phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 4 chƣơng: Chƣơng 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận, thực tiễn về phát triển TMBG Chƣơng 2. Phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3. Thực trạng phát triển TMBG của Mexico và Canada Chƣơng 4: Một số giải pháp nhằm thúc đẩy sự phát triển TMBG của Việt Nam 4 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN THƢƠNG MẠI BIÊN GIỚI 1.
Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Các nghiên cứu có tính chất lý luận về TMBG Lý thuyết về liên kết kinh tế khu vực đã đƣợc Hass and Richard Capella (2006) thảo luận và cho rằng liên kết kinh tế khu vực có thể giúp xây dựng các mô hình phát triển vùng kinh tế trọng điểm, đặc khu kinh tế và khu chế xuất nhằm thúc đẩy thƣơng mại giữa các nƣớc trong khu vực. Nghiên cứu phân tích các tính chất tăng trƣởng kinh tế của các vùng biên giới, các đầu mối giao thông giữa các nƣớc láng giềng có lợi thế so sánh có thể tiến hành công nghiệp hóa nhanh, làm nền tảng cho quá trình công nghiệp hóa trên toàn bộ nền kinh tế. (1966) đã phân tích các vấn đề quy hoạch phát triển vùng dựa trên nguyên lý phân tích các lợi thế phát triển và cực tăng trƣởng trong các vùng cụ thể.
Ngoài ra, nghiên cứu này còn phân tích về các nguồn lực phát triển, năng lực thƣơng mại và chỉ ra đƣợc những lợi thế so sánh trong việc định hình phát triển vùng là cần thiết trong việc hoạch định kế hoạch phát triển vùng để từ đó hình thành các đặc khu kinh tế. Báo cáo “Cross-border trade within the Central Asia: Regional Economic Cooperation” của World Bank, 2007 đã phân tích TMBG ở Trung Á và cho rằng TMBG ở khu vực này có một số các đặc thù. Thứ nhất,TMBG đƣợc thực hiện chủ yếu bởi các thƣơng nhân, cá nhân và các hộ gia đình nhỏ lẻ, thƣờng là thƣơng nhân và cá nhân ở các địa phƣơng biên giới. Thứ hai, khối lƣợng hàng hoá buôn bán thông qua TMBG thƣờng nhỏ.
Thứ ba, các loại hàng hoá thƣờng đƣợc buôn bán là hàng nông sản và hàng tiêu dùng. Thứ tư, các thƣơng nhân nhỏ thƣờng sử dụng xe đạp, ô tô nhỏ hoặc đi bộ trong 5 TMBG; các thƣơng nhân thƣờng không cần có các xe tải lớn do khối lƣợng buôn bán nhỏ và khoảng cách thƣơng mại gần. Thứ năm, tồn tại chêch lệch về giá cả ở vùng biên giới của các quốc gia do khối lƣợng buôn bán quá nhỏ, không đủ để làm giá cả cân bằng giữa các biên giới. Bên cạnh đó còn có các lý do khác nhƣ hàng rào thƣơng mại, các chính sách của chính phủ ở các vùng biên giới, các hình thức thanh toán không chính thức ở vùng biên giới, chi phí vận chuyển.
Nghiên cứu “Integration Strategies and Barriers to Co-Operation in Cross-Border Regions: Case Study of the Oresund Region”, Journal of Borderlands Studies của Povlot và Goren, 2007 chỉ ra rằng các hình thức hợp tác kinh tế biên giới đã đƣợc phát triển và khá phổ biến trên thế giới,thông qua nghiên cứu về mô hình hợp tác khu vực cửa khẩu giữa Đan Mạch và Thụy Điển của vùng Oresund. Khu vực xuyên quốc gia này có dân số 3,6 triệu ngƣời, trong đó có 2,4 triệu ngƣời ở phía Đan Mạch trên diện tích 9.782 km2, và phía Thụy Điển có diện tích 10. Động lực của sự hợp tác này là cuộc khủng hoảng kinh tế và sự cần thiết phải xây dựng một chiến lƣợc tăng trƣởng kinh tế khu vực để giúp cho cả hai phía cùng nâng cao khả năng cạnh tranh trong khu vực và trên thế giới. Cả hai chính quyền trung ƣơng đều ủng hộ quá trình hợp tác này và hỗ trợ đầu tƣ vào cơ sở hạ tầng giao thông.
Chính quyền địa phƣơng của cả hai bên đều có các đại diện và các tổ chức tƣơng đƣơng. Bên cạnh đó, một số tổ chức phi chính thức nhƣ Hội đồng kinh doanh, Phòng thƣơng mại… tạo nên diễn đàn hợp tác và cung cấp các tƣ vấn về luật và chính sách cho các cơ quan chức năng. Đề tài nghiên cứu cấp bộ của Nguyễn Thị Kim Dung, Viện nghiên cứu quản lý kinh tế trung ƣơng : “Những vấn đề lý luận và thực tiễn trong xây dựng cơ chế chính sách và các biện pháp quản lý kinh tế đặc thù đối với khu vực cửa khẩu trên bộ phía Bắc Việt Nam”, 1999 đã khẳng định giao lƣu kinh 6 tế qua biên giới là sự thể hiện xu thế hội nhập kinh tế giữa các nƣớc gần nhau về vị trí địa lý, thực hiện mục tiêu mở rộng hợp tác kinh tế giữa các nƣớc láng giềng. Đồng thời trong đề tài cũng nêu lên rằng, hoạt động giao lƣu kinh tế qua cửa khẩu cũng là một yếu tố cấu thành của các hoạt động kinh tế đối ngoại.
Việc phát triển giao lƣu đó mang lại lợi ích kinh tế đáng kể thông qua đẩy mạnh các hoạt động thƣơng mại qua biên giới đồng thời cũng để thực hiện chủ trƣơng cải cách kinh tế của Đảng là khẳng định nguyên tắc độc lập, chủ quyền, bình đẳng và cùng có lợi trong phát triển kinh tế đối ngoại; đa phƣơng hóa, đa dạng hóa các hoạt động kinh tế đối ngoại; khai thác có hiệu quả lợi thế trong phân công lao động quốc tế. Một số giải pháp nhằm phát triển thương mại hàng hóa Việt Nam-Lào qua biên giới trên bộ thời kỳ đến 2005. Viện Nghiên cứu thƣơng mại, Đề tài nghiên cứu cấp Bộ đã phân tích một số đặc điểm của hoạt động thƣơng mại hàng hoá qua biên giới nói chung. Tác giả cho rằng TMBG có những đặc điểm sau.
Thứ nhất, TMBG mang tính địa phƣơng, khu vực. Thứ hai, TMBG mang tính bổ sung lẫn nhau. Thứ ba, thƣơng mại hàng hoá là phƣơng thức chủ yếu của TMBG. Thứ tư, TMBG mang tính lựa chọn song hƣớng.
Thứ năm, TMBG có tính phân tán, quy mô nhỏ nhƣng linh hoạt. Các nghiên cứu liên quan đến phát triển TMBG của Canada và Mexico Cuốn sách “Quan hệ Canada - Mỹ: Những bài học kinh nghiệm” (Học viện Quan hệ quốc tế, 2006) của Vụ châu Mỹ, Bộ ngoại giao. Cuốn sách này khẳng định giữa hai nƣớc có nhiều điểm tƣơng đồng về lịch sử, chính trị và văn hóa, nhƣng tƣơng quan so sánh lực lƣợng giữa hai nƣớc rất chênh lệch, Mỹ luôn mạnh hơn Canada nhiều lần. Những đặc điểm địa lý, lịch sử, chính trị, kinh tế và văn hóa này có tác động sâu sắc đến quan hệ giữa Canada và Mỹ.
Các tác giả cũng đề cập rất cụ thể các bài học kinh nghiệm của Canada 7 trong ứng xử quan hệ với Mỹ, đó là: tìm đối trọng với Mỹ để giữa vững độc lập, chủ quyền và đảm bảo an ninh quốc gia; xây dựng khuôn khổ quan hệ hòa bình, hợp tác, ổn định với Mỹ và tạo ra lợi ích đan xen giữa hai nƣớc; vừa hợp tác vừa đấu tranh hòa bình với Mỹ. Cuốn sách này có thể tham khảo để hiểu rõ hơn về quan hệ Canada - Mỹ, trong đó có quan hệ thƣơng mại. Trong bài viết “Quan hệ năng lƣợng Canada - Mỹ” của Nguyễn Khánh Vân đăng tải trên Tạp chí Châu Mỹ ngày nay số 7 năm 2008, tác giả nhận định thƣơng mại năng lƣợng đóng vai trò quan trọng trong hoạt động trao đổi buôn bán giữa hai quốc gia. Kim ngạch buôn bán năng lƣợng với Mỹ chiếm tỷ trọng lớn trong tổng xuất khẩu của Canada, và ngƣợc lại, Canada cũng là đối tác quan trọng của Mỹ trong hoạt động trao đổi năng lƣợng.
Tác giả cũng có đánh giá tổng thể triển vọng mối quan hệ năng lƣợng Canada - Mỹ giai đoạn 2010 - 2020, trong đó quan hệ năng lƣợng giữa hai nƣớc dựa trên những cơ sở vững chắc giữa một quốc gia có nguồn cung ứng năng lƣợng dồi dào và một quốc gia có nhu cầu sử dụng năng lƣợng lớn nhất thế giới. Nguyễn Thiết Sơn trong bài viết “Canada: Một nền kinh tế phát triển cao” (Tạp chí Châu Mỹ ngày nay, Số 5/1998) đã khái quát về nền kinh tế Canada, quan hệ kinh tế Canada - Mỹ và vai trò của kinh tế Canada trên thế giới. Trong đó, tác giả có đề cập: phần lớn xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ của Canada đƣợc thực hiện với Mỹ: Mỹ chiếm trên 80% giá trị xuất khẩu hàng hoá của Canada, và cung cấp khoảng 75% giá trị hàng hoá nhập khẩu của Canada. Tuy nhiên, cho đến nay, tỷ lệ này có xu hƣớng giảm do cả hai nƣớc đều thực hiện chính sách đa dạng hóa đối tác thƣơng mại.
Có nhiều vấn đề nổi lên trong mọi lĩnh vực nhƣ tranh cãi về thƣơng mại, làn sóng nhập cƣ và hợp tác quân sự. Đặc biệt, điều luật “Mua hàng Mỹ” của Tổng thống Barack Obama đã bị Canada và Mexico phản đối kịch liệt và cho rằng đó thực chất là chủ nghĩa bảo hộ. Việc công khai yêu cầu các dự án xây dựng phải mua sản phẩm công ty Mỹ là sự vi 8 phạm nghiêm trọng NAFTA. Trong bối cảnh khủng hoảng toàn cầu, chủ nghĩa bảo hộ nổi lên ở tất cả các nƣớc; dự luật này là điển hình của chủ nghĩa bảo hộ, quy định chỉ đƣợc mua hàng sản xuất trong nƣớc đối với các công trình phục hồi kinh tế sử dụng các gói kích thích của chính phủ.
Dự luật này tác động mạnh nhất đến Canada. Nhiều xung đột khác còn liên quan đến tình trạng nhập cƣ và vận tải hàng hoá giữa ba nƣớc Bắc Mỹ. Bài viết “Một số nhân tố tác động đến quan hệ thƣơng mại Canada - Mỹ trong thập kỷ qua” của nghiên cứu sinh, đăng tải trên Tạp chí châu Mỹ ngày nay, số 3 năm 2012 phân tích các nhân tố khách quan cũng nhƣ chủ quan tác động đến quan hệ thƣơng mại hai nƣớc. Đặc biệt tƣơng đồng, khác biệt giữa kinh tế Canada và Mỹ, khả năng bổ sung lẫn nhau giữa hai nền kinh tế tác động mạnh đến quan hệ thƣơng mại giữa hai nƣớc.
Bài viết này mới chỉ dừng lại ở phân tích các nhân tố chủ yếu tác động đến quan hệ thƣơng mại Canada - Mỹ mà chƣa đề cập đến thực trạng và triển vọng quan hệ. Thực trạng quan hệ thƣơng mại Canada - Mỹ đƣợc thể hiện trong bài tạp chí “Thực trạng quan hệ thƣơng mại Canada - Mỹ trong thập kỷ qua” của nghiên cứu sinh đăng tải trên Tạp chí châu Mỹ ngày nay, số 9/2012. Quan hệ trong lĩnh vực kinh tế thƣơng mại giữa Canada và Mỹ là thể hiện rõ nét nhất của quy mô hội nhập sâu rộng giữa hai nƣớc.