triển mô hình KTTT từ kinh tế hộ gia đình trong quá trình phát triển nông nghiệp ở các nước trên thế giới. Tác phẩm “Trang trại gia đình trong một thế giới toàn cầu hóa” của tác giả Michael Lipton do Viện nghiên cứu chính sách lương thực Liên hiệp quốc công bố năm 2005 cho thấy tình hình phát triển KTTT của thế giới trong điều kiện toàn cầu hóa.
Công trình đã khẳng định vai trò quan trọng, tính bền vững của trang trại gia đình quy mô nhỏ so với các loại hình trang trại khác trong nền sản xuất nông nghiệp thế giới, nhất là ở các nước đang phát triển trong quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn. Liên quan đến loại hình trang trại gia đình còn thu hút sự nghiên cứu của nhiều nhà khoa học khác như Strange, Marty với tác phẩm “Trang trại gia đình. Một cách nhìn kinh tế mới” được Nxb Nebraska và nhà sách Food First xuất bản năm 2002; tác phẩm “Trang trại gia đình và sinh thái học về nông nghiệp bền vững, mạnh mẽ” của tác giả Netting và Robert MacCarter công bố năm 2003 (Nxb Đại học Stanford) hay tác phẩm “Cỡ của trang trại 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com sản xuất tại các nước đang phát triển” của các tác giả Berry và William R.Cline, Đại học Johns Hopkins công bố năm 2000 đã cho thấy ruộng đất được sử dụng hiệu quả tại các nước đang phát triển là trang trại gia đình,…. Nhiều nghiên cứu giải quyết mối quan hệ giữa quy mô với năng suất, chất lượng, hiệu quả trang trại.
Tiêu biểu như bài viết “Sự gắn kết chặt chẽ của mối quan hệ ngược giữa quy mô trang trại và năng suất. Một hướng phân tích theo kinh nghiệm chủ nghĩa về sản xuất nông nghiệp” của hai tác giả Carter và Michael công bố năm 1998; “Mối quan hệ giữa quy mô trang trại và năng suất trang trại” của tác giả Feeder, Gershon, công bố năm 2002, hay “Quy mô trang trại. Năng suất và hiệu quả kinh tế. Sự khác nhau về hiệu quả dựa trên quy mô trang trại ở Honduras” của Gillian, Daniel O tại Hội thảo hàng năm của Hiệp hội KTTT Hoa Kỳ năm 1998.
Các nghiên cứu khuyến cáo trang trại không nên mở rộng quy mô quá lớn trong điều kiện trình độ quản lý, khả năng trang bị, ứng dụng khoa học công nghệ còn hạn chế, bởi điều đó làm cho năng suất, hiệu quả trang trại giảm xuống. Vai trò của Chính phủ trong việc phát triển KTTT, nhất là đảm bảo cho sự phát triển bền vững của KTTT thông qua các chính sách khuyến khích, hỗ trợ như chính sách đất đai, tài chính, chính sách hỗ trợ phát triển thị trường…. đã được các tác giả Heffernan, William đề cập trong báo cáo gửi Hội nông dân quốc gia “Củng cố hệ thống lương thực và nông nghiệp”, Đại học Missouri công bố năm 1999, hay tác phẩm “Trang trại gia đình trong một thế giới toàn cầu hóa” của tác giả Michael Lipton, năm 2005. Tình hình nghiên cứu về KTTT và phát triển KTTT của một số tác giả trong nước.
* Nghiên cứu về kinh tế trang trại nói chung Trong hai thập kỷ gần đây, nhất là đầu những năm 1990 đến năm 2000, ở nước ta KTTT là chủ đề nghiên cứu được nhiều cơ quan khoa học, chỉ đạo 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thực tiễn và các nhà khoa học thực sự quan tâm. Các công trình nghiên cứu tập trung phân tích thực trạng KTTT ở nước ta trong những năm đổi mới trên cơ sở khảo sát, tổng kết thực tiễn ở nhiều địa phương đại diện cho các vùng nông nghiệp. Tiến hành phân tích một cách công phu, cụ thể tình hình phát triển KTTT trên tất cả các mặt từ các yếu tố sản xuất, kết quả sản xuất kinh doanh và nhất là phân tích đã có sự so sánh với các hộ gia đình nông dân trên địa bàn. Từ đó, các nghiên cứu đã chỉ ra hàng loạt các vấn đề phát sinh cần phải giải quyết từ nhận thức, thái độ đối với KTTT, tiêu chí nhận dạng đến những bất cập của Nhà nước trong hỗ trợ về mặt cơ chế và điều kiện vật chất, trình độ chủ trang trại, chất lượng, kỹ thuật quản lý các trang trại, hỗ trợ tạo điều kiện về vốn, phát triển nguồn nhân lực, chế biến và tiêu thụ nông sản….
Ở thời điểm nghiên cứu của các công trình, những giải pháp được đưa ra là khá toàn diện và phù hợp với thực tiễn. Trong đó, có những giải pháp đến nay vẫn mang tính thời sự như tổ chức hệ thống khuyến nông, xây dựng các cơ sở sản xuất giống phù hợp với từng vùng sinh thái, tạo sự liên kết gắn bó giữa nhà khoa học và nhà nông, giải pháp về quy hoạch phát triển trang trại, phát triển thị trường cung ứng các dịch vụ cho sản xuất nông nghiệp; giải quyết đầu ra cho sản phẩm của các trang trại…. Một số nghiên cứu sinh cũng lấy chủ đề KTTT làm nội dung nghiên cứu của luận án. Nhiều nhà xuất bản, tạp chí đã đăng tải nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả về KTTT như GS.TS Nguyễn Đình Hương, GS.TS Phạm Vân Đình; GS.
TS Trần Đức, GS. Bùi Huy Đáp; PGS. Nguyễn Sinh Cúc, TS.