Độ đáo cùa mặt bánh đà được kiểm tra bằng đổng hồ so như trẽn hình 5. Bánh dà vẫn để ờ trạng thái lắp với trục khuỷu và đặt trèn các gối đỡ trên thân máy hoặc trẽn 2 khối V cô' định không cho trục di chuyên dọc và quay trục khuỷu để kiếm tra. Độ lắc cùa kim đổng hổ phán ánh độ đáo của mặt bánh đà. Độ đảo cho phép là 0,25 mm trẽn 500 mm dường kính bánh đà, lức là nếu mũi rà của đồng hồ so tì lên mặt bánh đà cách tâm 250 mm và dộ lắc cùa kim nhò hơn 0,25 mm khi quay bánh dà là dược.
Bánh đà có bé mặt không phiing, đáo hoặc biến cứng được sửa chữa bang phay hoậc mài lại bề mặt dể đạt dược tiêu chuẩn kỹ thuật yêu cẩu. Vành răng hóng được tháo ra và thay vành răng mới. Vành răng được ghép căng với vành bánh đà nên đẽ tháo nó cần đốt nóng vành răng bằng mó đèn khò den nhiệt độ không quá 250"C rồi dùng búa gõ nhẹ và đểu xung quanh để tháo ra. Lắp vành răng mới bằng cách ép trên máy ép.
Trong sửa chữa lớn, sau khi gia cõng sửa chữa irục khuỷu và bánh đà, người ta phái lắp bánh đà lẽn trục khuỷu rồi kiểm tra dộ mất càn băng tĩnh và mát cân bằng động cùa hệ thống trẽn máy kiểm tra cân bảng. Nếu có hiện tượng mất cân băng lớn. người la sẽ khắc phục bằng cách khoan bớt kim loại gây mát cân bảng ớ trẽn đỏi trọng và bánh đà. KIỂM TRA, SỬA CHỮA BẠC LÓ T Hư hỏng chù yếu cùa các bạc lót ổ trượt trong dộng cơ như bạc lót ố trục chính, bạc lót đầu to thanh truyền, bạc lót đầu nhỏ thanh truyền và bạc lót ố trục cam là mài mòn do ma sát và tải trọng.
Sự mòn lớn của bạc lót sẽ làm tăng khe hờ lắp ghép giữa bạc và cổ trục gày tụt dầu và giảm áp suất dầu bôi trơn, do đó làm cho điều kiện ma sát trờ lên tồi tệ, tăng va đập và có thê’ dẫn đến phá hóng bạc và cổ trục nếu không được kiểm tra, sừa chữa kịp thời. Nói chung, các loại bạc lót ổ trong động cơ đểu được thay mới khi động cơ vào sửa chữa lớn theo chu kỳ sửa chữa. Các loại bạc mới đều có các kích thước đường kính trong phù hợp với các cốt sửa chữa khác nhau cùa trục khuỷu và trục cam. Các trục thường có 3 cốt sửa chữa từ cốt 1 đến cốt 3 tương ứng với các kích thước sửa chữa nhò dần.
Kích thước nguyên thuỷ đôi khi còn được gọi là kích ihước cốt 0 là kích thước danh nghĩa ban đẩu của trục. Kích thước đường kính trong cùa bạc mới luôn lớn hơn kích thước cốt sửa chữa tương ứng cùa cố trục một lượng bằng 75 khe hờ tiêu chuẩn giữa bạc và trục dê dảm bào yêu cầu làm việc. Kích thước tlường kính trong cùa bạc ổ trục cam ứng với các cốt sừa chữa cùa trục thường chênh nhau 0,025 mm, nhỏ dần so với đường kính nguyên thuý, còn cùa bạc ổ trục khuỷu Ihì chênh nhau 0,25 mm. Khi trục được gia công sửa chừa dúng kích thước côt sứa chữa thì chi cần lắp bạc mới có cốt kích thước tương ứng là được Tuy nhiên, cũng có một sô' bạc ổ trục khuỷu đuợc chế tạo dưới dạng bán thành phám có dường kính trong nhỏ hơn đường kính cùa bạc nguyên thuỷ 1,5 mm đế người sứa chữa có the gia công lại mặt trong đến kích thước sửa chữa cần thiết, đảm bao khe hờ giữa bạc và trục (khe hở bôi trơn) là 0,025 - 0,05 mm cho các cổ trục có đường kính nhỏ hơn 80 mm và 0,05 - 0,075 mm cho các cổ trục có đường kính lớn đến 110 mm.
Việc gia công lại các bạc bán thành phẩm cùa ố trục khuỷu dươc [hực hiện trên m áy doa, dao doa được lắp trẽn trục dài có gối tựa ờ hai dầu. Trước hết, láp các bạc cẩn gia công lên các ổ cùa chúng, vặn chặt các bulông cố định các náp ổ đủ lực quy dịnh, rà gá thân máy trên máy doa sao cho đường tâm trục dao doa trùng với đường tâm cùa các ổ lap bạc cần gia cõng rồi tiến hành doa đến kích thước phù hợp với kích thước sửa chữa cùa cổ trục đám bảo khe hớ yêu cầu. Trong báo dưỡng hoặc sửa chữa nhò liên quan đến các trục và bạc, nếu cẩn thì phái tháo đê kiểm tra các hư hỏng cùa bạc xem bạc còn đàm bào được yẽu cẩu kỹ thuật để làm việc tiếp đến kỳ sửa chữa lớn hay khòng. Khi tháo bạc đẽ kiểm tra nên tháo và kiếm tra từng ổ m ột và sau khi kiểm tra phải gá bạc trờ lại ổ cũ cùa nó luôn để tránh lắp lẫn giữa các ổ.
Các bạc lót có thể có hư hòng ở phán vấu định vị trên vỏ bạc hoặc hư hỏng ờ phẩn hợp kim chống m òn. Nếu quan sát vò bạc lót và bể m ặt ma sất của bạc lót thấy vấu định vị vẫn còn nguyên, bể mặt ma sát trơn tru và nhẵn bóng chứng tỏ hiện tượng mài mòn bình thường. T rong trường hợp này, cẩn kiểm tra khe hờ giữa bạc và trục. Đối với các bạc 2 nừa cùa ổ trục chính và đầu to thanh truyền cần kiểm tra thèm độ dõi lắp ghép giữa bạc và thân ổ.
Việc kiểm tra khe hờ lắp gh ép bạc và trục có thể được thực hiện bang cách dùng dưỡng chàt dẻo như đã nói ờ phần H ìn h 5. Đổ gá kiếm tra nhanh dỏ dôi của thân bạc l ó l trục khuỷu hoặc do trực tiếp đường 1- thân đổ gá: 2- bạc lót kiêm tra: 3- v-ẵiu cỏ kính cùa cổ trục và đường kính bạc khi định; 4- đổn g hổ so: 5- dâu l ỉ u cu a đó nò hổ lắp trong ổ. Nếu khe hớ ứng với mỗi s o: 6- VUU ép m ang đốn g h ỏ v \ 7- p u - i o n ó xi lanh khí nén: 8- khí nén 76 10 mm đường kính trục mà nhỏ hơn 0,01 mm là được. Đ ể đảm bào độ dôi lắp ghép bạc trong ổ thì khi dặt nửa bạc lén thân ổ hoặc nắp ổ hoặc đồ gá kiêm tra (hình 5.4-1), bạc phải nhô lên khỏi bề m ặt lắp ghép m ột độ dôi A = 0,02 - 0,05 mm.
Nếu trị số này quá nhò sẽ không đảm bảo độ cứng vững cùa bạc trong ố, nếu quá lớn sẽ gãy biến dạng m éo bạc khi lắp vào trong ổ. Với bạc liền của trục cam phái dê nguyên nó trong ổ để kiểm tra, khi đã ép bạc ra khỏi ổ thì phải thay mới. Bạc lót có thể hư hòng ờ dạng vấu định vị bị gãy, lớp hợp kim chống mòn bị tróc rỗ hoặc bị bóc đi. Hiện tượng tróc có thế do bạc lắp trong ổ không đù độ cứng vững hoặc do độ ô van quá lớn, còn hiện tượng bóc lớp hợp kim chống mòn là do thiếu dầu bôi (rơn trên bể mặt hoặc do khe hớ bôi trơn quá nhò.
Nếu dầu bôi trơn bấn, có nhiều hạt cứng thi mặt ma sát cùa lớp hợp kim chống m òn có thể bị xước thành gờ. Đôi khi lớp hợp kim bề mặt còn bị ăn mòn hoặc xâm thực do trong dáu bôi trơn có chứa các chất ăn m òn hoặc nước. Khi kiếm tra, nếu quan sát thấy bé mặt ma sát cùa bạc lót c ó ‘các hiẹn tượng hư hòng này thì phải thay bạc mới. Khi phải thay bạc mới ờ một cổ trục nào đó nên thay luôn bạc ớ các trục khác để dàm bào khe hờ bạc và trục ở các ổ đều nhau dê tránh tình trạng trục bị uốn.
Đối với bạc chặn di chuyển dọc trục cùa trục khuỷu cũng cần phải kiểm tra đặc điểm bé mặt ma sát như đối với bạc cổ trục, kiếm tra khe hớ giữa bạc và vai cổ trục bằng cách dùng thước lá hoặc dưỡng hoặc dùng dồng hổ so (hình 5. Việc kiểm tra bằng thước lá hoặc dưỡng được thực hiện bầng cách dùng đòn bẩy để bẩy ép trục khuỷu về một bên bạc chặn rồi đo khe hờ giữa bạc chặn bên kia và vai cổ trục. Nếu kiếm tra bằng đồng hồ so thì cho mũi rà cùa động hổ tì vào đầu trục, dùng đòn bầy bẩy trục khuỷu dịch chuyển về phía trước và phía sau, đồng thời quan sát độ dịch chuyển của kim đổng hồ giữa hai vị trí, khoảng dịch chuyển của kim đổng hổ chính là khe hờ giữa bạc chặn và vai trục. Khe hờ cho phép là 0.1 - 0,2 mm đối với cổ trục nhỏ hơn 80 mm và 0,2 - 0,25 mm dối với cổ trục lớn hơn 80 mm.
Kiềm tra độ rơ dọc cùa trục khuỷu bàng thước lá (a) và bằng đổ ng hổ so (b) I - thước lá hoặc dưỡng; 2- bạc chặn; 3- đổng hồ so; 4- dẩu đo của đồng hổ so. 77 Một số điểu cẩn chú ý khi lắp bạc lót: - Kiểm tra độ dôi lắp ghép giữa bạc và ố. - Kiểm tra khe hờ giữa bạc và trục, khe hờ giữa bạc chận và trục đẽ kháng định các khe hờ này nằm trong phạm vi cho phép. - Rừa sạch và thổi khô bạc.
Chú ý không sờ tay vào bề mặt bạc. - Nếu dùng lại bạc cũ thì phải lắp đúng ổ của nó, không được lâp lẫn bạc giữa các ổ và cẩn lắp đúng vị trí nguyên thuv cùa nó. - Kiểm tra vị trí lỗ dầu trên bạc và trên thân ổ để sao cho khi lắp bạc vào các lỗ phải trùng nhau. - Cho dầu bôi trơn vào các bể mật bạc.
- Khi lắp nắp ổ lẽn thân ổ, cẩn vận bulông bàng tay trước, dùng cán búa gỗ gõ cho nắp ổ vào đúng vị trí, sau đó mới xiết chặt. KIỂM TRA , SỨA CHỮA THANH TRUY ỂN Do chịu tải trọng nén và uốn lớn, thanh truyền có thể có các hư hỏng trong quá trình làm việc như gãy. biến dạng cong, xoắn thân thanh truyền, m òn các bé mặt lắp bạc đẩu nhò và bề mặt lăp bạc đầu to, hòng lỗ láp bulông thanh truyền hoặc bé mặt lắp ghép của nắp đầu (o và thân thanh truyền. Trong các động cơ cao tốc.
nếu động cơ chạy vượt quá tốc độ vòng quay cực đại Irong thời gian dài có thế làm cho đẩu to thanh truyền bị biến dạng do bị kéo theo phương dọc thăn thanh truyền, làm cho lỗ lắp bạc đẩu (o bị méo thành hình ó van. Hiện tượng gãy thanh truyền trong quá trình làm việc rất nguy hiếm vì có thê gày vỡ xilanh và nắp xilanh.