CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT VỀ THUẾ VÀ THẤT THU THUẾ 1. Khái quát về thuế 1.1 Khái niệm và các đặc trưng của thuế a) Khái niệm về thuế Thuyết thuế ước cho rằng thuế là đối giá của hàng hóa và dịch vụ công cộng do chính phủ cung cấp, là kết quả tất yếu của một khế ước mặc định giữa nhà nước và dân chúng. Tổng số thuế do sự khẳng địng giữa một bên là Chính Phủ, một bên là đại biểu của dân chúng( Quốc Hội). Một dạng khác của thuyết thuế ước là thuyết tương đẳng, cho rằng thuế là một phần tài sản công dân đóng góp để yên hưởng phần còn lại.
Mặc dù thuyết thuế ước và thuyết tương đẳng giải thích rõ nguồn tài trợ công chi và chỉ ra mối quan hệ mật thiết giữa nguồn thu với nhiệm vụ chi ngân sách nhà nước, song trên thực tế chưa bao giờ xảy ra tranh luận về “giá” giữa dân chúng và Chính Phủ. Hơn nữa cùng với sự hoàn thiện về kỹ thuật đánh và thu thuế, ý niệm công cộng đối giá dịch vụ của thuế ngày càng bị lu mờ. Đến khi nhà nước đánh thuế trên toàn thể hàng hóa và dịch vụ, ta khó có thể nhận ra ý niệm đó. Lý thuyết này phát triển thành thuyết trái khoản xã hội.
Thuế không còn mang tính khế ước hay đối giá dịch vụ nữa mà là một món nợ xã hội được hiểu dưới góc độ vật chất, tức là bắt buộc đóng góp theo khả năng, mà khả năng thì khó minh định, cho nên chế độ thuế phải dựa trên những căn bản pháp lý dẫn xuất từ sự tán đồng trực tiếp hoặc gián tiếp của người chịu thuế(thôn qua Quốc hội). Thuyết này đối lập và không cần che đậy như thuyết thuế ước và thuyết tương đẳng, mà chỉ rõ chính sự cần thiết và quyền lực của nhà nước quy định sự tồn tại của thuế. Nó còn cho thấy sự chuyển biến từ quan điểm đánh thuế thep lợi ích hưởng thụ sang quan điểm đánh thuế theo khả năng đóng góp và đề cập nhiều đến ý thức công dân về nghĩa vụ nộp thuế. Tiếp đó, thuyết quyền lực nhà nước ra đời và khẳng định, nếu đã thừa nhận nhà nước thì phải thừa nhận nộp thuế là bổn phận của công dân đối với nhà nước.
Mọi người góp vào chi tiêu công cộng theo khả năng của mình và sự đóng góp đó mang tính cưỡng bách mà không dựa trên lòng hảo tâm hay tự nguyện. Nhưng xét cho cùng, người dân nộp thuế để phục vụ cho nhu cầu chi tiêu của chính mình thông qua hoạt động của nhà nước. Ý niệm bị cưỡng bách đóng góp và ý niệm tự đóng góp phần nào dung hòa với nhau.Thuyết này được các học giả hiện đại thể hiện tương đối phong Trang 1 phú. Seligman định nghĩa thuế là” sự đóng góp cưỡng bách của mỗi người cho chính phủ để trang trải các chi phí vì quyền lợi chung, không căn cứ vào các lợi riêng được hưởng”.
Taylor định nghĩa tương tự như E. Seligman, nhưng ông sửa đổi đôi chút như sau:” Thuế là sự đóng góp cưỡng bách của mỗi người cho chính phủ để trang trải các chi phí vì quyền lợi chung mà ít căn cứ vào lợi riêng được hưởng”. Giáo sư Nghiêm đằng cho rằng” Thuế là một sự cung cấp tiền tài trực tiếp, đòi hỏi các công dân bằng phương pháp quyền lực, để tài trợ các gánh nặng công cộng- sự cung cấp này có tính cách chung cục và không có đối giá”. Simon James và Christopher Nobes định nghĩa thuế gọn hơn” Thuế là một khoản thu do nhà nước thực hiện mà khôn có một sự hoàn trả nào”.
Có nhiều khái niệm về thuế. Tuy nhiên cho đến nay các khái niệm đều thừa nhận: thuế là một khoản nộp của các tổ chức và cá nhân cho nhà nước theo luật định, thuế gắn liền với sự tồn tại của nhà nước. Trong nền kinh tế tự do cạnh tranh, thuế chỉ đơn thuần là công cụ tạo nguồn thu cho nhà nước; đến nền kinh tế hiện đại, thuế còn tham gia vào quá trình điều tiết nền kinh tế. Chính sách thuế có tác dụng khuyến khích đầu tư; hướng dẫn sản xuất, tiêu dùng trongg nước; điều tiết hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu; điều tiết thu nhập giữa các tầng lớp dân cư; tác động đến gía cả thị trường và qua đó được nhà nước sử dụng để can thiệp vào những biến động của giá cả thị trường.
b) Các đặc trưng cơ bản của thuế Tính chất bắt buộc Thuế thể hiện quan hệ kinh tế- chính trị giữa nhà nước và các tổ chức, cá nhân; nhà nước với quyền lực của mình, ban hành các luật thuế và bắt buộc các tổ chức và cá nhân phải thực hiện trách nhiệm của mình để ổn định các nguồn thu cho ngân sách nhà nước, luật thuế quy định các hình thức xử vi phạm thích ứng với các hành vi vi phạm. Trên thực tế, người dân mặc nhiên thừa nhận nhà nước và quyền lực nhà nước; từ đó mặc nhiên thừa nhận trách nhiệm nộp thuế. Tuy nhiên, do tác động của hệ thống thuế, hành vi của người nộp thay đổi và kết quả là hiện tượng trốn thuế và tránh thuế luôn tồn tại trên thực tế. Điều này cho phép nhận định: nhà nước không chỉ nên thu thuế bằng quyền lực của mình mà nên chú trọng hơn đến cơ sở kinh tế của thuế.
Trang 2 Thuế không hoàn trả một cách trực tiếp Nộp thuế thể hiện sự chuyển dịch quyền sở hữu thu nhập thông qua thuế, thu nhập từ các tổ chức và cá nhân chuyển sang nhà nước. Nhà nước có toàn quyền sử dụng thu nhập từ trong tay mình. Số thu từ thuế được nhà nước đưa vào cân đối chung cho các nhu cầu chi tiêu của ngân sách nhà nước. Tuy nhiên trong xã hội dân chủ việc sử dụng tiền thuế của nhà nước phải chịu sự giám sát của người dân và các tổ chức chính trị.
Mặc dù không hoàn trả một cách trực tiếp, chi tiêu của nhà nước, đặc biệt là các khoản chi phúc lợi xã hội, góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân; các khoản chi này được tài trợ bằng thuế. Như vậy, một cách gián tiếp, nhà nước hoàn trả cho người dân qua chi tiêu từ thuế. Tuy nhiên cần lưu ý, không có sự ngang bằng nhau giữa đóng góp vì lợi ích chung và quyền lợi riêng được hưởng. Thuế dùng vào chi tiêu công Tổng số thu về thuế được đưa vào ngân sách nhà nước và cân đối chung nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu trên nhiều kĩnh vực kinh tế xã hội.
Suy cho cùng, chi tiêu từ thuế của nhà nước đều phục vụ cho lợi ích cộng đồng xã hội. Ngay cả chi tiêu cho bộ máy quản lý nhà nước( chi quản lý hành chính không đơn thuần chỉ nhằm duy trì hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước; bởi lẽ, các cơ quan nhà nước cũng cung cấp nhiều dịch vụ hành chính phục vụ cho nhu cầu của người dân nói chung. Xét về bản chất, thuế là một hình thức Nhà nước tái phân phối thu nhập do doanh nghiệp và dân chúng sáng tạo, hình thành nên thu Ngân Sách Nhà Nước. Xét về hiện tượng, thuế là quá trình chuyển dịch một chiều thu nhập từ khu vực tư vào khu vực công, biến một phần chi tiêu riêng thành chi tiêu vì lợi ích chung.2 Bản chất và vai trò của thuế trong nền kinh tế thị trường a)Bản chất của thuế Thu thuế thể hiện mối quan hệ giữa nhà nước và các tổ chức, cá nhân.
Trước hết là quan hệ phân phối thu nhập. Thu nhập từ các tổ chức và cá nhân, chuyển thành thu nhập của nhà nước, góp phần tạo lập quỹ ngân sách nhà nước. Trang 3 Quá trình tạo lập quỹ ngân sách nhà nước qua công cụ thuế nhằm tạo lập quỹ ngân sách nhà nước, suy cho cùng là nhà nước phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm quốc nội(GDP). Như vậy có thể khái quát bản chất của thuế như sau: thuế thể hiện quan hệ kinh tế giữa nhà nước và các tổ chức cá nhân trong xã hội; phát sinh trong quá trình nhà nước- bằng quyền lực của mình- tham gia phân phối tổng sản phẩm quốc nội; nằm tạo lập quỹ ngân sách nhà nước, đáp ứng nhu cầu chi tiêu của nhà nước.
Cơ sở chính trị- xã hội dẫn đến sự ra đời của thuế là quyền lực của nhà nước; cơ sở kinh tế, mang ý nghĩa quyết định đến số thu thuế chính là sự tăng trưởng của nền kinh tế. Điều này yêu cầu nhà nước phải xây dựng chính sách thuế trong mối quan hệ với sự tăng trưởng của nền kinh tế. Cần đặc biệt lưu ý đến những tác động tích cực của thuế đối với sự tăng trưởng của nền kinh tế, trên cơ sở đó tạo khả năng cho việc tập trung nguồn thu nhiều hơn vào ngân sách nhà nước. c) Vai trò của thuế trong nền kinh tế thi trường Huy động nguồn tài chính, đáp ứng nhu cầu chi tiêu của nhà nước Đây là vai trò mang tính lịch sử, gắn với sự ra đời của thuế và ngày càng được khẳng định.
Tuy nhiên cùng với sự phát triển của đời sống kinh tế- xã hội, khi sử dụng thuế để tạo lập thu nhập cho mình, nhà nước cũng nên chú trọng đến việc chi tiêu từ thuế, sao cho chi tiếu công từ thuế phải được sự đồng thuận của xã hội nói chung. Để thực hiện tốt vai trò huy động nguồn tài chính, khi xây dựng chính sách thuế, phải đảm bảo các yêu cầu: Bao quát các nguồn thu có khả năng động viên cho ngân sách nhà nước, trên cơ sở xác định hợp lý tỷ lệ động viên so với GDP. Khi thực hiện yêu cầu này cần lưu ý đến khả năng chịu thuế của người dân. Phải chú trọng đến khía cạnh công bằng trong điiều tiết thu nhập, khi xây dựng và thực hiện chính sách thuế, từ đó thực hiện sự bình đẳng giữa tất cả các đối tượng chịu sự điều tiết thu nhập của thuế.
Chính sách thuế phải tác động tích cực đến các yếu tố giúp tăng trưởng nến kinh tế xã hội nói chung. Cần lưu ý đến trường hợp ưu đãi về thuế suất hay miễn giảm; Trang 4 các trường hơp không chịu thuế; hình thức thuế suất thích hợp với yêu cầu của từng loại thuế. Qua đó tạo điều kiện thuận lợi nhất cho sự phát triển các hoạt động kinh doanh, phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế xã hội đã hoạch định.